Phạm Thị Hồng Thu và “Con đường cổ tích”

Phạm Thị Hồng Thu là tác giả thơ, Hội viên chuyên ngành thơ Hội Nhà văn Hà Nội. “Con đường cổ tích” là tác phẩm văn xuôi đầu tiên của chị. Tập sách phong phú về nội dung, gồm 35 bài, mỗi bài là một “bức họa bằng chữ” trên những con đường đương đại mà chị được rong ruổi.
bia-con-duong-1782998780.jpg
Bìa sách "Con đường cổ tích"

Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều từng nói: “Người ta có thể viết lại lịch sử nhưng ký ức thì không thể”. Thế giới ngày càng “đa biến”, nhiều thế lực đã và đang mưu toan vẽ lại bản đồ thế giới. Tuy nhiên, ngay cả với những quốc gia không còn hiện hữu nhưng ký ức về dân tộc đau thương của những cộng đồng dân cư đó, không bao giờ mất đi.

Ký ức cá nhân nằm trong ký ức dân tộc, là một thành tố của ký ức dân tộc.

Đọc tập truyện “Con đường cổ tích” của nhà thơ Phạm Thị Hồng Thu, càng khẳng định rằng, ký ức sống của mỗi người luôn có sức sống mãnh liệt, và đó là vẻ đẹp luôn hiện hữu, làm đẹp thêm cuộc sống, vốn không thiếu nhọc nhằn. Trong tâm hồn Phạm Thị Hồng Thu có một “con đường” của những “cổ tích”.

Phạm Thị Hồng Thu là tác giả thơ, Hội viên chuyên ngành thơ Hội Nhà văn Hà Nội. “Con đường cổ tích” là tác phẩm văn xuôi đầu tiên của chị. Tập sách phong phú về nội dung, gồm 35 bài, mỗi bài là một “bức họa bằng chữ” trên những con đường hiện sinh mà chị được rong ruổi.

Phạm Thị Hồng Thu sống và viết tại Hà Nội. Hiển nhiên, vùng đất đó là đối tượng nghệ thuật. Hà Nội trở thành đề tài của các loại hình văn học nghệ thuật, từ cổ chí kim, từ trước đến nay. Phạm Thì Hồng Thu “không cưỡng” lại được trước vẻ đẹp Hà Nội. Chị dành cảm xúc cho Hà Nội trên nhiều trang viết. Có thể nhận ra “tiếng nói” của ký ức chị trong “Con đường cổ tích giữa lòng Thủ đô”- viết về đường Phan Đình Phùng, “Check – In ở Hồ Tây”, “Sen Hồ Tây thăng hoa”, “Yêu Hồ Tây”, “Nét cổ ở làng Đường Lâm”, “Tàu điện ngày ấy, bây giờ”, “Đường Láng tôi yêu”, “Yêu say mùa thu Hà Nội”.

Phạm Thị Hồng Thu sự quan sát tinh tế hiện thực. Hay nói cách khác, hiện thực được nhìn, ghi nhận bằng mắt khúc xạ qua tâm hồn trở thành hiện thực trữ tình trong văn bản văn học.

duong-phan-dinh-phung-1782998779.jpg
Đường Phan Đình Phùng con đường lưu dấu kỷ niệm nhiều thế hệ con người Hà Nội

Viết về con đường Phan Đình Phùng (Hà Nội)– con đường đẹp bốn mùa. “Sang thu, không khí Hà Nội đã bớt oi nồng, ở đây lại càng mát mẻ, những thảm lá vàng mỏng nhẹ lại rải lên mặt phố. Nắng vàng rót mật hòa trong gió heo may như quyện bước chân người. Những tia nắng vàng ấy cứ nhảy nhót lên tóc, lên má những người mẫu không chuyên, làm sáng bừng khuôn mặt xinh tươi. Mùa thu là mùa đẹp nhất nên con đường Phan Đình Phùng vào thu cũng quyến rũ nhất. Hút nhiều người đến đây check-in nhất”.

Văn đẹp ở tả. Con đường Phan Đình Phùng mùa thu qua ngòi bút Phạm Thị Hồng Thu như “bức họa bằng chữ”.

Cũng về mùa trong tác phẩm “Đường Láng tôi yêu”, Phạm Thị Hồng Thu, viết về con đường rợp bóng xà cừ có đến trăm năm tuổi, với vẻ đẹp chiêm nghiệm: “Một đời lá, cây đã chắt chiu, ôm ấp, nâng niu, ủ dòng sữa, chăm cho búp nõn cứng cáp, mướt xanh. Trải qua những cơn mưa ầm ào, những tiếng sấm vang trời, những trận gió bão ngả nghiêng quăng quật cành lá thường vào cuối hạ, đầu thu và cả những đợt giá buốt xám xịt của mùa đông, vậy mà cây vẫn đó, ngạo nghễ đứng vững bên đường”.

di-thuc-te-o-thanh-hoa-1782998780.jpg
Nhà thơ Phạm Thị Hồng Thu đi thực tế ở Thanh Hóa

Phạm Thị Hồng Thu không chỉ lãng mạn trước cảnh đẹp của đất trời, trong “Con đường cổ tích”, chị còn viết về đề tài lịch sử, truyền thống, kể cả đề tài hậu chiến, những day dứt khôn nguôi trước những vấn đề do chiến tranh – dù đã qua hơn 50 năm, nhưng còn để lại những “vết sẹo” trong tâm hồn.

Có thể thấy mảng đề tài này qua các tác phẩm: “Những chuyện lạ trên đường hành hương”, “K9 Đá Chông không nguôi thương nhớ”, “Tâm tư anh linh của những người đã ngã xuống”, “Lũy thép pháo đài Đồng Đăng bất tử”, “Hành trình tâm linh miền biên viễn- chuyện lạ có thật”, “Bạch Đằng Giang muôn đời lộng gió”, “Xanh mát Trường Sơn Đông huyền thoại”, “Mùa nhãn với Triển lãm Kim Quy”...

Trong một số tác phẩm của nhà thơ Phạm Thị Hồng Thu, nói đến một hiện thực tâm linh mà khoa học chưa giải thích được. Đó là vong. Dẫu khoa học tâm linh đã được công nhận là một chuyên ngành khoa học của lý số, nhưng biết bao câu hỏi ngoài cuộc đời vẫn là những ẩn số.

“Trong chuyến đi này tôi cũng muốn nhắc đến một câu chuyện tâm linh mà đoàn chứng kiến. Đoàn đi vào theo đường quốc lộ 1, đi ra theo đường mòn Hồ Chí Minh, xe đang bon bon  ở đoạn Quảng Bình tự nhiên hụt hơi không thể chạy được, xe bị hỏng một bộ phận nho nhỏ. Điều đáng kể là xe hỏng ngay sau khi một chị trong đoàn ở Nga về, vừa kể cho chị trưởng đoàn nghe câu chuyện về cô gái Việt cùng làm với chị bên Nga bị đột tử. Cô ấy hiện về luôn và nhập vào một cô trong đoàn. Cô đói quá, mệt lả, mọi người lục tìm sữa, cô uống liền hai hộp. Một lúc tỉnh, cô nói: cháu rất buồn, cháu chưa siêu thoát được, cháu xin cô (ở Nga về) 500000 đồng để nhờ cô trưởng đoàn cúng cho được siêu thoát. Cô cảm ơn rất nhiều. Cậu tài xế chỉ băng bó chỗ hỏng sơ sài vậy mà xe vẫn chạy được cả trăm cây số đến tối mới đi tìm chỗ sửa”.

Những đoạn trích này trong tác phẩm “Tâm tư anh linh những người đã ngã xuống”. Những câu chuyện có màu sắc huyền bí này người đọc còn có thể gặp ở một số tác phẩm khác trong tập “Con đường cổ tích” như “Lũy thép pháo đài Đồng Đăng bất tử”...

Hiện thực tâm linh dù có nhiều người chưa được chứng kiến, nhưng qua tác phẩm của Phạm Thị Hồng Thu, sự việc như một “ẩn dụ” gửi đến một thông điệp: Còn rất nhiều vấn đề hậu chiến phải quan tâm; còn khá nhiều linh hồn những người lính đã ngả xuống trên mảnh đất thấm máu của chúng ta, còn chưa được siêu thoát, họ vẫn lẩn khuất đâu đó để nói với con người hôm nay rằng: Nhiều số phận, nhiều cuộc đời cần phải được sẻ chia, dẫu dưới góc độ tâm linh.

Là nhà thơ nữ, sức “liễu yếu đào tơ”, nhưng Phạm Thị Hồng Thu là người chịu khó “xê dịch”. Bàn chân chị đã rong ruổi khắp nhiều vùng của đất nước. Những chuyến đi ấy mang lại cho chị vốn sống và làm bật lên cảm xúc. Có thể thấy qua đề tài về biên giới, hải đảo, các sắc màu dân tộc qua những trang viết, qua những tác phẩm.

Có thể thấy qua, “Xuân ước mơ của người Mông ở bản Rừng Thông”, “Huyền bí và độc đáo qua lễ Nhảy lửa của người Pà Thẻn”, “Dọc bánh tàu quay”, “Đón Tết sớm của người La Hủ ở Mường Tè”, “Sắc màu miền biên viễn”, “Rưng rưng những cột mốc số 0”, “Rực rỡ sắc màu Mộc Châu”, “Thương quá Keng Đu”, “Săn biển mây Sơn Trà”, “Chinh phục Mũi Đôi gian nan mà hấp dẫn”, “Khám phá Thiên Nam đệ nhất trụ”, “Say miền hoa đá”, “Về thăm Đất Mũi Cà Mau”.

Ở tuổi “chín” về năng lượng, không còn trẻ về tuổi tác, dường như Phạm Thị Hồng Thu đã gặp “căn” để viết về Phật tính. Màu sắc Phật giáo được thể hiện qua các tác phẩm: “Hành trình tâm linh miền biên viễn”, “Theo dấu chân Phật Hoàng”...

“...lên đến chùa Đồng ta mới thấy mình thực sự đến với cửa Phật, đến với miền thanh tịnh vô biên. Ta trào dâng cảm xúc xúc động, lâng lâng hạnh phúc. Ta được thả hồn với trời mây, với Phật. Ta được phóng tầm mắt ra xa, thấy vịnh Hạ Long thấp thoáng mờ xanh, thấy đất nước mình đẹp hơn tranh. Ta được hít vào lồng ngực những luồng khí trong lành, linh thiêng. Ta như đang trở về cõi xa, thấy trong rừng trúc xanh xanh ngút ngàn thấp thoáng bóng áo cà sa, xa là các nàng cung nữ đang quỳ gối, có lẽ các nàng đang cầu xin nhà vua trở về chốn Hoàng cung trị vì đất nước. Và có lẽ các nàng cũng đã quen hơi nên khó thể rời xa”, (Theo dấu chân Phật Hoàng).

Là người Việt Nam nói chung, là Phật tử nói riêng phải hành hương về Ngọa Vân và Yên Tử - hai nơi được xem là “đất Phật”, “kinh đô” của Phật giáo Trúc Lâm, không chỉ để hiểu thêm về văn hóa, tâm linh mà còn giúp mình giác ngộ, hóa giải.

Bản chất văn học là sự diễn ngôn. Nghệ thuật diễn ngôn là cách chiếm lĩnh những giá trị tinh thần mang ý nghĩa nhân sinh. “Con đường cổ tích” của Phạm Thị Hồng Thu đã ghi chép sự việc, nêu lên tính xác thực của sự việc – đây là đặc trưng cơ bản nhất của ký văn học. Tất nhiên, ký có một phạm vi rất rộng, ngoài các thể loại cổ hiện không được nhắc đến như ngữ lục, tạp lục, tiệp bút...đến những thể loại đang hiện diện trong đời sống văn học như truyện ký, sử ký, ký sự, phóng sự, tùy bút...

Phạm Thị Hồng Thu, vốn là nhà thơ, với những cảm xúc lãng mạn, ưa thích ngôn ngữ mang tính ẩn dụ; lần này do sự “thôi thúc” của cuộc sống, chị đã tiếp cận với văn xuôi. Thường những người mới bước vào văn xuôi, “cây bút” họ tiếp cận ngay với ký và truyện ngắn./.