Thờ Thục phán An Dương Vương
Qua những cánh đồng, con đường làng nhỏ quanh co, đền Đức Vua hiện ra trước mắt. Nếp cổ kính lộ dần sau lớp rêu phong nhuốm màu năm tháng.
Theo lý lịch đền Đức Vua, đền ở xã Mỹ Xá, nay là xã Trung Lộc, tỉnh Nghệ An được xây dựng cách đây từ lâu. Các cụ cao niên trong làng cho biết, đền được xây dựng chỉ sau đền Cuông (xã An Châu) một thời gian ngắn, là nơi thờ Đức Vua An Dương Vương - vị vua trị vì nước Âu Lạc (257 – 207 TCN).
An Dương Vương họ Thục, tên húy là Phán, là thủ lĩnh người Tây Âu (liên minh bộ lạc quanh khu vực Cao Bằng ngày nay). Sau khi kháng chiến chống quân Tần thắng lợi, năm 257 TCN, Thục Phán được vua Hùng nhường ngôi. Thục Phán đã hợp nhất hai vùng lãnh thổ Tây Âu và Lạc Việt thành lập nước Âu Lạc, hiệu là An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Hiện nay ở đền Hùng còn có di tích ghi lại sự kiện này, đó là “hòn đá thề” ghi dấu tích về Thục Phán sau khi được vua Hùng truyền ngôi đã thề: ‘‘Noi gương các vua Hùng quyết giữ vững cơ đồ Hùng - Thục”. Việc dời đô từ vùng trung du xuống miền đồng bằng được đánh giá là “một biểu hiện của sự phát triển lớn của dân tộc ta”, thể hiện tài năng lãnh đạo của Đức vua An Dương Vương.
Theo các nguồn liệu, vào năm 179 TCN, cách ngày nay gần 2.200 năm, Triệu Đà ở phía Bắc đem quân sang xâm chiến nước ta. Sau khi cuộc kháng chiến chống quân Triệu Đà thất bại, Thục An Dương Vương cùng công chúa Mỵ Châu lên ngựa chạy vào phương Nam. Đến chân núi Mộ Dạ sát bờ biển (nay thuộc xã An Châu - Nghệ An), Thục An Dương Vương đi xuống biển tự vẫn. Theo truyền thuyết, ngựa của Thục An Dương Vương vượt sông Cấm đến địa phận xã Trung Lộc ngày nay thì kiệt sức và chết.
Biết được ngựa của vua, dân làng đắp mộ và dựng đền thờ, tại đền còn lưu lại câu đối: “Mã tích ức lai, lai mã tích/ Loa thành vạn cổ, cổ loa thành”. Như vậy, đền Đức Vua tại xã Trung Lộc là di tích duy nhất gắn kết và hình thành cùng thời với đền thờ Thục An Dương Vương ở núi Mộ Dạ, xã An Châu ngày nay.
Trải qua các triều đại phong kiến, ngôi đền không chỉ là điểm tâm linh của một làng mà là đền thờ chung của nhân dân cả một vùng rộng lớn, được các triều đại quân chủ ban nhiều sắc phong. Theo bản “Thần tích thần sắc” (bản chép tay lưu tại Viện thông tin khoa học xã hội Hà Nội) thì đền Đức Vua từng được ban 09 đạo sắc bởi các vua triều Lê và triều Nguyễn.
Sớm nhất là đạo sắc của vua Lê Hiến Tông niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44 (năm 1784). Tiếp đến là các đạo sắc của vua Gia Long thứ 9 (năm 1811); Minh Mệnh thứ 5 (năm 1825); Thiệu Tri thứ 2 (1843); Tự Đức thứ 7 (năm 1855); thứ 33 (năm 1881); Đổng Khánh thứ 2 (năm 1887); Duy Tân thứ 3 (năm 1910); và vua Khải Định thứ 9 (năm 1925). Đây là nguồn tài liệu gốc giúp hậu thế hiểu thêm về lịch sử địa phương và cũng là minh chứng cho sự tồn tại lâu đời của đền Đức Vua.
Mong muốn được trùng tu, tôn tạo
Trước đây khuôn viên đền gồm có cổng nghi môn sừng sững hơn cả cổng đền Nguyễn Xí (xã Đông Lộc), có các toà hạ điện, trung điện, thượng điện cùng hai nhà tả vu, hữu vu hai bên. Công trình làm hoàn toàn bằng gỗ lim. Vào trong đền ngẩng đầu là thấy hoành phi, câu đối lộng lẫy. Trong nhân dân vẫn truyền tai nhau đôi câu đối xưa tại đền: Phụng sự tôn thần phủ lại giang sơn chi phận sự/ Sùng cư thổ địa ngưỡng bằng bảo hộ chi huyền công. Nghĩa là: Phụng sự tôn thần ngưỡng mộ giang sơn là phận sự/ Tôn sùng thổ địa, cậy nhờ công bảo hộ thiêng liêng.
Các công trình kiến trúc xưa bố trí hài hoà tựa như ngai rồng của vua ngự vào. Tuy nhiên, đến nay khuôn viên đền hiện chỉ còn hai toà bái đường, hậu cung, giếng hàng và sân vườn.
Bảng dẫn tích đền Đức Vua tại đền viết rằng, “năm Tân Sửu, điện Đức Vua được khởi công xây dựng tòa thượng điện theo kiến trúc nhà tam oai, trùng tường, trùng đấu, khắc chạm tứ linh long, ly, quy, phượng nguy nga, thay cho ban đầu. Đến năm Canh Ngọ tiếp tục xây dựng nhà trung điện nối với nhà thượng điện và cổng tam quan, phía trước có tướng gác, voi chầu.
Hàng năm, cứ đến ngày lễ khai hạ đầu xuân, làng tổ chức lễ hội tại đền rất lớn, kéo dài 2 đến 3 ngày. Trong lễ hội, ngoài lễ rước kiệu đại tế Thục An Dương Vương còn có lễ rước lão cho các vị trong làng đến tuổi chẵn 60, 70, 80. Những năm đại hạn, nhân dân các làng trong vùng rước kiệu thần của làng mình quy tụ về điện Đức Vua làm lễ cầu đáo (cầu mưa).
Về tích xưa của giếng hàng ở trong khuôn viên đền, ông Nguyễn Đình Tân, thành viên Ban quản lý đền Đức Vua kể rằng: Xưa kia, có một thầy địa lý qua đây và đặt cho làng 3 cái giếng, gồm: Giếng hàng, giếng mồ êm và giếng chùa. Hiện 3 giếng vẫn còn. Ông thầy địa lý căn dặn, nếu tát nước dưới giếng thì không được tát 3 giếng cùng một lúc, nếu không làng sẽ bị cháy. Trước, nước ở trong vùng có màu nâu. Nhưng sau khi đặt 3 giếng thì nước lại trong”.
Đền đã ghi lại bao dấu ấn và sự kiện lịch sử quan trọng trong thời kỳ đấu tranh cách mạng của dân tộc. Thời kỳ 1945 - 1947, đền được sử dụng làm trường dạy “bình dân học vụ”. Năm 1947, theo chủ trương chung, tất cả đình, đền trong các làng thuộc xã Trung Lộc ngày nay đều bị dỡ bỏ, trừ thượng điện đền thờ Thục An Dương Vương. Thần vị và đồ tế hợp tự về chùa Lữ Sơn và đền làng Xuân Áng. Riêng tòa hậu cung giữ nguyên để thờ phụng.
Những năm 1954 - 1955, nhà thượng điện đền được chọn làm nơi hội họp của Chi bộ Đảng xã Xá Lĩnh (chi bộ chung của 3 xã Nghi Quang, Nghi Hợp, Nghi Xá cũ). Từ năm 1983 đền là nơi làm việc của hợp tác xã Nghi Xá (cũ). Đền còn là nơi tưởng niệm, thờ những vị thần, những nhân vật có công với dân, với nước, nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân.
Ngoài giá trị lịch sử văn hóa, đền còn có giá trị cao về mặt kiến trúc, khoa học thẩm mỹ. Nằm trên một vùng đất được xem là “địa linh, nhân kiệt”, đây là sự lựa chọn kỹ lưỡng và tính toán của người xưa khi chọn đất xây đền. Xưa kia có bố cục 3 tòa đăng đối, hợp lý, hài hòa. Sân đền rộng rãi, tạo nên sự thông thoáng, thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động lễ hội.. Các đề tài trang trí của di tích đều lấy đề tài “long, ly, quy phượng”, uốn cong vuốt hình đầu rồng, mái lợp ngói mũi hài tạo.
Trao đổi với ông Lê Văn Hòa, Chánh Văn phòng UBND xã Trung Lộc, ông cho biết, di tích đền Đức Vua có niên đại mấy trăm năm, thờ Thục An Dương Vương và có dấu tích ngựa của Ngài. Do yếu tố lịch sử và thời gian, đến nay di tích không còn được nguyên vẹn. Từ năm 2014, sau khi được UBND tỉnh Nghệ An công nhận là di tích thì đền chưa được trùng tu, nhiều hạng mục xuống cấp nghiêm trọng. Trong đó, một số hạng mục được tái tạo không phù hợp, không xứng tầm với một di tích cấp tỉnh.
Để bảo tồn, gìn giữ di tích, nhân dân nơi đây muốn nâng hạng di tích để được cấp lễ hội. Và mong muốn UBND tỉnh Nghệ An, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch quan tâm, trùng tu, nâng cấp lại đền Đức Vua.
Về với đất Trung Lộc, nơi lưu giữ một phần cội nguồn của dân tộc để chiêm ngưỡng vẻ đẹp cổ kính, không gian yên bình và bày tỏ lòng biết ơn đối với vị vua ở thời kì đầu dựng nước và giữ nước - người đã có công đánh Tần đuổi Triệu, lập nên nhà nước Âu Lạc - Thục Phán An Dương Vương. Lịch sử đã đi qua, nhưng những câu chuyện vẫn được truyền tai nhau từ đời này qua đời khác. Ngôi đền linh thiêng vẫn đứng đó, sừng sững, trường tồn cùng thời gian và sự phát triển, đổi thay của quê hương xứ Nghệ.