Vĩnh biệt nhà khoa học Võ Sở Vọng và "Lục bát cuộc đời"

GS.TSKH Võ Sở Vọng sử dụng thành thạo nhiều ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nga) và có nhiều đóng góp trong lĩnh vực vật lý, từng là Trưởng phòng Hiển vi điện tử – Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) và thuộc nhóm nghiên cứu viên cao cấp đầu tiên của cả nước. Năm 2002, ông vinh dự được Trung tâm Tiểu sử Quốc tế Cambridge (Vương quốc Anh) vinh danh là một trong 2.000 nhà khoa học xuất sắc của thế kỷ 20. Sau khi rời phòng thí nghiệm, Võ Sở Vọng viết tập hồi ký bằng thơ lục bát mang tên "Lục bát cuộc đời" (dài gần 5.000 câu) để ghi lại hành trình cuộc đời mình và được giới thiệu trên nhiều chương trình truyền hình.
3a913162-950e-42e6-8e46-23a50a64cece-1793665437.png

GS.TSKH Võ Sở Vọng và nhà văn Đặng Vương Hưng tại Thư phòng "Trái tim người lính".

GS.TSKH Võ Sở Vọng được biết đến nhiều trong lĩnh vực vật lý, với những nghiên cứu về cấu trúc tinh thể và vật liệu. Công trình tiêu biểu là nghiên cứu cấu trúc thực của đơn tinh thể calomel (Hg₂Cl₂), đóng góp cho khoa học và công nghệ vật liệu. Ông từng chủ trì 5 đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản cấp Nhà nước, công bố hơn 60 công trình nghiên cứu, chủ yếu ở nước ngoài.

Tôi có chút duyên với GS.TSKH Võ Sở Vọng trong những năm tháng cuối đời, khi ông nhờ biên soạn và giới thiệu với bạn đọc cuốn sách “Lục bát cuộc đời”; đồng thời, tổ chức tôn vinh ông trong một chương trình truyền hình…

1. Từ mất mát tuổi thơ đến con đường khoa học

GS.TS Võ Sở Vọng sinh năm 1942. Quê hương Đức Thọ, Hà Tĩnh và truyền thống gia đình là những điểm khởi đầu để hiểu hành trình của ông. Cha ông là cụ Võ Hợp, một người tham gia lãnh đạo phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh tại địa phương. Nhưng đã bị chết oan trong biến động năm 1956, sau đó được minh oan.

Nhắc lại nỗi đau ấy trong giờ tiễn biệt người con, cần sự chừng mực và lòng kính trọng. Sau một biến cố lịch sử là những phận người cụ thể, những đứa trẻ phải lớn lên khi thiếu bàn tay cha. Với người đọc hôm nay, điều đáng suy ngẫm là một con người đã tiếp tục sống, học tập và xây dựng cuộc đời mình như thế nào sau mất mát.

Không ai có thể chọn hoàn cảnh sinh ra. Nhưng qua từng lựa chọn, từng ngày bền bỉ, con người có thể tạo ra một hướng đi. Hành trình học tập của Võ Sở Vọng gợi lên sức mạnh ấy: tri thức mở thêm một cánh cửa khi cuộc sống tưởng như đã khép lại quá nhiều cơ hội.

GS.TSKH Võ Sở Vọng sử dụng thành thạo nhiều ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nga) và có nhiều đóng góp trong lĩnh vực vật lý, từng là Trưởng phòng Hiển vi điện tử – Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) và thuộc nhóm nghiên cứu viên cao cấp đầu tiên của cả nước.

Năm 2002, ông vinh dự được Trung tâm Tiểu sử Quốc tế Cambridge (Vương quốc Anh) vinh danh là một trong 2.000 nhà khoa học xuất sắc của thế kỷ 20.

Sau khi rời phòng thí nghiệm, Võ Sở Vọng viết tập hồi ký bằng thơ lục bát mang tên "Lục bát cuộc đời" (dài gần 5.000 câu) để ghi lại hành trình cuộc đời mình và được giới thiệu trên nhiều chương trình truyền hình.

Đằng sau những con số là công việc mà công chúng thường ít có dịp hình dung đầy đủ. Một kết quả thực nghiệm cần thời gian chuẩn bị, kiểm tra, đối chiếu; một nhận định phải chịu sự xem xét của đồng nghiệp. Thành tựu khoa học vì vậy mang trong nó cả những giờ lao động âm thầm, những lần phải làm lại và sự kiên nhẫn trước điều chưa biết.

Tưởng nhớ một nhà khoa học cũng là dịp trân trọng thứ lao động ấy. Xã hội cần những công trình có ích, đồng thời cần hiểu và nâng đỡ con người làm ra chúng. Sự ghi nhận có ý nghĩa nhất phải bắt đầu từ thái độ tôn trọng công việc nghiêm túc, tạo điều kiện để tài năng được phát triển và để người nghiên cứu yên tâm theo đuổi chuyên môn.

2. Gửi một đời người vào câu sáu câu tám

Nếu các công trình nghiên cứu là phần đóng góp chuyên môn, “Lục bát cuộc đời” cho thấy một nhu cầu khác của Võ Sở Vọng: kể lại và lưu giữ. Tác phẩm được Nhà xuất bản Thanh niên xuất bản năm 2021, gồm 4.952 câu lục bát. Báo Xây dựng đã giới thiệu cuốn sách ngay trong tháng 5 năm ấy.

Trong thư gửi nhà thơ Đặng Vương Hưng, được công bố cùng bài giới thiệu sách, ông cho biết đã dành hơn mười năm cho bản hồi ký và nhiều lần chỉnh sửa. Ông tìm đến người sáng lập cộng đồng Lục Bát Việt Nam để xin góp ý trước khi đưa tác phẩm đến bạn đọc.

Chi tiết ấy khiến người đọc thêm trân quý tác giả. Một người có kinh nghiệm nghiên cứu vẫn cẩn trọng khi bước sang lĩnh vực văn chương, biết cần lắng nghe một cách nhìn khác. Sự cẩn trọng tạo nên vẻ đẹp của người trí thức: càng hiểu công việc của mình, càng biết tôn trọng công việc của người khác.

d1haq1-1673053896-1793665933.jpg
Nhà văn Đặng Vương Hưng và GS.TSKH Võ Sở Vọng trong một chương trình truyền hình...

Lựa chọn lục bát để viết hồi ký cũng gợi nhiều suy nghĩ. Câu sáu, câu tám vốn gần với lời ru, với trí nhớ gia đình và cách người Việt giãi bày tâm sự. Khi một cuộc đời khoa học đi vào nhịp thơ ấy, người đọc có thêm một lối tiếp cận gần gũi với những chuyện vốn dễ bị xem là xa lạ.

Dĩ nhiên, đưa chuyện nghề vào thơ không đơn giản. Thuật ngữ, địa danh, sự kiện đều cần chính xác; nhịp và vần lại có đòi hỏi riêng. Đọc một hồi ký như thế, cần dành sự chú ý cho điều tác giả muốn lưu giữ, cho tình cảm và trách nhiệm đặt sau mỗi trang viết. Giá trị tư liệu cần được đọc cẩn thận, đối chiếu khi cần; sự chân thành của người kể cần được đón nhận bằng thiện ý.

Một cuốn hồi ký không thể thay thế toàn bộ lịch sử. Nó trao cho lịch sử một tiếng nói cụ thể, với ký ức và giới hạn của một con người. Chính từ những lời kể được gìn giữ, người sau có thể tìm thêm câu hỏi, bổ sung chứng cứ, hiểu rõ hơn những hoàn cảnh đã làm nên một thế hệ.

Bởi vậy, việc ông bỏ công viết lại đời mình đáng được nhìn như một hành động trao gửi. Người viết chấp nhận trở về với chuyện cũ, sắp xếp những điều đã qua, để con cháu và bạn đọc có cơ hội biết đến. Trang sách giúp cuộc đối thoại giữa các thế hệ tiếp tục khi người kể chuyện không còn hiện diện.

3. Tri ân bằng việc gìn giữ di sản tinh thần

Trước một cuộc tiễn biệt, chúng ta thường nghĩ đến điều người đã khuất để lại. Với một nhà khoa học, đó có thể là công trình, bản thảo, thư từ, sổ ghi chép; với gia đình, còn là nếp sống, lời dặn và những kỷ niệm không thể quy thành một danh mục thành tích.

“Lục bát cuộc đời” gợi nhắc giá trị của loại tài sản tinh thần ấy. Một cuốn sách có thể giúp người cháu hiểu thêm về ông, giúp bạn đọc trẻ nhận ra người làm khoa học cũng có những ước vọng, lo toan và tổn thương. Từ sự thấu hiểu, lòng kính trọng trở nên gần gũi và bền chặt hơn.

Văn hóa tri ân vì thế cần được tiếp nối bằng những việc cụ thể. Giữ một bản sách, bảo quản một bức thư, ghi rõ xuất xứ một tư liệu, đọc lại một công trình là những cách chăm sóc ký ức. Khi sử dụng hồi ký, sự tôn trọng còn thể hiện ở việc giữ đúng lời người viết, phân biệt lời kể với kết luận đã được kiểm chứng.

Với gia đình, mỗi kỷ vật đều có phần tình cảm riêng. Với cộng đồng, những tư liệu được chia sẻ có thể góp thêm hiểu biết về đời sống trí thức Việt Nam. Sự gìn giữ cần kiên nhẫn và ý thức trách nhiệm, bởi một tờ giấy thất lạc đôi khi mang theo một câu chuyện không còn ai đủ khả năng kể lại.

Trong giờ phút này, đọc lại tên sách “Lục bát cuộc đời” càng thấy thấm thía. Cuộc đời hữu hạn, còn lời kể có thể đến với những người chưa từng gặp tác giả. Qua trang viết, họ biết rằng đã có một người cố gắng sống, làm việc và lưu lại điều mình chứng kiến bằng thứ tiếng thân thuộc của quê hương.

Vĩnh biệt nhà khoa học Võ Sở Vọng. Xin được tưởng nhớ ông bằng lòng kính trọng đối với lao động trí tuệ, bằng sự nâng niu những trang hồi ký và bằng ý thức giữ gìn ký ức con người. Từ hôm nay, mỗi lần cuốn sách được mở ra, cuộc trò chuyện với người đã khuất lại có thể bắt đầu.

Hà Nội, 03/11/2026
Đặng Vương Hưng

_______

THÔNG TIN TANG LỄ

Theo cáo phó của gia đình, GS.TS Võ Sở Vọng từ trần lúc 3 giờ 50 ngày 31/10/2026, hưởng thọ 85 tuổi.

Lễ viếng: 9 giờ 30 ngày 5/11/2026, tại Nhà tang lễ Bệnh viện 19-8, Bộ Công an; cổng số 4, ngõ 58 phố Trần Bình, phường Từ Liêm, Hà Nội.

Lễ truy điệu và đưa tang: 10 giờ 45 cùng ngày. Hỏa táng tại Đài hóa thân Hoàn Vũ, Văn Điển, Hà Nội. An táng tại nghĩa trang quê nhà ở Đức Lạng, Đức Đồng, Hà Tĩnh, theo địa danh ghi trong cáo phó.