Trong 4 tập thơ đã xuất bản những lần trước, đặc biệt là tập thứ hai (Quê hương và nỗi nhớ) và tập thứ tư (Màu áo khúc quân hành) Lời bạt đã thể hiện những nội dung cơ bản nhất về hoàn cảnh xuất thân, quá trình chiến đấu, học tập, công tác, cái “nghiệp” thơ đến với tôi từ bao giờ, vì sao tôi yêu thơ, làm thơ và tiếp tục viết như thế nào v.v...
Tập thơ thứ năm này, xin khái quát một số nét cơ bản nữa để làm sâu sắc thêm những nội dung đã nêu ở các tập thơ trước.
Thật vậy, mùa Thu năm nay (2021) là tròn 50 năm tôi xa nhà, xa quê hương, xa mái trường thân yêu, xa gia đình, xa bố mẹ, bạn bè và những người thân, tình nguyện lên đường nhập ngũ, chống Mỹ cứu nước. Khi ấy tôi chưa đầy 18 tuổi, vừa tốt nghiệp Trường phổ thông cấp III (hệ 10 lớp) huyện Nam Sách, tỉnh Hải Hưng (tháng 5/1971).
Ở cái tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới” theo cách nói của ông bà ta, cái tuổi phần nào còn ngây thơ, non nớt của một chàng trai mới lớn ở vùng quê thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, chưa một lần “ra khỏi” luỹ tre làng:
Chưa một lần cầm tay người con gái
Chưa một lần được thổ lộ lời yêu
Quen lao động và miệt mài đèn sách
Bên mái nhà tranh, cày cuốc sớm chiều...
(Tuổi đôi mươi)
Được trở thành anh bộ đội trong bộ quân phục màu xanh lá mạ còn thơm mùi vải mới, trên đầu đội mũ gắn ngôi sao lấp lánh mà cảm thấy trong lòng trào dâng niềm vui, niềm tự hào, sung sướng.
Tôi được biên chế về Đại đội 3, Tiểu đoàn 646, Trung đoàn 2, Quân khu Tả ngạn. Tiểu đoàn chúng tôi toàn lính mới là người Hải Dương (Hải Hưng).
Sau khi về đơn vị được hơn 1 tháng, cùng anh em học tập, rèn luyện..., tôi được cấp trên quyết định cho giữ chức Tiểu đội trưởng, nhưng quân hàm thì vẫn Binh nhì như những anh em khác cùng nhập ngũ. Đây là trường hợp duy nhất trong đại đội khi là Tiểu đội trưởng mà “không cần” qua Trường Hạ sĩ quan. Có lẽ thời đó là như vậy!
Sau gần 4 tháng huấn luyện về điều lệnh quân đội và kỹ - chiến thuật bộ binh, đơn vị tôi được lệnh hành quân thẳng vào chiến trường Trị - Thiên - Huế, vì nơi đây hơn lúc nào hết đang cần bổ sung thêm lực lượng, vì nơi đây đang ngày đêm không lúc nào ngớt tiếng đạn bom, sự hy sinh anh dũng của chiến sĩ và đồng bào ta, một chiến trường đầy ác liệt, nơi đầu tuyến lửa...
Tại một con suối cạn ở phía sau Động Ông Do (Quảng Trị), đã bị máy bay B52 địch ném bom đánh phá tan hoang, phía bên kia Động là tiếng máy bay AD6, A37 của địch gầm rú, quần thảo bổ nhào dội bom lên “chốt” của bộ đội ta đang chiếm giữ, tôi được kết nạp vào Đảng khi tuổi đời vừa tròn 18 (9/5/1972).
Thực lòng mà nói, dù đã trở thành đảng viên, nhưng thời gian từ ngày nhập ngũ đến lúc đó chưa đầy 6 tháng, vì vậy kiến thức và sự hiểu biết trong quá trình học tập, rèn luyện, phấn đấu của bản thân còn rất khiêm tốn, chủ yếu là sự thể hiện lòng yêu nước, tinh thần, ý chí quyết tâm của một người lính trẻ:
...Chưa hiểu rõ thế nào là lý tưởng
Tình yêu quê hương, đất nước, mộng mơ
Truyền thống ông cha qua từng trang sử Ý chí quật cường qua mỗi vần thơ...
Và:
... Chỉ biết khi Tổ quốc cần, kêu gọi
Tuổi đôi mươi “gác” đèn sách lên đường
Trong gian khổ, hiểm nguy không chùn bước
Chiến đấu, hy sinh bảo vệ quê hương...
(Tuổi đôi mươi)
Đoàn 7051 (phiên hiệu của Tiểu đoàn 646 - Trung đoàn 2 - Hải Hưng lúc đi B), sau khi bắt được liên lạc và chính thức giao quân cho Sư đoàn 324, Quân khu Trị - Thiên (tại Mặt trận Trị - Thiên - Huế), tôi (quê huyện Nam Sách) cùng 4 anh em khác (anh Vinh quê huyện Nam Sách, anh Tài quê huyện Kim Thành, anh Quyết quê huyện Chí Linh, anh Vinh quê huyện Kim Thành) được chọn và giao nhiệm vụ về Đại đội Trinh sát của Trung đoàn 1, Sư đoàn 324.
Một cuộc sống hoàn toàn mới lạ đối với những người lính “tò te” như chúng tôi khi bắt đầu ở chiến trường. Lính cũ trong Đại đội chủ yếu quê ở các tỉnh: Vĩnh Phú, Nghệ Tĩnh, Hà Nam Ninh, Quảng Ninh, Hà Sơn Bình...
Chưa một lần được học tập về kỹ - chiến thuật trinh sát nên lính cũ bảo gì, làm gì, làm như thế nào thì chúng tôi “bắt trước” và làm theo như thế! Cuộc sống chiến đấu ngoài mặt trận đòi hỏi chúng tôi phải nhanh chóng làm quen và thích ứng..., nếu không sẽ khó lòng hoàn thành nhiệm vụ được giao, thậm chí còn đe doạ bị “mất gáo” nữa. Có lẽ trên đường đời, học trong cái “trường” này là có sự tiến bộ nhanh nhất, thiết thực nhất và có hiệu quả nhất!
Thời gian trôi đi, chiến trường ngày càng khốc liệt hơn bởi bên địch là “đạn sắt” còn bên ta là “gan vàng” và hết trận đánh này đến trận đánh khác, hết mùa khô đến mùa mưa, hết năm này qua năm khác; trận đánh sau ác liệt hơn trận đánh trước và năm sau khó khăn, phức tạp, nhiệm vụ càng nặng nề hơn năm trước... Cứ như vậy, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, học tập tích luỹ kinh nghiệm chiến đấu, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao rồi cũng rắn giỏi hơn, trưởng thành lên.
Không ai nói ra hay tâm sự điều gì, nhưng những suy nghĩ trong mỗi con người thì có thể “gói gọn” bằng một câu: Không còn con đường nào khác! Đúng là như vậy:
... Ôi! Cái tuổi đôi mươi trong trắng thế
Kẻ thù buộc ta cầm súng tiến công
Dẫu thân mình phải phơi đầu ngọn cỏ
Quyết giữ gìn trọn gấm vóc non sông....
(Tuổi đôi mươi)
Thời gian thấm thoắt đã bước sang năm thứ tư ngoài mặt trận, giáp mặt với quân thù, chúng tôi với khuôn mặt gầy guộc xanh xao, nhưng bù lại là tư thế tác phong, sự quen thuộc với địa hình, phương thức tác chiến, cách bám địch, đánh địch. lại rất chững
chạc, trở thành người Chiến sĩ Quân Giải phóng thực thụ từ khi nào không ai để ý nữa, anh em trong đơn vị quen gọi là lính cũ ở chiến trường.
Đến gần cuối cuộc chiến tranh chống Mỹ (mùa Xuân 1975), anh Vinh (Nam Sách), anh Tài đã hy sinh, anh Quyết bị thương ra Bắc, còn anh Vinh (Kim Thành) là người thứ tư và tôi là người cuối cùng (trong số 5 anh em) cũng bị thương và ra Bắc khi đến gần Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Trong chiến tranh, nhất là những người lính tại mặt trận, khi phải thường xuyên ngày đêm đối mặt với quân thù thì sự hy sinh, mất mát là điều không thể trảnh khỏi và đã trở thành khái niệm “bình thường” đối với họ.
Thật khó có thể cắt nghĩa, rằng vì sao mình lại còn sống trở về? Có lẽ là sự may mắn! Vì ông bà ta thường ví von hình ảnh: “Hạt gạo trên sàng”. Trong thực tế, nói không ngoa, có những lúc, những nơi, những trận đánh còn khốc liệt hơn thế nhiều: “Hạt gạo trên xảo”.
Từ chiến trường còn đang mịt mùng khói lửa..., sau khi được sơ cứu, chữa trị ở Phẫu 24 (Đại đội 24) của Trung đoàn 1, rồi Phẫu 24 (Tiểu đoàn 24) của Sư đoàn 324, Quân y Viện 43 của Quân đoàn 2, Bệnh viện Quân y 68 của Quân khu Trị - Thiên, tôi được chuyển ra Bắc để tiếp tục điều trị vết thương.
Tôi còn nhớ như in cái đêm đầu tiên ra đến đất Bắc ở CT14 (Trạm chuyển thương 14), ngủ trên chiếc võng dù mắc vào các cọc có mái che mỏng bằng lá cỏ của một chợ tạm ở Hồ Xá thuộc Khu vực Vĩnh Linh(*).
Mặc dù trời mùa hè nóng bức và có rất nhiều muỗi, nhưng chúng tôi vẫn ngủ ngon. Đến khoảng gần 2 giờ sáng, bỗng có tiếng trẻ sơ sinh, cách chỗ chúng tôi không xa ọ ẹ, ọ ẹ..., rồi khóc to hơn. Tôi chợt tỉnh giấc mà thấy xúc động, bâng khuâng. Ôi! Sự sống đã hồi sinh, tương lai của một thế hệ mới ra đời sau chiến tranh. Chỉ có tiếng khóc của một em bé mà thấy rạo rực trong lòng. Hoà bình trên mảnh đất miền Bắc XHCN hiển hiện, khác hẳn với những đêm trường ngoài mặt trận của những năm tháng sống trong bom đạn vừa qua. Còn miền Nam, ngày toàn thắng cũng đang tới gần... Tôi không tài nào ngủ tiếp được nữa, niềm vui chen lẫn sự thấp thỏm mong chờ ngày gặp mặt người thân, bạn bè, đồng chí đồng đội..., rồi nước mắt cứ trào ra, nhịp đập con tim nhanh hơn. Lại càng nhớ thương những đồng đội đã ra đi mãi mãi không về, lại thương nhớ những đồng đội đang đối mặt với quân thù từng giờ từng phút ở những trận đánh cuối cùng để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà. Những khoảnh khắc đặc biệt như vậy cứ còn mãi trong tâm trí người lính, không bao giờ phai mờ.
Sáng hôm sau, tôi ngắm nhìn bốn phía xung quanh thì gần như trống vắng, không nhà cửa, làng mạc, ruộng đồng bị bom, pháo địch cày xới tan hoang, cây cỏ cũng xơ xác, đôi chỗ còn sót lại đoạn gốc cây dừa, gốc cây phi lao, trên đó găm đầy các mảnh bom, pháo. Thế mới biết sự chịu đựng và những hy sinh ở nơi đầu tuyến lửa của nhân dân miền Bắc cũng vô cùng ác liệt. Nhìn quang cảnh trống trải cả một vùng rộng lớn ở đây, tôi chợt nhớ đến 4 câu thơ của Nhà thơ Vương Trọng:
“... Mưa sắp đến rồi gió chạy báo cơn mưa
Không cây cao gió đến gần mới biết
Từ nơi ấy nửa bầu trời trắng nước
Mưa qua sông Bến Hải mưa vào...”.
(Mưa Dốc Miếu, năm 1973)
Đoàn chúng tôi đi trên 5 xe ô tô tải, từ các đơn vị khác nhau, nhưng cùng một chiến trường. Mỗi xe chở gần 30 thương binh, anh nào vết thương nặng hơn thì được nằm trên võng treo hai bên thành xe, còn chúng tôi ngồi dưới thùng xe tựa sát vào nhau nên khi gặp những quãng đường xấu hay ổ gà nếu có xóc thì cũng không bị văng qua văng lại. Thời đó được như thế là tốt lắm rồi!
Ăn sáng xong, chúng tôi lên xe đi tiếp ra các Trạm CT12 (Hà Tĩnh), CT10 (Vinh - Nghệ An), rồi CT8 (Thường Tín - Hà Tây) và từ đây, tuỳ theo sự nặng nhẹ của vết thương, đơn vị trước lúc đi B của mỗi người, sẽ được chuyển tiếp về các Bệnh viện Quân y để điều trị. Tôi được chuyển về Bệnh viện Quân y 110 tại thị xã Bắc Ninh (tỉnh Hà Bắc).
Điều trị ở đây được khoảng gần chục ngày thì tin vui toàn thắng được truyền đi làm nức lòng đồng bào, chiến sĩ cả nước và bạn bè ta ở khắp năm Châu: Sài Gòn được giải phóng, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, giang sơn gấm vóc của ta được thu về một mối, Nam Bắc thống nhất một nhà. Cả Bệnh viện như vỡ oà trong niềm vui sướng, anh em thương binh chúng tôi ôm chặt lấy nhau mừng vui mà nghẹn ngào trong nước mắt; cả thị xã Bắc Ninh vang rền tiếng pháo ăn mừng suốt cả ngày 30/4/1975, cờ hoa tưng bừng đón chào Ngày hội lớn của non sông...
Sau hơn 1 tháng điều trị, vết thương cơ bản đã ổn định, tôi được chuyển về Đoàn An dưỡng 155 của Quân khu Tả ngạn (nay là Quân khu 3). Tại đây, vết thương dần hồi phục và sức khoẻ đã tốt lên, tôi được lựa chọn và cử đi ôn luyện văn hoá tại Trường Văn hoá Bộ Quốc phòng ở Lạng Sơn. Tôi được giao nhiệm vụ và biên chế về Đại đội 21 thuộc Khối Quân y (gồm 3 Đại đội: 21, 22, 23) học để thi Khối B. Sau gần 2 tháng học tập, công tác, do yêu cầu nhiệm vụ, tôi được điều động về Đại đội 11 thuộc Khối Kỹ thuật Quân sự (gồm 3 Đại đội: 11, 12, 13) học để thi Khối A. Sau 5 tháng học tập, công tác, chúng tôi tập trung đi thi đại học (theo chương trình và nội dung thi quốc gia).
Vào cuối mùa hè năm 1976, nhận được tin đỗ đại học khối A, đủ điểm và đủ điều kiện, tiêu chuẩn được cử đi du học tại Liên Xô, lòng tôi trào dâng niềm vui phấn khởi cùng đồng chí đồng đội vì đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trên giao...
Ôi! Những năm tháng sống trong quân ngũ, nhất là thời gian sống, chiến đấu ở chiến trường Trị - Thiên - Huế là chặng đường “dài nhất”, gian khổ và ác liệt nhất của đời tôi, nhưng cũng chính từ đây mà tôi lớn khôn, trưởng thành, vững vàng, nhìn ra và thấu hiểu sâu sắc hơn về lẽ đời, về giá trị cuộc sống, về ý nghĩa và cái giá của hoà bình, tự do, độc lập... Cũng chính điều đó đã tạo nên cho tôi nhiều “nguồn lực” nhất (bao gồm cả nguồn cảm hứng cho thơ ca, văn học) để vượt qua mọi chông gai, thử thách mà đi tới bến bờ hạnh phúc, vinh quang của cuộc đời. Có lẽ “lửa thử vàng” là thế!
Thật thiếu sót nếu như không nói đến vai trò rất quan trọng của thơ và nhạc thời bấy giờ, nó thực sự như là một bên “tay vịn” để Người lính vịn vào cùng với bên kia là vách đá tai mèo của dãy Trường Sơn, để vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, chiến đấu bền bỉ lâu dài cho đến ngày toàn thắng... Chính thơ và nhạc đã nâng bổng tâm hồn, góp phần làm vững chắc hơn đôi chân người Chiến sĩ Giải phóng quân trong những năm tháng không thể nào quên ấy!
Khoảng giữa năm 1977, chúng tôi lên đường sang Liên Xô, sau một thời gian học dự bị, tôi được về Học viện Kinh tế Quốc dân Mát-xcơ-va mang tên Plê-Kha-nốp để học tập...
Quá trình học tập ở nước bạn cũng gặp phải không ít khó khăn, gian khổ, nhất là vấn đề ngôn ngữ; phải “học ngày học đêm” cho kịp yêu cầu của chương trình đào tạo, đuổi kịp bạn bè và phấn đấu cho “bằng anh bằng chị...”, nắm vững kiến thức chuyên môn, văn hoá, khoa học kỹ thuật để khi về nước có thể đóng góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc thân yêu.
Đến kỳ nghỉ hè tôi xin vào lao động (2 ca) ở Nhà máy ô tô Zil 130 và Nhà máy bánh mỳ để gom góp tiền mua đồ dùng, hàng hoá gửi về giúp thêm bố mẹ, vì những năm tháng ấy ở trong nước khó khăn lắm, thiếu thốn lắm, vất vả lắm...
Nói về sự học tập, rèn luyện, phấn đấu ở Liên Xô thời đó thì cũng nhiều khó khăn, vất vả và cũng nhiều kỷ niệm đẹp. Chắc phải hẹn một dịp khác tôi sẽ tâm sự đầy đủ hơn!...
Như vậy, đối với tôi, quá trình từ năm 1971 đến nay có thể khái quát thành 3 giai đoạn chủ yếu:
- Giai đoạn từ năm 1971 đến giữa năm 1977: Chiến đấu, học tập và công tác trong Quân đội Nhân dân Việt Nam
- Giai đoạn từ cuối năm 1977 đến mùa Thu năm 1982: Học đại học tại Học viện Kinh tế Quốc dân Mát-xcơ-va, Liên Xô. Tốt nghiệp Bằng đỏ.
Với gần 300 sinh viên của Khoa Hạch toán và Phân tích hoạt động kinh tế, trong một khoá tốt nghiệp chỉ có 3 người được nhận Bẳng đỏ (trong đó, một nữ sinh viên người Nga và 2 sinh viên Việt Nam là anh Nguyễn Hữu Thái - quê Đại Mỗ, Hà Nội và tôi - quê Hải Dương, đều là bộ đội chuyển ngành đi học); còn lại hầu hết sinh viên của Khoa nhận Bằng xanh; một số ít không đủ điều kiện tốt nghiệp.
- Giai đoạn từ cuối năm 1982 đến nay: Là Cán bộ - Công chức làm việc, công tác tại các cơ quan Đảng, Nhà nước rồi nghỉ hưu theo chế độ. Trong đó, từ tháng 12/1988 đến giữa năm 1990: Thực tập sinh sau đại học và bảo vệ thành công Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Kinh tế (nay là Tiến sĩ Kinh tế) tại Học viện Kinh tế Quốc dân Mát-xcơ-va mang tên Plê-Kha-nốp.
Nhìn lại chặng đường chiến đấu, học tập, công tác liên tục trong hơn 44 năm qua mà cảm thấy bồi hồi xao xuyến, biết bao gian nan thử thách, bao chuyện vui buồn và bao kỷ niệm không thể nào quên. Điều đó như là một nguồn nguyên liệu quý để tạo nên chất “men” của cuộc đời, là “nhựa sống” cho thơ ca của tôi đến hôm mai...
Có được những thành quả và sự trưởng thành đó trước hết là nhờ công ơn sinh thành, chăm lo nuôi dưỡng, dạy dỗ của cha mẹ, ông bà, những người thân trong gia đình; tình cảm và truyền thống của quê hương yêu dấu đã chắp cánh cho con từ tuổi thiếu thời...
Cám ơn Đảng, Nhà nước, Nhân dân, Quân đội đã chăm lo giáo dục, rèn luyện, đào tạo để tôi trưởng thành, vững vàng trước sóng gió đi lên...
Biết ơn và nhớ ơn các Anh hùng, Liệt sĩ đã anh dũng hy sinh cho Tổ quốc và nhân dân vì sự trường tồn của dân tộc để chúng ta có cuộc sống trong hoà bình, hạnh phúc hôm nay.
Cám ơn sự dạy dỗ, giúp đỡ của thầy cô giáo ở các cấp học dưới mái trường XHCN thân yêu và bạn bè, đồng chí đồng đội ở những cơ quan, đơn vị nơi tôi đã chiến đấu, học tập, công tác cùng với họ.
Cảm ơn Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô (nay là Liên bang Nga) đã ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam, trong đó có bản thân tôi và gia đình tôi. Đặc biệt, tôi dành sự trân trọng cám ơn đối với Học viện Kinh tế Quốc dân Mát-xcơ-va mang tên Plê-Kha-nốp, các thầy cô giáo và bạn bè với sự giúp đỡ vô tư, với tình cảm chân thành và trách nhiệm trong học tập, công tác của chúng tôi những năm tháng ở đây.
Chính quá trình chiến đấu, học tập, công tác; những kỷ niệm sâu sắc trên đường đời; lòng biết ơn và nhớ ơn đó đã thôi thúc tôi, khơi nguồn cảm hứng cho tôi với thơ ca và luôn nhắc nhớ tôi phải tiếp tục học tập, rèn luyện, làm việc cho tốt; phải biết sống sao cho “phải đạo” và tiếp tục viết...
Năm sau (2022) tôi sẽ vừa tròn 50 năm tuổi Đảng (9/5/1972 - 9/5/2022). Tôi tự thấy mình luôn học tập, rèn luyện, công tác tốt, hoàn thành mọi nhiệm vụ trên giao; đã giữ đúng lời thề danh dự khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng.
Với ý nghĩa sâu sắc và tình cảm chân thành như vậy, tập thơ thứ 5 “Khoảng trời xanh thẳm” của tôi lần này là sự tiếp nối dòng chảy liên tục không ngừng nghỉ từ 4 tập thơ trước (Đường tới mùa Xuân. - 2009: Quê hương và nỗi nhớ - 2012: Điều giản dị - 2015: Màu áo khúc quân hành - 2018), cùng được ấn hành tại Nhà Xuất bản Hội Nhà văn.
Đây là những trang “Nhật ký” của bản thân về các chủ đề, các lĩnh vực, các khía cạnh và dưới những giác độ khác nhau của cuộc sống trong suốt chặng đường dài từ lúc thiếu thời, quá trình học tập, lao động, chiến đấu và công tác... được ghi chép lại, được khái quát và đúc kết thành những trang đời.
Xin trân trọng gửi tới và tâm sự, chia sẻ cùng người thân, bạn bè, đồng chí đồng đội với những tình cảm sâu nặng, những lời tri ân từ cảm xúc nồng ấm của trái tim mình!
________________
(*) Tháng 5/1976 Khu vực Vĩnh Linh trở thành đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc tỉnh Bình - Trị - Thiên.
Theo Quyết định số 62 - QĐ/CP, ngày 11/3/1977, 3 huyện: Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ hợp nhất thành huyện Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị.
Hà Nội, ngày 18-6-2021 - Tác giả
|
Đọc thêm: Hai bài thơ của Đinh Văn Sùng NHỚ BẾN TRE
Mới một lần anh về với Bến Tre (1) Mải công việc chưa kịp nghe em hát Sóng nước Hàm Luông ngày đêm dào dạt Chạnh lòng anh bao thương nhớ dòng sông.
Bến Tre ơi! Rực rỡ một sắc hồng Vang vọng mãi, bừng sáng lên: Đồng khởi! Yêu biết mấy những Cù lao nắng trải Biết khi nào có dịp ghé thăm đây?
Thời gian ai tính tháng, tính ngày Nỗi nhớ tính: Sự cồn cào da diết! "Dáng đứng Bến tre" ngọt ngào, tha thiết (2) Giai điệu ngân lên xanh mướt bóng dừa.
Dâng trào trong anh ký ức năm xưa Những "đêm trắng" cháy đỏ thành rừng đuốc Cùng cả nước đánh đuổi quân xâm lược Máu thắm đường quê bao trận chống càn.
Trang sử vàng lấp lánh với thời gian Truyền thống anh hùng đồng lòng giữ nước Là điểm tựa để cháu con vững bước Nâng bổng cánh bay vươn tới tương lai.
Nhớ Bến Tre anh nhớ mái tóc dài Nhớ tấm khăn rằn làm nên lịch sử Nhớ Chị Ba-một người con bất tử (3) Trên quê hương của Đồ Chiểu sáng ngời.
Hàm Luông ơi! Dòng sông mến yêu ơi! Hãy tưới mát cho ruộng đồng xứ sở Hãy dâng hiến cho người nguồn tôm cá Mãi ngọt ngào trong tiếng má hời ru...
Hà Nội bây giờ chớm vào mùa Thu Nỗi nhớ Bến Tre quyện hương hồng, hương cốm... Chiều Hồ Tây lại lao xao con sóng Gửi về em nỗi nhớ tự lòng anh.
Hà Nội, ngày 12-13/8/2021 ___________ (1) Lần đầu tiên tôi về công tác tại Bến Tre vào ngày 14-16/6/2015 (Đại hội Đảng bộ thành phố Bến Tre). (2) Tên bài hát của Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý. (3) Cách gọi thân mật tên bà Nguyễn Thị Định, "tác giả" phong trào đồng khởi và là người con của Bến Tre.
GỬI ANH CHIẾN SĨ BIÊN PHÒNG
Bao đêm rồi với cái rét thấu xương Cái nóng bức mùa hè như đổ lửa Còn bao đêm và còn bao đêm nữa Dọc chiều dài biên giới Việt thân yêu.
Bàn chân anh qua mỗi sớm, mỗi chiều Giữa núi rừng, bao dòng sông, con suối... Phong lương khô hay chỉ đùm cơm nguội Nước uống đun sôi hay nước suối bình tông?
Nơi quê nhà cha mẹ, vợ con mong Trong đơn vị đồng đội cùng san sẻ Nắm rau rừng cũng gợi nhiều nỗi nhớ Bởi vì anh người Chiến sĩ Biên phòng.
Biên giới mùa này hoa sim tím nhiều không Và hoa mua có rực thêm màu nhớ Những con suối vẫn mang đầy duyên nợ Những dòng sông vẫn chở nặng phù sa.
Dịch Cô-vít tràn vào trên đất nước ta Mỗi vùng quê, mỗi bản làng, góc phố Mỗi trường học, mỗi nhà ga, xóm thợ... Đều trở thành "điểm nóng", trước hiểm nguy.
Cả nước xuống đường, tiên phong có ngành Y Mỗi bệnh viện trở thành "Quân y" viện Bởi chống dịch bây giờ là "cuộc chiến" Mệnh lệnh tiến công! Không ai được đứng ngoài.
Góc phố, đảo xa, làng bản... "luỹ thép" rồi Quyết đồng lòng đẩy lùi, dập dịch Ý chí càng cao càng nhanh về đích Bảo vệ người dân, mục tiêu "kép" hàng đầu.
Thương anh nhiều, anh Chiến sĩ Biên phòng ơi! Tổ quốc gọi! Tay súng anh vững chắc Chống Cô-vít chẳng khác nào chống giặc Khi trái tim anh mang dòng máu ông cha.
Tâm hồn anh thấm đậm Bản hùng ca Của dân tộc đã trải bao cuộc chiến Đôi mắt sáng, niềm tin, lòng thân thiện Khi hết dịch rồi hoa nở thắm trên môi.
Mến yêu anh nhiều, anh Chiến sĩ Biên phòng của tôi ơi! Đất nước hoà bình mà nhiều đêm không ngủ Sát cánh bên nhau, siết chặt thêm đội ngũ Để mùa Xuân về bên cánh võng, mỗi vành nôi...
Hà Nội, ngày 5-14/8/2021 |