Theo dòng thời sự: Công tác tư tưởng - Thắp sáng niềm tin, quy tụ lòng dân

Việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới là bước phát triển quan trọng về tư duy lãnh đạo đối với một lĩnh vực có ý nghĩa đặc biệt đối với sự nghiệp xây dựng Đảng và phát triển đất nước. Điểm nổi bật của Nghị quyết không chỉ nằm ở việc xác định những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, mà sâu xa hơn là đặt công tác tư tưởng vào đúng vị trí của một nguồn lực tinh thần, một năng lực nội sinh của Đảng và của dân tộc.

Từ thực tiễn cách mạng có thể thấy, khi niềm tin được củng cố, lòng dân được quy tụ, những nguồn lực tưởng như phân tán có thể hội tụ thành sức mạnh lớn lao. Ngược lại, khi niềm tin bị bào mòn, khoảng cách giữa chủ trương và cuộc sống gia tăng, thì ngay cả những chính sách đúng đắn cũng khó đạt được hiệu quả như mong muốn. Bởi vậy, nói đến công tác tư tưởng, xét đến cùng, là nói đến một trong những vấn đề căn cốt của văn hóa chính trị: Làm thế nào để những giá trị, mục tiêu và khát vọng chung trở thành niềm tin và hành động chung của xã hội.

dt1a-ct-tu-tuong-1788098812.png

Tối 20/8/2026, tại Hà Nội, Đảng ủy Chính phủ tổ chức Lễ trao giải Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Đảng bộ Chính phủ lần thứ 2, năm 2026 - Ảnh: chinhphu.vn

Từ “quản lý thông tin” đến dẫn dắt nhận thức, củng cố niềm tin

Nghị quyết 25-NQ/TW đã nhìn thẳng vào những hạn chế của công tác tư tưởng thời gian qua: nhận thức ở một số cấp ủy chưa đầy đủ, còn biểu hiện “khoán trắng”; phương thức chậm đổi mới; năng lực dẫn dắt nhận thức xã hội và củng cố niềm tin còn hạn chế; công tác tư tưởng ở cơ sở chưa theo kịp những thay đổi của tổ chức bộ máy và môi trường thông tin. Việc chỉ ra những hạn chế ấy không phải để nhìn về phía sau, mà quan trọng hơn, để xác lập một cách làm mới phù hợp với một xã hội đang chuyển động rất nhanh.

Một trong những điểm đột phá đáng chú ý của Nghị quyết là yêu cầu chuyển trọng tâm từ quản lý thông tin sang dẫn dắt nhận thức xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân, tạo đồng thuận xã hội.

Đây là sự thay đổi có tính căn bản.

Trong môi trường truyền thông truyền thống, thông tin chủ yếu đi theo chiều từ cơ quan phát hành đến công chúng. Nhưng trong kỷ nguyên số, dòng chảy thông tin đã trở nên đa chiều, tức thời và khó kiểm soát theo phương thức cũ. Mỗi người dân vừa là người tiếp nhận, vừa có thể là người tạo lập và lan truyền thông tin. Một tin đồn có thể lan nhanh hơn một thông cáo; một hình ảnh có thể tác động đến cảm xúc xã hội trước khi thông tin chính thức được kiểm chứng đầy đủ.

Trong hoàn cảnh ấy, “quản lý thông tin” không thể là câu trả lời duy nhất. Điều quan trọng hơn là phải chủ động dẫn dắt nhận thức bằng thông tin chính xác, minh bạch, kịp thời và thuyết phục.

Nghị quyết yêu cầu mỗi chủ trương, chính sách lớn phải có phương án truyền thông, giải thích và đối thoại ngay từ khi xây dựng. Đây là một bước tiến đáng kể trong tư duy truyền thông chính sách. Chính sách không thể chỉ được ban hành rồi mới nghĩ đến việc giải thích. Truyền thông phải đi cùng chính sách từ đầu, từ quá trình hoạch định đến tổ chức thực hiện và đánh giá tác động.

Sâu xa hơn, đó là yêu cầu về văn hóa đối thoại trong quản trị xã hội.

Niềm tin không thể hình thành từ những lời tuyên truyền một chiều. Niềm tin được tạo dựng khi người dân được biết, được hiểu, được hỏi, được phản hồi và nhìn thấy những điều đã cam kết được thực hiện trong đời sống. Vì thế, yêu cầu duy trì đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân; công khai kết quả tiếp thu, xử lý kiến nghị; phát hiện và giải quyết vấn đề tư tưởng ngay từ cơ sở... chính là những giải pháp trực tiếp để biến công tác tư tưởng thành một quá trình tương tác hai chiều.

Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh: “Niềm tin của Nhân dân là thước đo cao nhất”. Đây không chỉ là một yêu cầu về phương pháp công tác, mà còn là một nguyên tắc văn hóa chính trị.

Muốn có niềm tin, trước hết phải tạo ra những điều kiện để niềm tin có cơ sở tồn tại. Hiệu quả phát triển kinh tế, chất lượng các dịch vụ công, chính sách an sinh, sự công bằng, kỷ cương, thái độ và trách nhiệm của cán bộ... đều tác động trực tiếp đến niềm tin. Nói cách khác, công tác tư tưởng không thể tách rời đời sống thực tiễn của nhân dân.

Vì vậy, một thông điệp hay không thể thay thế một chính sách tốt; một khẩu hiệu đúng không thể thay thế một hành động đúng. Công tác tư tưởng chỉ thực sự có sức thuyết phục khi lời nói và việc làm thống nhất, khi chủ trương được chuyển hóa thành kết quả và kết quả ấy được nhân dân cảm nhận bằng chính cuộc sống của mình.

Bồi đắp văn hóa niềm tin, nhân lên sức mạnh đại đoàn kết

Một điểm nổi bật khác của Nghị quyết là đặt con người ở vị trí trung tâm, nhân dân là chủ thể tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng, đồng thời lấy cơ sở và địa bàn dân cư làm trọng tâm. Đây là sự trở về với một chân lý giản dị: Mọi sức mạnh chính trị, suy cho cùng, đều phải bắt nguồn từ lòng dân.

Đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ được tạo nên bằng những khẩu hiệu về đoàn kết. Đó là kết quả của quá trình xây dựng và chia sẻ những giá trị chung: lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường, khát vọng phát triển và tinh thần cống hiến.

Nghị quyết vì thế rất đúng khi đặt việc học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh ở vị trí cốt lõi, xuyên suốt của công tác tư tưởng. Đáng chú ý là yêu cầu chuyển mạnh từ học tập mang tính hình thức sang thực hành thường xuyên, thiết thực, gắn với nhiệm vụ chính trị, trách nhiệm nêu gương và kết quả công việc.

Văn hóa không nằm trên giấy. Văn hóa được nhận diện qua hành vi. Một cán bộ có thực sự gần dân hay không được thể hiện qua cách tiếp dân; có trách nhiệm hay không được thể hiện qua cách xử lý công việc; có nêu gương hay không được thể hiện ở việc dám nhận trách nhiệm. Khi những giá trị đạo đức ấy trở thành hành vi thường ngày, công tác tư tưởng mới có được sức thuyết phục từ chính đời sống.

Trong không gian số, yêu cầu xây dựng văn hóa niềm tin càng trở nên cấp thiết. Nghị quyết đặt ra nhiệm vụ phát triển hệ sinh thái nội dung tích cực, nhân văn; đưa văn hóa số, kỹ năng thông tin số và năng lực kiểm chứng thông tin vào giáo dục; phát huy vai trò của những người có uy tín, người có ảnh hưởng tích cực.

Đó là cách tiếp cận đáng chú ý: thay vì chỉ xem người dân là đối tượng được tuyên truyền, phải nhìn nhận người dân là chủ thể của quá trình xây dựng môi trường thông tin và văn hóa xã hội. Khi mỗi người biết trách nhiệm với một thông tin mình chia sẻ, biết tôn trọng sự thật, biết tranh luận có văn hóa, biết bảo vệ điều đúng và lan tỏa điều tốt, sức mạnh tư tưởng của xã hội sẽ không chỉ đến từ các thiết chế mà còn được hình thành từ hàng triệu hành động của người dân.

Tầm nhìn đến năm 2045 và xa hơn của Nghị quyết – đưa công tác tư tưởng trở thành năng lực nội sinh của Đảng và của cả dân tộc, đưa hệ giá trị Việt Nam và bản sắc văn hóa dân tộc trở thành sức mạnh mềm quốc gia – vì thế mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc.

Trong một thế giới biến động nhanh, quốc gia nào chỉ dựa vào nguồn lực vật chất sẽ khó tạo dựng sức mạnh bền vững. Một dân tộc có sức mạnh lâu dài phải có bản lĩnh tinh thần, có hệ giá trị đủ sức kết nối cộng đồng và có niềm tin vào tương lai của chính mình.

Bởi vậy, công tác tư tưởng hôm nay không thể chỉ là “nói cho dân hiểu”. Cao hơn, đó phải là lắng nghe để hiểu dân, đối thoại để tạo đồng thuận, hành động để củng cố niềm tin và bồi đắp những giá trị chung để quy tụ lòng dân.

Khi niềm tin được thắp sáng, đồng thuận được tạo dựng, cái đúng – cái tốt – cái đẹp được lan tỏa, mỗi người dân sẽ trở thành một điểm tựa của sức mạnh cộng đồng. Khi hàng triệu điểm tựa ấy kết nối thành một khối thống nhất, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ được nhân lên.

Đó chính là chiều sâu văn hóa của công tác tư tưởng trong bối cảnh mới: Không chỉ bảo vệ niềm tin, mà phải làm cho niềm tin trở thành động lực; không chỉ quy tụ lòng dân, mà phải biến lòng dân thành sức mạnh hành động; không chỉ giữ gìn những giá trị đã có, mà phải cùng nhân dân kiến tạo những giá trị mới cho một Việt Nam phát triển, tự tin, nhân văn và hùng cường.

V.X.B