Khi Đặc công 429 đánh “cứng” và bàn cờ tác chiến không có chỗ cho sai số
Tổ chức chiến đấu
Đoàn kết, tin tưởng, hiệp đồng, dũng cảm, táo bạo, linh hoạt; động viên toàn trung đoàn nỗ lực cao, vượt qua mọi khó khăn, ác liệt; dũng cảm, ngoan cường, vững vàng trong thế tiến công và chiến thắng. Đánh tiêu diệt gọn, làm chủ hoàn toàn, thu dọn chiến trường, bám trụ chắc. Đánh địch phản kích giỏi, hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao cho trung đoàn trong đêm N và các ngày N tiếp theo.
Sử dụng lực lượng
Đánh vào cứ điểm trong đêm N, sử dụng hai tiểu đoàn đặc công là D13, D14 và một tiểu đoàn thiếu bộ binh, D1(-) E205. Lực lượng được tổ chức thành hai cánh, bảy mũi, gồm 143 tay súng đặc công và khoảng 90 tay súng bộ binh.
Chọn hướng, mũi chiến đấu chủ yếu
- Lấy hướng Nam và hướng Tây làm hướng tiến công chủ yếu, do D13 đảm nhiệm, là thê đội một; D1(-) E205 bộ binh là thê đội hai.
- Hướng Đông là hướng quan trọng, sẵn sàng thay thế hướng Tây khi gặp khó khăn, do D14 đảm nhiệm.
- Các mũi chủ yếu: mũi 2, mũi 4 và mũi 6.
- Ưu tiên một là mũi 2.
- Ưu tiên hai là mũi 4.
- Ưu tiên ba là mũi 6.
Trong bất kỳ tình huống nào, các mũi 2, 4 và 6 cũng phải hoàn thành nhiệm vụ.
Các đơn vị đảm nhiệm tiến công trên các mũi chủ yếu
- C3 D13 đảm nhiệm mũi 2.
- C4 D13 đảm nhiệm mũi 4.
- C1 D14 đảm nhiệm mũi 6.
Sử dụng cán bộ tiểu đoàn vào trận
- Đồng chí Thống, Tiểu đoàn phó D13, đi cùng mũi 2.
- Đồng chí Lân, Tiểu đoàn phó D14, đi cùng mũi 6.
- Đồng chí Hùng, Tiểu đoàn phó D1 bộ binh, đi cùng C3 bộ binh, sau mũi 2.
Thời gian
- Ngày N là đêm 3, rạng ngày 4/11/1973.
- Giờ G là 3 giờ 15 phút ngày 4/11/1973.
- Cho đợi 15 phút.
- Nổ súng lúc 3 giờ 30 phút.
Phương châm tác chiến, tư tưởng chỉ đạo trận đánh
- Đánh tiêu diệt triệt để.
- Làm chủ hoàn toàn.
- Giải quyết hậu quả nhanh chóng, vững chắc.
Phương thức tác chiến
Đặc công kết hợp với bộ binh và hỏa lực, lấy đặc công làm chính.
Thủ đoạn chiến thuật
- Hình thành nhiều hướng, nhiều mũi; tận dụng cao độ yếu tố bí mật, bất ngờ; luồn sâu, ém sát; đánh đúng, đánh đồng loạt, mãnh liệt; đánh tràn sát, chiếm trung tâm, kết hợp bóc vỏ cứng triệt để.
- Mạnh dạn, táo bạo, nhanh chóng thọc sâu, kết hợp với chiếm bàn đạp vững chắc.
- Tranh thủ khai thác tù binh, tìm diệt hầm ngầm.
Tính chất trận đánh
- Là một trận đánh theo yêu cầu của chiến dịch, thời gian chuẩn bị gấp, địch đã có sự đề phòng đối với ta.
- Binh chủng hợp thành đánh địch trong công sự vững chắc, tiến công vào căn cứ hành quân cấp chiến đoàn của địch.
Ý nghĩa trận đánh
- Đánh trừng phạt địch vi phạm Hiệp định Paris.
- Tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng và bảo vệ vùng giải phóng.
- Lưu thông đường hành lang chiến lược Bắc – Nam và đường giao thông trong vùng giải phóng.
- Đánh để rèn luyện, nâng cao sức chiến đấu cho bộ đội.
- Đây là trận đánh lớn nhất, quy mô nhất của binh chủng kể từ sau Hiệp định Paris đến nay. Vì vậy, ta đánh tốt hay không tốt đều có ảnh hưởng đến việc xây dựng cách đánh của binh chủng sau này.
- Đây là trận đánh then chốt vào mục tiêu then chốt, có tính chất quyết chiến điểm của chiến dịch. Nếu ta đánh tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch phát triển.
Yêu cầu lãnh đạo
- Xây dựng quyết tâm cao, đoàn kết, hiệp đồng, tin tưởng chắc thắng.
- Đặc công không xem nhẹ bộ binh; ngược lại, bộ binh cũng không ỷ lại vào đặc công.
- Từng cá nhân, từng đơn vị phải chủ động đoàn kết, hiệp đồng, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ được giao; đồng thời, sẵn sàng chi viện cho đơn vị bạn để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ.
- Chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật chiến trường bằng cách hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; chấp hành thật tốt kỷ luật hiệp đồng, nhất là kỷ luật giờ G, để thể hiện rõ tư tưởng chiến thuật của trận đánh.
- Lãnh đạo tốt công tác kiểm tra, đôn đốc; cán bộ phải gương mẫu, đầu tàu, sâu sát, tỉ mỉ, điều quân, nắm và chỉ huy được quân trong khi chiến đấu. Tuyệt đối không để thiếu vũ khí, trang bị, ảnh hưởng đến trận đánh.
- Tác phong chiến đấu phải bí mật, kiên định, dũng cảm, táo bạo, linh hoạt và quyết đoán.

Những con số biết nói và cái giá của từng giây dưới hàng rào kẽm gai
Tổ chức chiến đấu và nhiệm vụ cụ thể
Thành lập Ban Chỉ huy trận đánh gồm:
- Đồng chí Ba Tỉnh, Chỉ huy trưởng.
- Đồng chí Ba Tòng, phái viên Đoàn 27, Chỉ huy phó.
- Đồng chí Lý, Tham mưu phó Trung đoàn 429, Chỉ huy phó.
- Đồng chí Bảy Hợi, Tham mưu trưởng Trung đoàn 205, Chỉ huy phó.
- Đồng chí Tám Sử, Phó Chính ủy Trung đoàn 429, phụ trách chính trị.
Lực lượng được tổ chức thành hai cánh:
Cánh 1, hướng Tây
Đây là cánh chủ yếu, do Ban Chỉ huy trực tiếp nắm. Lực lượng gồm:
- D13 và D1(-) bộ binh là lực lượng đánh điểm.
- D78 là lực lượng dự bị cơ động của trung đoàn.
- C1 cao xạ Trung đoàn 429, C3 cao xạ F9 và A72 là lực lượng đánh máy bay địch.
- C27 cối 82 và B72 là lực lượng đánh địch trên mặt đất.
- Ba cơ quan và các đơn vị phục vụ.
Cánh 2, hướng Đông
Đây là cánh độc lập, do đồng chí Lý chỉ huy. Lực lượng gồm:
- D14 là lực lượng đánh điểm trong đêm N.
- Hai khẩu cối 82 của D1 bộ binh và bộ phận H12 đánh kiềm chế đồn nghĩa quân cùng cụm pháo ở phía Đông Nam chốt Bù Bông.
- A72 đánh máy bay trong ngày N.
- Các đơn vị phục vụ gồm D21, một trung phẫu, một đài quan sát của trung đoàn và một đội vận tải.
Nhiệm vụ được giao cụ thể
D13 là đơn vị tiến công trên cánh chủ yếu của trận đánh, tổ chức lực lượng gồm 68 đồng chí, trong đó có:
- Một cán bộ tiểu đoàn.
- Bảy cán bộ đại đội.
- Mười bảy cán bộ trung đội.
- Bốn mươi ba cán bộ tiểu đội và chiến sĩ.
Tổng số có 29 đảng viên và 39 đoàn viên.
Trang bị
- 8 khẩu K54 với 120 viên đạn, mỗi khẩu 15 viên.
- 29 khẩu AK với 4.350 viên đạn, mỗi khẩu 150 viên.
- 9 khẩu B40 với 45 quả đạn, mỗi khẩu 5 quả.
- 568 quả thủ pháo loại 0,5 ki-lô-gam.
- 19 khối bộc phá loại 1 ki-lô-gam.
- 8 bộc phá sào.
- 155 quả lựu đạn.
- 8 chiếc kéo.
- 4 đồng hồ.
- 4 máy điện thoại.
Lực lượng được tổ chức thành bốn mũi, từ mũi 1 ở góc Đông Nam đến mũi 4 ở góc Tây Bắc. Đến giờ G, nổ bộc phá làm lệnh cho toàn trận đánh. Tiêu diệt toàn bộ hai phần ba mục tiêu ở tuyến trong và một phần hai mục tiêu ở tuyến ngoài; tiêu diệt sở chỉ huy, khu thông tin, khu nhân viên chỉ huy và kỹ thuật, trận địa pháo ở hướng Nam.
Hướng dẫn cho bộ binh và phối hợp cùng bộ binh đánh tảo trừ, lục soát, thu dọn chiến trường cho đến khi có lệnh mới.
Sẵn sàng đánh địch mới xuất hiện trong mục tiêu và từ bên ngoài vào theo hướng Tây, Tây Nam, trong phạm vi từ một đến hai ki-lô-mét.
Sau khi giải quyết tốt chiến trường, sẵn sàng bàn giao lại cho D1 bộ binh. Đơn vị nhanh chóng lui về phía sau, củng cố và trở thành lực lượng cơ động của trung đoàn; sẵn sàng đánh địch mới xuất hiện từ phẫu ra Sở Chỉ huy trung đoàn và sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.
Nhiệm vụ cụ thể của từng mũi
Mũi 1
Mũi 1 do C2 đảm nhiệm, gồm 18 đồng chí; đồng chí Lữ, Chính trị viên, làm mũi trưởng; đồng chí Thay, Đại đội phó, làm mũi phó.
Mở cửa tiến công vào góc Đông Nam, bên trái lô cốt góc. Bí mật điều quân ém sát, luồn sâu, lót sát các mục tiêu. Khi nổ súng, đánh đồng loạt, đúng và trúng các mục tiêu đã ém; đồng thời, phát triển tiến công, tiêu diệt toàn bộ mục tiêu ở tuyến vỏ tiếp giáp với mũi 7 và mũi 2, đánh sâu vào bên trong tới chòi cu; bắt tù binh, thu vũ khí và làm chủ hoàn toàn. Tìm, diệt hầm ngầm; bắt liên lạc với mũi 7 và mũi 2 ở bên trái.
Mũi 1 được tổ chức thành hai tuyến, gồm bốn tổ:
Tuyến 1, lực lượng thọc sâu: Gồm hai tổ với 10 đồng chí, do đồng chí Bưởi, Trung đội trưởng, và đồng chí Nhật, Trung đội trưởng, làm tổ trưởng. Lực lượng có nhiệm vụ tiến công, tiêu diệt toàn bộ mục tiêu ở tuyến hai thuộc khu vực do mũi đảm nhiệm; tìm, diệt hầm ngầm; bắt liên lạc với mũi 2 và mũi 7 ở khu vực trung tâm, tại chòi cu.
Tuyến 2, lực lượng bóc vỏ: Gồm hai tổ với 8 đồng chí, do đồng chí Tiến, Tiểu đội trưởng, và đồng chí Hiền, Trung đội viên, làm tổ trưởng. Lực lượng có nhiệm vụ tiêu diệt toàn bộ mục tiêu ở tuyến ngoài, hai bên cửa mở, tiếp giáp với mũi 2 và mũi 7.
Bắt liên lạc với hai mũi trên và nối đường dây của mũi 1 với mũi 7 để trung đoàn trực tiếp nắm tiểu đoàn.
Trang bị:
- 2 khẩu K54.
- 8 khẩu AK.
- 2 khẩu B40.
- 155 quả thủ pháo.
- 6 khối bộc phá.
- 2 bộc phá sào.
- 2 chiếc kéo.
- 1 đồng hồ.
- 1 máy điện thoại.
Mũi 2
Mũi 2 do C3 đảm nhiệm, gồm 22 đồng chí, trong đó có một cán bộ tiểu đoàn. Đồng chí Độ, Đại đội phó, làm mũi trưởng; đồng chí Thắng, Chính trị viên phó, làm chính trị viên mũi.
Trang bị:
- 3 khẩu K54.
- 9 khẩu AK.
- 2 khẩu B40.
- 180 quả thủ pháo.
- 8 khối bộc phá.
- 2 bộc phá sào.
- 1 đồng hồ.
- 1 máy điện thoại.
Mũi 2 tiến công vào hướng Nam của mục tiêu; bí mật cắt rào, điều quân ém sát, luồn sâu, lót sát vào mục tiêu. Đến giờ G, nổ bộc phá làm lệnh cho toàn trận đánh. Mũi 2 được ưu tiên số một về thời gian.
Lực lượng có nhiệm vụ tiêu diệt hầm ngầm, bắt tù binh, thu vũ khí trong khu vực đảm nhiệm; bắt liên lạc với mũi 6 của D14 tại chòi cu; nối đường dây để trung đoàn trực tiếp chỉ huy D14.
Hướng dẫn bộ binh, cùng bộ binh đánh địch mới xuất hiện hoặc khôi phục mục tiêu. Lực lượng được tổ chức thành hai tuyến, gồm bốn tổ.
Lực lượng thọc sâu: Gồm hai tổ với 11 đồng chí, do đồng chí Long và đồng chí Thỏa, Trung đội trưởng, làm tổ trưởng. Lực lượng có nhiệm vụ tiến công, tiêu diệt toàn bộ mục tiêu ở tuyến hai, trong khu vực sở chỉ huy và khu thông tin; bắt tù binh, thu vũ khí; bắt liên lạc với mũi 6 tại chân chòi cu và nối đường dây để trung đoàn chỉ huy D14.

Hướng dẫn cho bộ binh cùng bộ binh đánh địch phục hồi, tiêu diệt hầm ngầm.
Bóc vỏ: Gồm 2 tổ (4+5+liên lạc+1 cán bộ D do đ/c Thắng CV mũi+ đ/c Miên BV làm tổ trưởng, tiêu diệt toàn bộ mục tiêu trong khu vực đảm nhiệm tiếp giáp với mũi 1+3, hướng dẫn bộ binh đánh vào trung tâm, bắt liên lạc với tổ thọc sâu, cùng bộ binh đánh địch mới phục hồi, làm chủ toàn bộ khu vực phân công.
Mũi 3: do C2 đảm nhiệm gồm 8 đ/c, đ/c Hậu BT mũi trưởng, đ/c Thiếp CV làm CV mũi.
+ Trang bị 1K54+ 4 AK + 1 B40 + 64 thủ pháo + 16 lựu đạn.
Mở cửa vào Tây Nam mục tiêu, đến G bí mật điều ém quân luồn sâu lót sát vào mục tiêu đánh tiêu diệt triệt để làm chủ hoàn toàn mục tiêu ở tuyến vỏ tiếp giáp với mũi 2 + 4; Sẵn sàng cho 1 tổ bén và nhọn thọc sâu vào trung tâm.
+ Tổ chức thành 2 tuyến và 3 tổ
Bóc vỏ: Gồm 2 tổ 3 + 3 do đ/c mũi trưởng và đ/c mũi viên làm tổ trưởng, đến G bí mật ém vào các mục tiêu khi nổ súng diệt toàn bộ mục tiêu trong khu vực phân công.
Trung tuyến 2 đồng chí do đồng chí Diệp B phó làm tổ trưởng.
Mũi 4: Do C4 đảm nhiệm gồm 20 đ/c do đồng chí Giản C phó làm mũi trưởng, đ/c Duyệt Chính trị viên làm mũi viên.
+ Trang bị 2 K54 + 7AK + 4 B40 + 169 thủ pháo + 53 lựu đạn, 6 bộc phá khối + 2 bộc phá rào + 2 kéo + 1 đồng hồ.
- Tấn công vào Tây Bắc mục tiêu, làm nhiệm vụ mũi chủ yếu, được ưu tiên thứ 2, đánh tiêu diệt toàn bộ mục tiêu trong khu vực đảm nhiệm tuyến vỏ tiếp giáp với mũi 3 + 5 ở tuyến trong chiều sâu tới chòi cu, sẵn sàng thay thế làm nhiệm vụ mũi 2.
- Làm chủ hoàn toàn, bắt tù binh thu vũ khí giải quyết tốt chính sách, tổ chức thành 2 tuyến 4 tổ.
Tuyến 1: Thọc sâu: gồm 2 tổ 4 + 4 đ/c Trích BT + Sơn Bphó làm tổ trưởng. Sẵn sàng thay thế tổ thọc sâu của mũi 2, nổ súng tiêu diệt toàn bộ mục tiêu trong tuyến 2 tiếp giáp mũi 2 + 5 chiều sâu tới chòi cu.
Tuyến 2: Bóc vỏ: gồm 12 đ/c 2 tổ do đồng chí Lập BT+đ/c Hòa B phó chỉ huy đánh tiêu diệt toàn bộ mục tiêu vỏ tiếp giáp với mũi 3+5.
Tiểu đoàn 14:
Là đơn vị đảm nhiệm tấn công trên hướng quan trọng của trận đánh. Tổ chức lực lượng gồm 75 đ/c đánh trận nội. (trong số 75 đ/c có 18 đ/c dự bị khi nổ súng mới vào).
- 1 cán bộ D.
- 4 cán bộ C.
Trang bị: 2 RBD/600
37 AK/5550
3 K54/75
10 B40/50
2 B41/10 591 thủ pháo
5 bộc phá rào
6 kéo
3 máy điện thoại
3 đồng hồ.
Tổ chức thành 3 mũi (từ mũi 5 – 7) nổ súng đánh tiêu diệt 1/2 mục tiêu ở tuyến ngoài 1/3 mục tiêu ở tuyến trong, được tăng cường 2 cối 82 + 6H12 + 1 trung phẫu + 1 đội vận tải do đơn vị tổ chức chỉ huy bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ trong đêm N và các ngày N+ tiếp theo.
- Bắt liên lạc với mũi 2 tại chân chòi cu. Nối 2 đầu dây để E chỉ huy trực tiếp Tiểu đoàn.
- Đánh địch mới xuất hiện trong khu vực đứng chân, tổ chức 1 tổ chặn đường từ bốt dân vệ sang chi viện cho Bù-Bông. Sẵn sàng đón đánh lực lượng địch từ phía Bắc chạy về. Khi mục tiêu chính nổ súng, dùng H12 bắn hủy diệt bốt dân vệ sau đó dùng cối 82 ly + 60 ly kiềm chế cụm tăng và bốt dân vệ chi viện cho mục tiêu chính.
- Mũi 5: Do C3 đảm nhiệm gồm 28 đồng chí (có 8 dự bị) do đồng chí Viễn CT làm mũi trưởng, đồng chí Chiểu B viên làm C viên mũi.
- Tấn công vào Bắc chốt diệt toàn bộ mục tiêu ở tuyến ngoài từ lô cốt góc Đông Bắc, đến tiếp giáp với mũi 4 bên trái. Chiều sâu đến chòi cu.
- Tiêu diệt triệt để, tảo trừ sạch, tìm diệt hầm ngầm làm chủ hoàn toàn khu vực được phân công.
- Bắt tù binh, thu chiến lợi phẩm giải quyết tốt chính sách, bắt liên lạc với mũi 4+ 6.
Tổ chức 3 tuyến 5 tổ.
Bóc vỏ: 2 tổ 8 đồng chí.
Mở cửa ở tuyến rào ngoài bí mật luồn sâu ém vào mục tiêu khi nổ súng diệt toàn bộ mục tiêu ở tuyến vỏ, làm chủ thu chiến lợi phẩm giải quyết tốt chính sách. Bắt liên lạc với mũi 4-6.
Trung tuyến 2 tổ: 6 đ/c khắc phục chướng ngại tuyến 2 bí mật luồn sâu ém sẵn vào mục tiêu. Tiêu diệt toàn bộ mục tiêu khu vực trận địa pháo. Làm chủ trận địa, bắt tù binh thu vũ khí.
Thọc sâu 2 tổ: 6 đồng chí luồn ém vào mục tiêu tiêu diệt toàn bộ mục tiêu ở bắc chòi cu làm chủ trận địa. Bắt liên lạc với mũi 4 + 6 ở chòi cu.
Dự bị: 8 đồng chí trong khi tiếp cận sẵn sàng làm nhiệm vụ. Nghi binh thu hút địch tạo điều kiện cho lực lượng lớn tiếp cận đồng thời là lực lượng thay thế khi có thương vong.
Khi nổ súng nhanh chóng chiếm tuyến ngoài tiếp tục cho lực lượng ở trong trung tâm tiêu diệt toàn bộ mục tiêu trong khu vực của mũi.
Mũi 6: Do C1 đảm nhiệm gồm 32 đồng chí (có 19 dự bị).
Đồng chí Mai C trưởng làm mũi trưởng.
Đồng chí Đức Chính trị viên làm Chính trị viên mũi.

Tấn công vào Đông Bắc mục tiêu là mũi chủ yếu thứ 3, sẵn sàng làm nhiệm vụ của mũi 2 + 4 khi 2 mũi bạn gặp khó khăn.
Tiêu diệt toàn bộ mục tiêu tuyến ngoài từ lô cốt góc Đông Bắc đến tiếp giáp mũi 7: chiều sâu tới chòi cu, tảo trừ sạch, tìm diệt hầm ngầm bắt tù binh thu vũ khí giải quyết tốt chính sách.
- Bắt liên lạc với mũi 2 ở chân chòi cu, nối 2 đầu dây để E chỉ huy tiểu đoàn.
Tổ chức thành 3 tuyến 6 tổ.
Tuyến 1: Bóc vỏ: Gồm 2 tổ 10 đ/c do đồng chí (...) mở cửa ở tuyến ngoài bí mật điều ém quân vào mục tiêu. Tiêu diệt toàn bộ mục tiêu ở tuyến vỏ 2 bên cửa mở. Làm chủ bắt liên lạc với mũi 5 + 7.
Tuyến 2: Trung tuyến: Gồm 2 tổ 6 đ/c khắc phục chướng ngại vật tuyến trong, điều ém quân vào mục tiêu, tiêu diệt toàn bộ mục tiêu ở phía sau tổ thọc sâu, dọc đường tiếp giáp mũi 5 + 7 sẵn sàng chi viện cho tổ thọc sâu.
Tuyến 3:Thọc sâu: Gồm 2 tổ 6 đ/c bí mật luồn ém vào mục tiêu, sẵn sàng nổ bộc phá lệnh làm nhiệm vụ của tổ thọc sâu mũi 2, đánh tiêu diệt toàn bộ mục tiêu phía Đông chòi cu, bắt liên lạc mũi 2 nối đường dây để E chỉ huy D.
Dự bị: 10 đ/c, đ/c Toan BT làm tổ trưởng, đ/c Tỉnh Bphó làm tổ phó nhiệm vụ như dự bị mũi 5.
Mũi 7: Do C2 đảm nhiệm gồm 15 đồng chí
- Đồng chí Tiến C trưởng làm mũi trưởng.
- Đồng chí Hãn Btrưởng làm mũi phó.
- Đồng chí Sơn B viên làm C viên mũi
- Tấn công vào Đông Đông Nam mục tiêu. Điều ém quân tiêu diệt toàn bộ mục tiêu ở tuyến vỏ tiếp giáp mũi 6 và tới lô cốt góc Đông Nam, chiều sâu bên phải trận địa pháo
- Tiêu diệt triệt để, đánh chà sát, tiêu diệt hầm ngầm, làm chủ thu vũ khí, bắt tù binh, giải quyết tốt chính sách.
- Bắt liên lạc với mũi 1 nối đường dây để E chỉ huy D.
- Điều chỉnh, bố trí lại lực lượng chiếm giữ toàn bộ khu vực do tiểu đoàn đảm nhiệm, sẵn sàng đánh địch mới xuất hiện và phản kích ban ngày.
+ Tổ chức thành 2 tuyến 4 tổ:
Tuyến 1: Bóc vỏ gồm 2 tổ 8 đồng chí bí mật khắc phục chướng ngại vật tuyến ngoài, điều ém quân vào mục tiêu, tiêu diệt toàn bộ mục tiêu ở tuyến vỏ, bắt liên lạc với tổ bóc vỏ của mũi 6 + 1 nối đường dây với mũi, để E chỉ huy D.
Tuyến 2: Trung tuyến gồm 7 đ/c thành 2 tổ bí mật khắc phục chướng ngại tuyến 2, điều ém quân tiêu diệt toàn bộ mục tiêu bên phải trận địa pháo, đánh chà sát tiêu diệt triệt để, làm chủ, thu hút, trong khu vực phân công.
Tiểu đoàn 1 bộ binh:
Tổ chức lực lượng của D hình thành.
+ C3 đi sau đội hình mũi 2, khi nổ súng nhanh chóng vào chiếm tuyến ngoài, bắt liên lạc với đặc công để thọc sâu, cắm chốt vào trung tâm, đánh phát triển tảo trừ các khu vực đặc công chưa giải quyết hết, tiêu diệt hầm ngầm.
+ C trợ chiến (c4E205) tăng cường cho D14: 2 cối 82, cho C57/D78: 2ĐK, còn lại 1 ĐK nằm cùng C1 là lực lượng dự bị sẵn sàng vào chốt cùng C3 giải quyết chiếm toàn bộ mục tiêu sau đó bố trí đánh địch từ bắc chạy về.
+ C1+ SCH nằm sau CHS D13 là lực lượng dự bị sẵn sàng vào chốt cùng C3 hoặc 1 cửa nào khác của D13 để dứt điểm sớm, sẵn sàng đánh địch mới xuất hiện bên ngoài và có thể cùng D78 chốt giữ hướng Nam ngã 3 đường be (đường xe bò).

Tiểu đoàn 78:
Là lực lượng dự bị cơ động của E đánh địch xuất hiện ở bên ngoài.
- Sẵn sàng thay thế D13+ D14 kết hợp cùng bộ binh chốt giữ mục tiêu.
- Tổ chức 20 vận tải do E nắm, nằm trong đội hình của hậu cần vận tải theo kế hoạch của E.
Cụ thể các C:
C54 chốt giữ ngã 3 đường be (Bù- Ghe) đánh địch từ Nam lên bảo vệ cho hướng Nam của Bù-Bông.
C55+BCH D là lực lượng dự bị cho E đứng sau cao điểm 900 sẵn sàng đánh địch mới xuất hiện theo lệnh của E.
C57 được tăng cường 2 khẩu ĐK + 2 cơ cấu A72/5 đạn, đúng giờ chiếm lĩnh đưa đội hình vượt qua sân bay sang đông lộ, chiếm lĩnh cao điểm sẵn sàng đánh địch từ cụm tăng thiết giáp chi viện sang và địch mới xuất hiện trong khu vực sân bay.
C27 cối 82: Gồm 3 cối + 10 quả đạn H.12 tăng cường cho D14; 2 khẩu cối và 6 đạn H.12 còn lại đúng giờ quy định cho chiếm lĩnh trận địa ở sau cao điểm 900, sẵn sàng chi viện cho Bù-Bông, khu vực sân bay, đánh địch ở 934+982 và các khu vực khác địch mới xuất hiện trong phạm vi E đảm nhiệm.
C3 cao xạ F9: Tăng cường cho C1 cao xạ/429 1 khẩu, còn lại 3 khẩu đúng giờ quy định cho chiếm lĩnh trận địa ở Nam sân bay chi viện cho chốt và đánh địch mặt đất mới xuất hiện ở sân bay.
C1 cao xạ 429: Được tăng cường 1+1 khẩu của C3 thành 2 khẩu 12,8 ly, 1K57 bố trí trận địa ở Tây Bắc cao điểm 900 sẵn sàng đánh địch trên không chi viện cho bộ binh và đánh địch mặt đất mới xuất hiện, nếu bên trong giải quyết tốt sẵn sàng đưa 1 khẩu 12,8 + 1 K57 vào, thành cụm phòng không bên trong mục tiêu.
Bộ phận A72: Tăng cường cho D14+ D78, lực lượng còn lại bố trí trận địa cùng C1 cao xạ/429 hình thành 3 cụm đánh địch chắc thắng theo thủ đoạn chiến thuật của binh chủng.
Bộ phận B72: Đến giờ chiếm lĩnh sẽ có trinh sát của E về dẫn đưa lên cấu trúc trận địa tại mỏm Bắc của cao điểm 900. Đánh địch trong mục tiêu Bù-Bông khi có lệnh để chi viện cho bộ binh đồng thời sẵn sàng đánh địch trên 934, 982 và xe tăng từ hướng Bắc chạy về hoặc khu vực cụm pháo đồn dân vệ và địch mới xuất hiện trong khu vực sân bay.
Các đơn vị và cơ quan phục vụ theo yêu cầu của trận đánh bảo đảm cho thủ trưởng nắm được tình hình địch, chỉ huy được ta, bảo đảm cho E hoàn thành nhiệm vụ trên giao
Công tác hiệp đồng - Chỉ lệnh hành quân xuống bàn đạp “
Đặc điểm:
- Địa hình đồi cao, trống, dốc, suối sâu, muỗi vắt nhiều, địch thường xuyên hoạt động bằng biệt kích, thám báo.
- Đội hình đông, thời gian gấp, chỗ ở chật hẹp.
- Đi đêm mang nặng, ít người biết đường.
Yêu cầu:
- Đi gọn, đến đủ, đúng thời gian.
- Bí mật an toàn, chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật mệnh lệnh
- Ngụy trang đường đi, chỗ nghỉ nhất là những chỗ gần địch.
- Không dùng đèn soi ngoài trống trên cao, chỉ dùng trong rừng, phải hạn chế ánh sáng.
+ Trong lúc trú quân:
- Cấm chặt đẽo la ồn ào.
- Nấu cơm: củi phải không khói.
Tổ chức:
- Từng đơn vị độc lập tổ chức hành quân đến vị trí quy định.
- C12 + D21 bảo đảm nắm địch và đường đi cho 2 cánh an toàn.
- Tổ chức thành 2 cánh
+ Cánh Tây hình thành 4 khối:
- Khối 1: D13 + D1BB + C23 thông tin + Chỉ huy sở.
- Khối 2: C1 cao xạ/429 + C3 cao xạ/f9 + C27 cối + A72 + B72.
- Khối 3: D78 + Phẫu.
- Khối 4: Hậu cần và vận tải.
+ Cánh Đông: D14 + Quan sát sở và các đơn vị tăng cường tổ chức hành quân thành 1 khối.
Thời gian xuất phát của các cánh, các bộ phận xuống bàn đạp
- 17 giờ ngày 1/11/73 cánh Đông xuất phát, sáng 2/11/73 tới bàn đạp
+ Cánh Tây: 6 giờ sáng 2/11 các khối có mặt ở bàn đạp.
- Khối 1: 17 giờ ngày 1/11/73 xuất phát, đến 6 giờ ngày 2/11 có mặt tại bàn đạp
- Khối 2: 23 giờ xuất phát, 6 giờ 2/11 đến trung gian nghỉ, 17g30 lại xuất phát đến 21 giờ tới bàn đạp.
- Khối 3: 17 giờ ngày 2/11 xuất phát, 6 giờ ngày 3/11 đến bàn đạp.
- Khối 4: 23 giờ ngày 2/11 xuất phát – 21g30 ngày 3/11 tới bàn đạp.
5 giờ ngày 4/11 lực lượng vận tải của trên có mặt tại phẫu E đồng thời vận tải E có mặt tại CHS
Hành quân chiếm lĩnh tuyến xuất phát tấn công:
Các đơn vị gồm D13 + D1(-) + C3 cao xạ + CHS E và D14 + các bộ phận của cánh Đông cùng xuất phát.
- 14 giờ 30 ngày 3/11/74 xuất phát.
- 16 giờ 30 tới phẫu.
- 18 giờ 30 tới quan sát chỉ huy sở E.
- 22 giờ 30 từ đài quan sát E đi chiếm lĩnh, C3 cao xạ cũng được xuất phát, khi qua khỏi suối dừng lại cho đi trinh sát lại trận địa. 3 giờ mới cho chiếm lĩnh, 5 giờ chuẩn bị xong toàn bộ sẵn sàng chiếm đấu.
- 23 giờ các mũi của D13 + D14 tới vị trí ngụy trang.
- 2 đài quan sát của pháo và cơ giới (thiết giáp M26) xuất phát sau D13 + D14 là 1 giờ, đến 2 giờ 4/11 lên đài xong.
- C1 cao xạ + C27 cối 82 + A72 – đi sau khối D13 + 14 là 1 giờ
- 3 giờ 15 các đơn vị C1 + C27 + A72 cho chiếm lĩnh (5 giờ xong toàn bộ)
Đơn vị D78 + B72 + phẫu xuất phát sau khối 1 là 1g30.
3 giờ cho chiếm lĩnh trận địa. Riêng C54 ra cách trận địa 2km cho dừng lại, 3g15 cùng cho chiếm lĩnh, 5 giờ xong toàn bộ.
Thời gian của đặc công:
- 22 giờ 30’ các mũi cắt nhát kéo đầu tiên.
- 23 giờ bộ đội tới chỗ ngụy trang chuẩn bị.
- 2 giờ cắt xong rào tuyến ngoài.
- 0 giờ bộ đội, bắt đầu ngụy trang và xong.
- 1 giờ tới cách cửa mở 80-100m.
- 1g30 đầu đội hình vào rào 1.
- 2 giờ 30 bắt đầu cắt tuyến rào 2.
- 2 giờ 10’ các mũi 2 + 4 + 6 một mũi cho 1 tổ 3 – 4 đ/c bí mật luồn qua tuyến rào 2 vào bên trong.
- 2 giờ 20’ các mũi 5 – 7 cùng cho 1 tổ vào trên trong.
- 2 giờ 40 mũi 2 điều quân ém vào mục tiêu.
- 2 giờ 45 mũi 4 + 6 điều quân ém
- 3 giờ 15 các mũi ém xong riêng mũi 3 lúc này mới được điều quân ém vào mục tiêu.
- 3 giờ 15 là giờ G.
Cho đợi thêm 15 phút.
Nổ súng 3 giờ 30 phút.
Nếu trước 2 giờ khi hàng rào 8 chưa cắt xong bộ đội chưa vào tới rào 8, mũi nào lộ thì tìm cách ẩn nấp giữ bí mật chung, còn các mũi khác tiếp tục hành động và thời gian nổ súng kéo dài thêm 30 phút.
G: 3 giờ 30’ + 30’ là 4 giờ.
Mật khẩu ký tín ám hiệu:
- Bắt liên lạc với xe tăng: Xe ngụy trang bằng cành cây, có sao vàng bên sườn, phía trước có cắm 1 lá cờ hoặc 1 miếng vải nhỏ. Khi đi bắt liên lạc với xe người phải ngụy trang bằng cành cây, tay cầm 1 miếng vải đỏ, bẻ cành lá chắn ngang đường xe sẽ dừng lại.
- Trên đường phát triển nếu có cành lá chắn ngang đường thì không được bước qua mà phải đợi có người dẫn vì có mìn (sẽ có người gác ngay bên đường).

Trong trận nội:
+ Đặc công cởi trần, ngụy trang mặc sơ líp. Mặc quần đùi đầu trần hoặc đội mũ binh chủng.
+ Bộ binh mặc quần áo đầu không đội mũ, cánh tay trái buộc miếng vải trắng tua quanh ra ngoài.
Mật khẩu: hỏi : Đoàn. Đáp: Kết.
Ám hiệu : Tróc lưỡi cộng tròn 4.
Vị trí chỉ huy:
- Chỉ huy sở E Tây Nam chốt sau chỉ huy sở của D13 (Nam Đông Nam cao điểm 900).
- D13 sau mũi 2 cách chốt 400m.
- D1BB Nam Tây Nam chốt cách 600 m (phía sau bên trái CHS D13).
- D78 sau cao điểm 900 bên trái đài quan sát của pháo.
- D14 đông chân cao điểm 900, cách chốt 400m, ban ngày tùy theo địa hình các quan sát Sở có thể di chuyển trong khu vực, để bảo đảm chỉ huy được đơn vị mình.
Công tác bảo đảm :
Bảo đảm chỉ huy: kết hợp giữa 3 phương tiện.
+ Vô tuyến: Từ chỉ huy sở E xuống D14 + C54 + C57 +D13 + C3 là K63, ngoài ra giữa chỉ huy sở và D14 có mang PRC25 sẵn sàng làm việc khi K63 mất liên lạc.
+ Hữu tuyến: Từ CHS E xuống D13 +D1, 1 đường dây.
+ Từ E xuống D78 đài quan sát C1 cao xạ + C27 là 1 đường dây, từ D13 xuống mũi 1 + 2 + 4 và từ D14 xuống mũi 5 + 6 + 7.
- Ngoài ra các đơn vị tổ chức 1 hệ thống thông tin chạy bộ để nắm các bộ phận khi cần thiết.
- Tất cả mạng vô tuyến khi nổ súng mới được mở máy liên lạc.
Bảo đảm chính sách thương binh tử sĩ:
- Đơn vị tự lực tổ chức giải quyết từ mặt trận về đến phẫu của E.
- Mỗi đồng chí đánh trong trận nội có 2 cuộn băng cá nhân nếu không đủ thì tập trung cho lực lượng tác chiến trận nội bằng đủ.
- Lực lượng vận tải của E sẵn sàng vào trận nội chi viện cho các đơn vị giải quyết chính sách.
- Tử sĩ của các đơn vị đưa về 1 vị trí tập trung mai táng cẩn thận có ghi số đề dễ kiểm sau này.
- Đi theo các đơn vị đều có tiểu phẫu của tiểu đoàn, E tổ chức 1 trung phẫu đi với D14 và 1 trạm phẫu đặt ở hướng Tây cách Chỉ huy sở E 1 giờ về phía sau.
Bảo đảm chính sách tù hàng binh, chiến lợi phẩm:
- Mỗi đơn vị tổ chức 1 tổ thu dọn chiến lợi phẩm, E có ban thu nhận chiến lợi phẩm có cán bộ 3 cơ quan phụ trách bàn giao, thu nộp đều phải có biên bản chứng từ.
- Tù binh bắt được đưa về phẫu của E sẽ lấy lực lượng của các đơn vị áp tải về trại.
- Vũ khí phương tiện thu được đem về phẫu giao lại cho ban thu dọn chiến trường.
Bảo đảm các mặt khác:
- Gạo khi xuất kích ăn hết 7/11, từ 8/11 sẽ lấy gạo tại phẫu của E.
- Thực phẩm ăn hết ngày 15/11 chủ yếu là muối, mỡ và bột ngọt.
- Quân số ốm yếu, đồ đạc nặng nề không mang đi được các đơn vị tổ chức để lại tại cứ tạm dừng (Buprang) và có 1 y tá biết bệnh viện ở lại để chăm sóc số ốm yếu; gạo ăn hết 7/11, thực phẩm ăn hết 20/11; sau đó hậu cần có kế hoạch bảo đảm tiếp.
- Khi xuất kích các đơn vị phải bảo đảm có đủ cơ số 1 về vũ khí, các trang bị cá nhân phải mang theo, cơ số 2 do hậu hần bảo đảm có tại phẫu E.
- Lực lượng tăng phối cho D14 cơ số 1 do E lo, cơ số 2 do hậu cần kết hợp với D14 lo.
- Mỗi đơn vị 1 đội vận tải, 20 đ/c cánh Tây do hậu cần nắm, cánh Đông D14 có 20 đ/c + trên tăng cường 14 đ/c + 5 đ/c của E do 14 nắm và chỉ huy bảo đảm vận tải vũ khí lương thực trong ngày, giải quyết chính sách tiếp theo.
- Mỗi đơn vị phải tổ chức 1 tổ dân vận có cán bộ chính trị chủ trì.
(Còn tiếp )
Kỳ sau: Dội lửa vào căn cứ Bù Bông và diễn biến trận đánh
* Bù Bông trước đây thuộc tỉnh Đắk Nông, nay sáp nhập thuộc tỉnh Lâm Đồng.