Câu chuyện về 2 sơ đồ mục tiêu khác nhau và người chỉ huy trận đánh kho 53 tổng kho Long Bình đêm 12/8/1972

Đầu tháng 6 năm 1972, Tiểu đoàn 9 chân ướt chân ráo từ chiến trường Bình Dương lật cánh sang chiến trường Biên Hòa để tham gia thành lập Trung đoàn Đặc công 113. Sau khi mở đầu bằng trận thắng vang dội của Tiểu đoàn pháo 174 vào phi trường Biên Hòa thì đến xung lực phải ra tay hành động. Mà điều đó cũng đúng thôi, đạn pháo có thể giáng vào bãi để máy bay trên các đường lăn, hoặc trực chiến phơi mình trên đường băng lồ lộ ra đó chứ không thể “róc” vào được từng kho bom đạn ở dưới mặt đất, vừa có đê bao chắn hết sức kỹ lưỡng. Để đột nhập vào trong, nghiên cứu tỷ mỉ cách bố phòng của địch và hành động có kết quả là cả một vấn đề công phu lắm. Nhiệm vụ quan trọng này, Đảng uỷ - Ban Chỉ huy Trung đoàn giao cho Tiểu đoàn 9. Sau khi điều tra nghiên cứu xong, chúng tôi quyết định sử dụng ba mũi, mỗi mũi 12 người, trang bị toàn thủ pháo loại thuốc hợp chất C4 và kíp hẹn giờ.

Em lấy cái sơ đồ trận đánh kho 53, Tổng kho Long Bình ở mô đăng trên bài kỷ niệm chiến thắng Long Bình?

Em chụp trong quyển Lịch sử Lữ đoàn Đặc công 113 (1972-2022), thủ trưởng ạ.

Sơ đồ đó chưa đúng với sơ đồ anh có trong tay.

Anh trực tiếp cùng bộ phận trinh sát điều nghiên kho Long Bình từ đầu đến lúc đánh nổ tan tành. Sơ đồ vẽ tay gốc anh đang còn giữ đây. Chà, mình là nhân chứng chính mà khi viết sử chả hỏi mình.

Người nói với tôi chính là Đại tá Nguyễn Văn Tải, nguyên Chánh Văn phòng Bộ Tư lệnh Đặc công, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đặc công 113.

2aoboqpp5bkfxw2un6ifxjozzkwmvshhgkromoz6-1786500200.jpg
Đại tá Nguyễn Văn Tải người chỉ huy trận đánh kho 53 Tổng kho Long Bình - Ảnh ; NVCC

Đêm 12 rạng ngày 13/8/1972, trên cương vị là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9, Trung đoàn Đặc công 113, ông đã dẫn 36 cán bộ, chiến sĩ chia làm 3 mũi bí mật luồn sâu, ém sát, cài đặt mìn hẹn giờ, phá hủy toàn bộ kho 53, Tổng kho Long Bình (Đồng Nai). Báo chí ngụy Sài Gòn loan tin: “Đặc công cộng sản đánh nổ tung cái dạ dày của Mỹ, Ngụy”.

Ông nhỏ nhẹ nói:

“Anh biết em đọc Sử Lữ đoàn Đặc công 113, nghe ông Đỗ Văn Ninh (Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Binh chủng Đặc công), Ngô Văn Sơn (Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Đại đội trưởng Đại đội Trinh sát 53, người chỉ huy một mũi đánh kho 53) kể lại chuyện trực tiếp điều nghiên, đánh kho 53, Tổng kho Long Bình.

2aoboqpp4shqvae0igk4z4jptzfzvvotfutqh0oy-1786500216.jpg
Sơ đồ mục tiêu kho 53, Tổng kho Long Bình. Nguồn: Lịch sử Lữ đoàn Đặc công 113

Khi đưa lên có tư liệu phải đúng với sự kiện thì mới thuyết phục người nghe, người đọc. Số cán bộ, chiến sĩ trực tiếp tham gia trận đánh đêm 12/8/1972 nay còn lại rất ít. Hiện nay, chỉ huy trận đánh còn có anh và anh Ngô Văn Sơn. Các thành viên khác sau chiến tranh cũng không có điều kiện liên lạc nên không biết ai còn, ai mất.

Về cái sơ đồ mục tiêu kho 53, anh chụp cho em để lúc nói chuyện, đăng bài phải đưa sơ đồ các anh vẽ và đã qua thực chiến. Những người đã qua trận đánh đó họ xem họ mới công nhận tư liệu lịch sử.”

2aoboqpp4qad6zaaycj9sdopfympybntwdk9wca8-1786500222.jpg
Sơ đồ mục tiêu kho 53, Tổng kho Long Bình do tổ trinh sát điều nghiên trận đánh vẽ. Nguồn ảnh: Đại tá Nguyễn Văn Tải cung cấp

Ông là Nguyễn Văn Tải, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1942. Quê quán: xã Thạch Quý, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Hộ khẩu thường trú: Khối 5, phường Lê Lợi, TP. Vinh, tỉnh Nghệ An (nay là phường Lê Lợi, tỉnh Nghệ An).

Tham gia cách mạng: 10/02/1959. Ngày nhập ngũ: 20/3/1959. Ngày vào Đảng: 17/5/1967; chính thức: 17/01/1968.

Cấp bậc: Đại tá - Chánh Văn phòng Bộ Tư lệnh Đặc công; ông nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9, E113 Đặc công; nguyên Trung đoàn Phó Trung đoàn Đặc công 116; nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đặc công 113; nguyên Hiệu trưởng Trường Hạ sĩ quan Đặc công; Chuyên gia Đặc công tại Cuba.

Nghỉ hưu: Ngày 15/01/1995.

dvh1d1-1666322627-1786500251.jpg
Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thanh Tùng, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 113 Đặc công đầu tiên năm 1972, người trực tiếp chỉ đạo trận đánh. Ảnh: Lịch sử Lữ đoàn Đặc công 113.

Trong quá trình chiến đấu, ông bị thương 02 lần, được xếp thương binh hạng 3/4 (43%). Ông sinh ra trong gia đình bần nông có 02 anh em, ông là em.

Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ông còn nhỏ và đi ở chăn trâu cho địa chủ đến tháng 4/1949. Gia đình nội ngoại không có ai làm gì cho đế quốc và phong kiến. Tháng 5/1949, trở về ở với bố, đi học bình dân học vụ, giúp đỡ gia đình.

Tháng 2/1959, tham gia sinh hoạt Đoàn Thanh niên tại địa phương. Đến đầu tháng 3/1959, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ông đã viết đơn lên đường nhập ngũ vào Trung đoàn 18, Sư đoàn 325, huấn luyện ở Quảng Bình.

Sau 3 tháng huấn luyện, đến tháng 6/1959, ông được điều động về Đại đội 2, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 18, Sư đoàn 325. Tiếp tục được học tập, huấn luyện các kỹ, chiến thuật chiến đấu bộ binh đến tháng 5 năm 1960. Ông cùng đơn vị tham gia mở đường vào làng Ho.

715714121-2766178997081842-7355783860063741055-n-1786500232.jpg
Mũi trưởng Ngô Văn Sơn. Ảnh: Lịch sử Lữ đoàn Đặc công 113

Trận đánh địch đầu tiên tại đồn Tà Khống, đường 13 ở sông Sê Pôn, đơn vị giải phóng hoàn toàn sân bay Mường Phin, cầu Caky, Bản Đông, tiếp tục chốt giữ vùng giải phóng và tham gia huấn luyện lực lượng vũ trang địa phương của Lào.

Đến tháng 10/1961, ông cùng đơn vị tiếp tục chiến đấu giải phóng đồn Tăng Vai; tháng 10/1961 đánh đồn Tà Ạc ở Hạ Lào. Sau đó, ông được Trung đoàn điều về làm Tiểu đội trưởng trinh sát của Trung đoàn 101.

Hiệp định hòa bình Giơnevơ của Lào tháng 9/1962, ông cùng đơn vị trở về Việt Nam. Cùng lúc đó, bản thân ông được giải quyết chính sách xuất ngũ, chuyển ngành về Chi cục Công nghiệp Muối Hà Tĩnh.

Khi địch mở rộng chiến tranh ra miền Bắc tháng 3/1965, ông viết đơn tình nguyện xin trở lại phục vụ quân đội và đến tháng 4/1965 có giấy báo tái ngũ, trở lại đơn vị Đại đội 1, Tỉnh đội Hà Tĩnh, với cương vị Tiểu đội trưởng.

Đến tháng 7/1965, được đi học Trường Quân chính Quân khu 4 tại Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Tháng 10/1965, được chuyển tiếp ra học tại Trường Sĩ quan Lục quân 1 (Tiểu đoàn 3 - Trinh sát Lục quân) ở Sơn Tây.

Ngày 31/5/1966, tốt nghiệp ra trường, được phong quân hàm Thiếu úy và được điều về Cục Nghiên cứu (Tình báo). Đến tháng 6/1966, được điều động đi học lớp cán bộ Đặc công tại T2, Phùng (huyện Đan Phượng cũ).

Tháng 12/1966, tốt nghiệp khóa học, được điều về Tiểu đoàn 4 ở Chương Mỹ, Hà Tây (nay là Hà Nội), làm Trợ lý tham mưu huấn luyện về kỹ, chiến thuật chiến đấu Đặc công cho cán bộ, chiến sĩ để bổ sung cho chiến trường miền Nam.

Tháng 4/1969, ông Nguyễn Văn Tải cùng đơn vị lên đường tăng cường cho chiến trường miền Đông Nam Bộ. Với bản lĩnh của một cán bộ trẻ, đã cùng đồng đội vào cuộc chiến đấu mới với kẻ thù, bất chấp hiểm nguy. Đồng chí đã trực tiếp tham gia hàng chục trận đánh, đạt hiệu suất chiến đấu rất cao, giảm thiểu thương vong cho đồng đội.

Nổi bật là trận đánh kho 53, Tổng kho Long Bình đêm 12/08/1972.

427971980-2055669914799424-7159453294225853748-n-1786500243.jpg
Mũi phó Hồ Văn Sinh. Ảnh: Lịch sử Lữ đoàn Đặc công 113

Đầu tháng 6 năm 1972, Tiểu đoàn 9 chân ướt chân ráo từ chiến trường Bình Dương lật cánh sang chiến trường Biên Hòa để tham gia thành lập Trung đoàn Đặc công 113.

Sau khi mở đầu bằng trận thắng vang dội của Tiểu đoàn Pháo 174 vào phi trường Biên Hòa thì đến xung lực phải ra tay hành động. Mà điều đó cũng đúng thôi, đạn pháo có thể giáng vào bãi để máy bay trên các đường lăn, hoặc trực chiến phơi mình trên đường băng lồ lộ ra đó chứ không thể “róc” vào được từng kho bom đạn ở dưới mặt đất, vừa có đê bao chắn hết sức kỹ lưỡng.

Để đột nhập vào trong, nghiên cứu tỉ mỉ cách bố phòng của địch và hành động có kết quả là cả một vấn đề công phu lắm. Nhiệm vụ quan trọng này, Đảng ủy - Ban Chỉ huy Trung đoàn giao cho Tiểu đoàn 9.

Sau khi điều tra, nghiên cứu xong, chúng tôi quyết định sử dụng ba mũi, mỗi mũi 12 người, trang bị toàn thủ pháo loại thuốc hợp chất C4 và kíp hẹn giờ.

Mũi một, anh Tư già, một cán bộ đặc công U1 kỳ cựu tại đây và anh Chương, anh Thành, anh Thi.

Mũi thứ hai, anh Lũy mũi trưởng, Thống mũi phó.

Mũi thứ ba có đồng chí (Đ/c) Ngô Văn Sơn mũi trưởng (sau này Ngô Văn Sơn được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân); Đ/c Phương, Chính trị viên; đồng chí Hồ Văn Sinh mũi phó (sau này Hồ Văn Sinh được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân).

Bản thân tôi là Tiểu đoàn trưởng nhưng cùng vào kho với anh em, vặn nắp quả đạn pháo, cài thuốc nổ xong ra báo cáo với anh Nguyễn Thanh Tùng, Trung đoàn trưởng (sau này là Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân).

(Còn nữa)

Kỳ sau: Phương án tác chiến mục tiêu kho 53, Tổng kho Long Bình, đêm 12 rạng 13/8/1972.