Mẹ già vẫn nhắc: "Con nhớ tìm anh Đặng Văn Vu"!

Mỗi lần về quê, điều khiến tôi day dứt nhất không phải mái nhà đã cũ thêm, hay hàng cau trước ngõ ngày một thưa bóng, mà là câu nói của mẹ già. Mẹ tôi năm nay đã gần một trăm tuổi. Trí nhớ đã phai nhạt đi nhiều, nhưng có những điều, thời gian không thể xóa khỏi ký ức của một người mẹ. Mỗi lần thấy tôi về, mẹ lại cầm tay, chậm rãi hỏi: Con tham gia Dự án "Sáng kiến tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh", đi khắp nơi tìm mộ, tìm danh tính liệt sĩ cho bao gia đình. Thế sao không tìm mộ cho anh Vu, con bác cả Nghiệp nhà mình?
2-dang-van-vu-2-1782614726.jpg

 

Mỗi lần nghe mẹ nhắc, tôi lại thấy lòng mình nặng trĩu. Bởi trong hành trình đi tìm đồng đội cho bao người, hóa ra ngay trong chính dòng họ mình vẫn còn một người lính chưa biết đang nằm lại nơi đâu?

1- Anh Đặng Văn Vu và những ký ức tuổi thơ còn mãi

“Anh Vu” mà mẹ tôi luôn nhắc đến, tên đầy đủ là Đặng Văn Vu. Anh là con út của bác cả tôi - bác Đặng Văn Nghiệp. Gia đình bác quanh năm sống bằng làm ruộng, tám người con lớn lên giữa những mùa lúa nghèo. Anh Vu sinh ngày 15/10/1950, hơn tôi tám tuổi. Nhưng vì thiếu ăn từ nhỏ nên người gầy gò, thấp bé, nhìn chẳng hơn tôi là bao.

Nhà bác cả và nhà tôi chỉ cách nhau một hàng rào. Chúng tôi cùng chung một ông nội, vừa là anh em, vừa là bạn chăn trâu, cắt cỏ, mò cua bắt cá. Trong ký ức tuổi thơ, anh Vu lúc nào cũng là người đứng ra bênh tôi.

Hễ lũ trẻ làng bên bắt nạt, anh lại xông vào cãi lý, có lần còn đánh nhau đến sứt đầu mẻ trán. Có quả ổi ương, củ khoai vừa nướng hay bắp ngô luộc, anh cũng để dành phần tôi.

Bố mẹ mất sớm, anh Đặng Văn Vu phải ở với người anh cả là Đặng Văn Nghị. Vì thân với anh Vu, nên tôi cũng thường chạy sang nhà anh Nghị chơi, đúng vào bữa cơm.

Mẹ tôi vẫn dặn:

- Lớn rồi, không được đi ăn chực hàng xóm, xấu lắm!

Vậy mà cứ sang đến nơi, gặp mâm cơm đang bày, tôi lại lễ phép:

- Anh Nghị ơi, em vừa ăn cơm rồi ạ...

Anh cả Nghị cười rất hiền:

- Thế có ăn thêm không? Hôm nay có cá kho dưa ngon lắm!

Nghe đến đó thì mọi lời mẹ dặn, tôi quên biến.

- Có ạ! Đợi em về lấy bát với thìa đã nhé!

Thế là tôi chạy một mạch về nhà, mang theo chiếc bát sắt tráng men cùng chiếc thìa đúc của riêng mình. Đi ăn "ké", ăn chực, nhưng nhất định phải dùng "đồ nghề" của mình cho đàng hoàng.

Mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn bật cười. Những bữa cơm nghèo năm ấy, hóa ra lại trở thành những ký ức giàu có nhất của tuổi thơ.

2- "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người"

Cuối những năm sáu mươi, quê tôi - thôn Đồng Điều, xã Tân Trung, huyện Tân Yên (Hà Bắc cũ) - cũng như biết bao làng quê miền Bắc khác, ngày nào cũng rộn tiếng quân hành. Các đơn vị bộ đội về đóng quân, luyện tập rồi lên đường vào Nam chiến đấu, hết đợt này đến đợt khác.

Những người lính sinh viên nổi tiếng như Nguyễn Văn Thạc, Hoàng Nhuận Cầm từng đi qua mảnh đất này. Trong cuốn nhật ký "Mãi mãi tuổi 20", Nguyễn Văn Thạc đã viết về những cánh rừng bạch đàn, về chợ Nhã Nam và những con đường quê mà hôm nay đọc lại, tôi vẫn thấy như thấp thoáng bóng dáng tuổi trẻ của quê mình.

Khi ấy, khẩu hiệu "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người" vang lên ở mọi thôn xóm. Cuối năm 1967, xã tôi lại có đợt tuyển quân mới.

Gia đình bác cả Nghiệp của tôi đã có anh Đặng Văn Vy vào chiến trường, mấy năm chưa có tin tức. Lẽ ra anh Vu chưa đến tuổi nhập ngũ, mới mười bảy tuổi và vừa thi xong Cấp 2 ở Tân Cầu.

3-39ae7e7c-2efc-439d-a960-c9b5588eb421-1782614764.jpg

Nhưng chiến trường đang cần quân. Các đoàn thể đến vận động và nói với gia đình một câu mà cả đời tôi không quên: "Nhà nước vay trước một tuổi." Thế là anh Vu lên đường. (Sau này, Giấy báo tử vẫn ghi thời điểm nhập ngũ là tháng 4 năm 1968.).

3- Đêm đom đóm thả diều và kỷ niệm cuối cùng của tôi với anh Đặng Văn Vu

Đơn vị huấn luyện ngay xã bên. Trước ngày hành quân ra trận, anh Đặng Văn Vu được phép về qua nhà một đêm.

Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh anh trong bộ quân phục rộng thùng thình, chiếc mũ còn mới cứng, khuôn mặt vừa háo hức, vừa hồn nhiên như một cậu học trò.

Anh cười rất tươi:

- Tao có quà cho mày đây!

Tưởng thứ gì quý lắm. Hóa ra là mấy con đom đóm anh bắt được, bỏ trong chiếc lọ mực thủy tinh đã dùng hết.

Những đốm sáng lập lòe giữa đêm quê khiến tôi thích thú vô cùng. Hai anh em mang ghế ra ngồi dưới gốc mít.

Đêm ấy rất làng tôi yên tĩnh, chỉ có tiếng sáo diều ngân nga ngoài bờ hồ. Bất chợt anh hỏi:

- Nếu tao đi "B" rồi chết, không về nữa thì sao nhỉ?

Tôi giật mình, kêu lên:

- Anh nói gì thế! Em sợ lắm. Anh phải về chứ. Anh có người yêu chưa?

Anh cười xòa:

- Chưa. Tao nghĩ linh tinh thôi. Chết đâu có dễ!

Rồi anh bóp vai tôi đau điếng.

- Thôi. Tao ra bờ hồ cùng chơi thả diều sáo đây. Đêm nay thức luôn cũng được. Mai đi rồi.

Đó là đêm cuối cùng tôi được ngồi với anh. Không ai ngờ, cuộc chia tay bình dị dưới gốc mít năm ấy lại trở thành cuộc chia tay mãi mãi.

4- Anh em ruột Vy và Vu gặp nhau trên đường Trường Sơn...

Đêm cuối năm 1968, anh Đặng Văn Vy được ra Bắc điều trị thương. Trên đường Trường Sơn, gặp một đoàn quân đi ngược chiều vào Nam…

Theo thói quen, những người lính chào hỏi nhau:

- Có ai quê Hà Bắc không?

- Có tỉnh Hà Bắc đây!

- Ai ở huyện Tân Yên không?

- Tân Trung, Tân Yên đây!

Rồi cùng hỏi tiếp:

- Thôn nào? Xóm nào? Tên là gì nhỉ?

Đến khi biết cùng là Đồng Điều, Tân Trung, hai anh em ruột mới nhận ra nhau.

Họ bước ra khỏi hàng quân. Ôm chầm lấy nhau bên đường Trường Sơn. Không ai nói được nhiều. Nước mắt cứ thế trào ra...

1-anh-em-gap-nhau-dem-truong-son-1782614804.jpg

Anh Vy chỉ kịp dặn em trai:

- Giữ gìn sức khỏe em nhé. Hòa bình rồi về.

Anh Vu gật đầu:

- Vâng. Anh cũng vậy nhé.

Rồi cả hai lại vội vàng chạy về đội hình hành quân. Không ai biết đó là lần cuối cùng họ gặp nhau.

Sau này, gia đình chỉ nghe được một nguồn tin rằng: Năm 1969 anh Đặng Văn Vu từng điều trị sốt rét ác tính tại Binh trạm 12, thuộc Hướng Hóa, Quảng Trị. Đó cũng là dấu vết cuối cùng.

5- Nhờ Dự án "Sáng kiến tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh"

Giấy báo tử ghi: Đặng Văn Vu, cấp bậc Hạ sĩ, đơn vị C Đặc công T74, hy sinh ngày 11/6/1970 trong chiến đấu. Thông tin chỉ đơn giản như vậy. Không địa điểm mai táng. Không sơ đồ mộ chí. Không một người đồng đội nào trở về kể lại phút cuối của anh.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, gia đình vẫn chưa biết anh đang nằm lại nơi đâu. Có lẽ vì thế mà gần một thế kỷ cuộc đời, mẹ tôi vẫn chưa thể nguôi nhớ. Mỗi lần tôi trở về, mẹ vẫn chỉ có một mong ước: "Nhớ tìm anh Vu về với gia đình."

Đó không chỉ là mong muốn của riêng mẹ tôi. Đó cũng là khát vọng của hàng trăm nghìn gia đình Việt Nam còn người thân chưa tìm thấy sau chiến tranh.

4-cfcc6b24-4f3a-4863-80d4-3bc3d634492f-1-1782614856.jpg

Hưởng ứng "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ", tôi đã gọi điện về quê nhờ cháu Đặng Tùng - gọi tôi bằng ông - chụp lại bức ảnh chân dung cùng những tư liệu ít ỏi mà gia đình còn lưu giữ.

Tất cả sẽ được chuyển tới các đồng sự của Dự án "Sáng kiến tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh" (TTU-VWAI); công bố rộng rãi trên mạng xã hội và đăng tải trên Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển.

Biết đâu, ở đâu đó, vẫn còn một người đồng đội từng chiến đấu cùng anh Vu. Biết đâu, vẫn còn ai đó từng chứng kiến nơi anh ngã xuống. Biết đâu, một mảnh ký ức của ai đó hôm nay sẽ trở thành chiếc chìa khóa mở ra hành trình đưa người lính trở về với quê hương.

Sau hơn nửa thế kỷ, hy vọng tuy mong manh nhưng chưa bao giờ tắt. Bởi trên hành trình tri ân, chúng tôi luôn tin rằng: Không có người lính nào bị lãng quên, chỉ có những người đang chờ được gọi đúng tên và được trở về trong vòng tay Tổ quốc, gia đình và đồng đội.

Hà Nội, 28/6/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên của TTU-VWAI)