Phần 3: Tổ chức chiến đấu
III. TỔ CHỨC CHIẾN ĐẤU
1. Hiệp đồng tác chiến
a) Giai đoạn hành quân chiếm lĩnh vị trí chuẩn bị mở cửa mở
- Trục hành quân chính: Đội hình phát lệnh xuất phát lúc 15 giờ 30 phút, tổ chức vượt qua các tuyến đường khống chế của địch lúc 19 giờ 00 phút ngày 02 tháng 12 năm 1973. Thứ tự hành quân lần lượt là: Tiểu đoàn Đặc công 14 (thiếu Đại đội Đặc công 2), Tiểu đoàn Đặc công 78, và Đại đội 2 (Tiểu đoàn 14).
- Trục hành quân phối thuộc: Cánh quân của Tiểu đoàn Đặc công 13 tổ chức vượt đường theo một hướng độc lập, xuất phát cùng thời gian (15 giờ 30 phút ngày 02 tháng 12 năm 1973).
- Nguyên tắc thông tin liên lạc:
- Đại đội 2 (Tiểu đoàn 14) chịu trách nhiệm bắt liên lạc chặt chẽ với Tiểu đoàn Đặc công 78 để kịp thời báo cáo tình hình mặt trận về Sở chỉ huy Trung đoàn.
- Tiểu đoàn Đặc công 78 sử dụng hệ thống thông tin vô tuyến điện để báo cáo di biến động về Trung đoàn.
- Các trận địa hỏa lực đi cùng và Sở chỉ huy tiền phương của các tiểu đoàn tuyệt đối không được xây dựng hay lộ diện trước giờ nổ súng.
- Xử lý tình huống mất liên lạc: Các bộ phận phải chủ động, linh hoạt hành động độc lập, tự quyết đoán theo đúng mốc thời gian và nhiệm vụ chiến thuật đã được giao.
-

Thiếu tướng Trần Thanh Phương - Nguyên Tư lệnh Binh chủng Đặc công trao kỷ niệm chương cho CCB Đặc công 429 -Thứ tự từ phải qua trái - Nguyễn Minh Trực. Tiếp nối mạch trận đánh Kiến Đức là những đóng góp thầm lặng của Đại tá Nguyễn Trung Tín cùng các đồng chí Hoàng Điệp, Trần Thanh Phương, Trịnh Bá Nhân thuộc tổ trinh sát điều nghiên chiến trường Chi khu Kiến Đức.
b) Giai đoạn thực hành đánh chiếm mục tiêu
- Thời gian nổ súng: Đúng 03 giờ 15 phút rạng sáng ngày 04 tháng 12 năm 1973, Mũi 2 phát lệnh nổ súng đánh bộc phá mở màn, phát hỏa cho toàn mặt trận.
- Hiệp đồng binh chủng (Đặc công - Thiết giáp): Từ 06 giờ 30 phút ngày 04 tháng 12, Đại đội 3 (Tiểu đoàn Đặc công 14) phải bắt liên lạc chặt chẽ với lực lượng xe tăng của ta.
- Tình huống khó khăn: Nếu trận đánh bên trong chi khu chưa dứt điểm, cánh Đặc công gặp chuyển biến bất lợi, lập tức điều động xe tăng vào chi viện hỏa lực, dập tắt các hỏa điểm cố thủ của địch.
- Tình huống thuận lợi: Nhanh chóng hướng dẫn xe tăng phát triển mũi tiến công đánh thọc sâu xuống Nhân Cơ.
- Tình huống bất lợi tại khu vực cầu Doãn Văn: Tổ chức dẫn đường cho xe tăng tiến lên bàn giao cho chốt giữ, chuyển sang phương án tiến công trực diện vào phía sau đội hình phòng ngự của địch.
- Tín - Ám hiệu hiệp đồng:
- Mật khẩu: Hỏi: “Quyết” – Đáp: “Thắng”.
- Ám hiệu nhận biết: Tróc lưỡi để hỏi; đáp lại bằng tổng số tiếng cộng với nhau bằng 5.
- Ký tín hiệu thực địa:
- Cách hỏi: Tay trái cầm cành cây, lá ngụy trang, mũ hoặc khăn đưa lên quá đầu và quay tròn nhiều vòng (thực hiện liên tục 2 lần).
- Lực lượng Đặc công: Cởi trần, bôi trát bùn đất ngụy trang toàn thân, đầu trần hoặc đội mũ vải binh chủng.
- Lực lượng Bộ binh: Cánh tay trái buộc một miếng vải trắng để nhận diện, đầu trần.
- Xe tăng: Ngụy trang bằng cành cây che khuất, hai bên sườn xe sơn phù hiệu của Quân Giải phóng.
2. Công tác bảo đảm chiến đấu
- Bảo đảm bí mật:
- Giữ bí mật hành quân tuyệt đối vào ban đêm; nghiêm cấm sử dụng đèn chiếu sáng và hút thuốc.
- Thực hiện xóa dấu vết triệt để trong suốt quá trình trinh sát điều nghiên và hành quân chiếm lĩnh trận địa. Cán bộ, chiến sĩ tuyệt đối không được tiết lộ nhiệm vụ cho người ngoài.
- Đường cơ động: Các bộ phận phải chủ động chuẩn bị sẵn cho đơn vị từ 2 đến 3 con đường hành quân dã chiến. Tổ chức các tổ bám nắm chắc tình hình địch, bảo đảm vượt qua các trục đường lộ an toàn, đúng thời gian hiệp đồng.
- Chỉ huy và thông tin liên lạc: Kết hợp liên hoàn cả 3 phương tiện thông tin để bảo đảm chỉ huy thông suốt giữa các hướng mũi:
- Mạng hữu tuyến điện: Thiết lập đường dây từ Sở chỉ huy Trung đoàn xuống Tiểu đoàn 13, trận địa tên lửa chống tăng B72 (sau chuyển cho phân đội tên lửa phòng không vác vai A72) bằng mạng liên hoàn 3 máy. Đặt đường dây từ Sở chỉ huy Trung đoàn xuống Đại đội súng cối 82mm và Đại đội cao xạ thuộc Sư đoàn bộ binh 9 (fBB9) với quy mô 3 máy. Kéo đường dây từ Sở chỉ huy về đài quan sát trên cao (2 máy). Từ Sở chỉ huy Tiểu đoàn Đặc công 13 đặt đường dây trực tiếp xuống các Mũi 1, Mũi 2 và Mũi 3. Từ Sở chỉ huy Tiểu đoàn Đặc công 78 đặt đường dây xuống các Mũi 4, Mũi 5 và Đại đội súng máy cao xạ 12,8mm của Trung đoàn.
- Mạng vô tuyến điện: Tổ chức mạng liên lạc gồm 6 máy thông suốt giữa Sở chỉ huy cơ bản với các Tiểu đoàn 13, 78, 3 phân đội của Tiểu đoàn Đặc công 14, và Đại đội 12 (đang làm nhiệm vụ chốt giữ ở cầu Doãn Văn). Tiểu đoàn 78 giữ liên lạc trực tiếp với Đại đội 54 đang chốt chặn ở điểm cao 700. Riêng hai đại đội thuộc Tiểu đoàn Đặc công 14 sử dụng máy thông tin PRC-25 để giữ liên lạc trực tiếp với Trung đoàn.
- Thông tin vận động: Các đơn vị chủ động tổ chức mạng lưới liên lạc chạy chân để kịp thời chỉ huy, truyền đạt mật lệnh và thông báo tình hình thực địa.
-

Các cựu chiến binh Trung đoàn Đặc công 429 trong ngày gặp mặt, giao lưu kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Bù Bông - Kiến Đức tổ chức tại huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông (Từ trái qua phải: Trần Công Sơn, Nguyễn Minh, Ngô Duy Hiểu, Vũ Thanh Tường, Nguyễn Tư, Dương Long).
- Bảo đảm hậu cần - kỹ thuật:
- Nguồn lương thực gạo dự trữ đã được tập kết tại vị trí quy định, bảo đảm đủ cung cấp cho bộ đội hoạt động đến hết ngày 07 tháng 12. Khi hành quân chiếm lĩnh trận địa, mỗi chiến sĩ tự mang theo 1 ngày phần ăn bằng gạo sấy dã chiến.
- Về y tế, mỗi chiến sĩ bắt buộc mang theo 2 cuộn băng cá nhân. Trung đoàn tổ chức một đội phẫu y tế chiến trường bố trí ngay phía sau Sở chỉ huy Trung đoàn.
- Lực lượng hậu cần Trung đoàn dự trữ sẵn 2 cơ số vũ khí, đạn dược tại đội phẫu để sẵn sàng tiếp tế, bổ sung cho các hướng mũi trong suốt quá trình chiến đấu giằng co.
3. Tổ chức chỉ huy
Sở chỉ huy cơ bản của Trung đoàn được đặt ở hướng Tây, cách Chi khu Kiến Đức khoảng 2,5 km, bố trí ngay phía sau trận địa hỏa lực Trung đoàn. Sở chỉ huy phía sau được đặt cách Sở chỉ huy cơ bản về phía Tây 1,5 km. Ban chỉ huy sử dụng liên hoàn cả 3 phương tiện thông tin (hữu tuyến điện, vô tuyến điện, liên lạc vận động) để chỉ huy nhịp nhàng các bộ phận và các hướng mũi tấn công.

4. Các mốc thời gian chiến dịch
- 17 giờ 00 phút ngày 01/12/1973: Các đơn vị hoàn thành toàn bộ công tác chuẩn bị chiến đấu.
- 15 giờ 30 phút ngày 02/12/1973: Bộ đội phát lệnh hành quân chiếm lĩnh trận địa.
- 21 giờ 00 phút ngày 03/12/1973: Tiểu đoàn 13 tiếp cận vị trí tạm dừng.
- 22 giờ 00 phút ngày 03/12/1973: Tiểu đoàn 78 vào đến vị trí tạm dừng; hai đơn vị lập tức triển khai công tác ngụy trang bí mật tại chỗ.
- 23 giờ 30 phút ngày 03/12/1973: Tiểu đoàn 13 và Tiểu đoàn 78 triển khai các tổ mũi nhọn tiến hành cắt hàng rào kẽm gai.
- 01 giờ 00 phút ngày 04/12/1973: Đội hình tiến sát đến lớp hàng rào ngoài cùng của chi khu.
- 02 giờ 40 phút ngày 04/12/1973: Hoàn thành công tác mở cửa mở, Mũi 2 bắt đầu luồn sâu vào trong lõi đồn.
- 02 giờ 45 phút ngày 04/12/1973: Mũi 4 thực hiện luồn sâu.
- 02 giờ 50 phút ngày 04/12/1973: Mũi 1 và Mũi 3 vận động luồn sâu.
- 03 giờ 00 phút ngày 04/12/1973: Mũi 5 thực hiện luồn sâu.
- Giờ G: Được ấn định chính thức từ 03 giờ 00 phút ngày 04 tháng 12 năm 1973. Thời gian chờ hiệp đồng giữa các mũi là 15 phút.
- 03 giờ 15 phút ngày 04/12/1973: Đồng loạt nổ súng tiến công dồn dập vào các mục tiêu bên trong chi khu.
-

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Lân (nguyên Tiểu đoàn phó Đặc công 14, Tham mưu phó Trung đoàn Đặc công 429, người trực tiếp tham gia chỉ huy trận đánh Chi khu Kiến Đức) thực hiện nghi lễ dâng hương tại Đài tưởng niệm liệt sĩ tỉnh Đắk Nông
5. Dự kiến các tình huống chiến trường và cách xử lý
- Tình huống gặp dân thường: Trên đường hành quân chiếm lĩnh nếu vô tình gặp dân thường, toàn đội hình phải chủ động giữ bí mật, khéo léo chuyển hướng né tránh để bảo đảm tính bất ngờ.
- Tình huống bị lộ khi đang tiếp cận: Nếu bị lộ khi mới cắt đến lớp hàng rào thứ 2, chỉ huy phải kiên quyết phát lệnh cho bộ đội chuyển sang phương án cường tập, táo bạo thọc sâu đánh chiếm mục tiêu, trước hết phải khóa chặt bằng được mục tiêu đầu cầu vòng ngoài.
- Phương châm tác chiến: Quán triệt nguyên tắc "đánh chắc, tiến chắc", liên tục điều động lực lượng dự bị vào tiếp viện chiến đấu. Kiên quyết giữ vững đầu cầu mở cửa mở để tạo bàn đạp thuận lợi cho đội hình xe tăng và bộ binh chủ lực tiến vào phối hợp tiêu diệt địch.
-

Bằng xếp hạng Di tích Quốc gia Địa điểm chiến thắng Chiến dịch Tây Quảng Đức (tháng 11/1973 - tháng 4/1974) tại khu vực Chi khu Kiến Đức, thị trấn Kiến Đức, huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông.
(Còn tiếp)
T .Đ
(*) Địa danh lịch sử Chi khu Kiến Đức thời kỳ đó nay tương ứng với địa bàn xã Kiến Đức, tỉnh Lâm Đồng.