Chợ truyền thống Hà Nội lưu giữ nét văn hoá sống động của vùng đất nghìn năm văn hiến

Giữa nhịp sống hiện đại của một Hà Nội đang chuyển mình, người ta vẫn thấy nét bình yên, dung dị của những khu chợ truyền thống. Mỗi khu chợ lâu đời lưu giữ hồn cốt và hơi thở văn hóa của vùng đất nghìn năm văn hiến.

Ngược dòng thời gian, chợ truyền thống Việt Nam hình thành từ chính nhu cầu tự cung tự cấp của nền văn minh lúa nước. Ban đầu chợ chỉ là cái gò đất đầu làng, gốc cây đa cổ thụ hay bến sông thuận tiện đường thuyền. Chợ lớn dần lên cùng tiến trình lập làng, lập phố. Dần dần, chợ trở thành nơi  con người trao đổi những thứ họ làm ra và mua về những thứ họ không có.

Dòng chảy lịch sử ẩn mình trong những góc chợ xưa

Từ hàng nghìn năm trước, chợ gắn liền với sự hình thành của các cộng đồng dân cư. Hà Nội xưa có tên gọi là Kẻ Chợ - nơi hội tụ các phường nghề, trung tâm buôn bán lớn nhất cả nước thời bấy giờ. Mạng lưới thương nghiệp tại Thăng Long trải khắp đô thành.

anh-1-1781238697.jpg
Khung cảnh buôn bán tấp nập ở chợ xưa. (Nguồn: Tư liệu lịch sử 36pho.com)

Từ thế kỷ XI, hoạt động giao thương ở kinh thành Thăng Long đã có những bước phát triển đáng kể. Năm 1035, nhà Lý cho xây dựng chợ Tây Nhai với các dãy hành lang phục vụ buôn bán tại khu vực chợ Ngọc Hà ngày nay. Đồng thời, vua Lý Thái Tông cũng cho mở chợ ở khu vực Cửa Đông (nay thuộc phố Hàng Buồm), cạnh đền Bạch Mã, góp phần hình thành mạng lưới chợ sầm uất của kinh thành.

Trong thế kỷ 17-18, hệ thống chợ tại Thăng Long phát triển phát triển một cách mạnh mẽ. Do là nơi tập trung dân cư và các dãy phố, số lượng chợ tại đây nhiều hơn các địa phương khác, đặc biệt là khu vực 36 phố phường. Theo tài liệu Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, khu vực trung tâm lúc bấy giờ có tám chợ lớn: chợ Cửa Đông, chợ Cửa Nam, chợ Huyện, chợ Đình Ngang, chợ Bà Đá, chợ Văn Cử, chợ Bác Cử và chợ Ông Nước.

Nằm giữa khu phố cổ Hà Nội, chợ Đồng Xuân như một chứng nhân lịch sử chứng kiến những thay đổi của Thăng Long - Hà Nội hàng trăm năm qua. Dù trải qua nhiều biến động của các giai đoạn lịch sử nhưng chợ Đồng Xuân vẫn giữ được kiến trúc cũ.

anh-2-1781238697.jpg
Chợ Đồng Xuân xưa. (Nguồn: DHA Collection)

Theo sử sách ghi lại, trong thời gian xây dựng lại thành Thăng Long vào mùa Hạ năm Giáp Tý (1804), Tổng trấn Nguyễn Văn Thành dưới triều Nguyễn đã cho đặt ngôi chợ lớn ở cửa chính Đông. Người dân họp chợ trên hai khu đất ở cạnh chùa Cầu Đông ở phố Hàng Đường và cạnh đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm, gần bến sông, tiện cho thuyền đi lại. Năm 1889, người Pháp quy hoạch lại, đã giải tỏa hai chợ trên và dồn tất cả hàng quán vào khu đất trống của phường Đồng Xuân, hình thành nên chợ Đồng Xuân.

Nếu giai đoạn 1900 - 1930 là thời kỳ thăng hoa của chợ Đồng Xuân trong dòng chảy giao thương thì những thập niên tiếp theo của thế kỷ XX lại phủ lên nơi này dấu ấn của chiến tranh. Giữa lòng phố cổ, chợ Đồng Xuân trở thành “pháo đài” trong cuộc chiến bảo vệ Thủ đô. Giữa những trang sử hào hùng của 60 ngày đêm kháng chiến ở Hà Nội, trận chiến trong lòng chợ ngày 14/2/1947 đã trở thành biểu tượng bi tráng của tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

anh-3-1781238697.jpg
Tượng đài “Hà Nội Mùa Đông 1946” ở chợ Đồng Xuân tưởng niệm những chiến sĩ đã hy sinh bảo vệ Thủ Đô. (Ảnh: Xuân Lâm)

PGS,TS Phạm Ngọc Trung - nguyên Trưởng khoa Văn hóa và Phát triển, Học viện Báo chí và Tuyên truyền chia sẻ: “Chợ Đồng Xuân tồn tại như một chứng tích lịch sử giữa lòng phố cổ. Địa điểm này trở thành đầu mối hàng hóa, nơi các nhà buôn từ các tỉnh thành hội tụ. Chợ giữ vai trò là trung tâm kinh tế của khu vực Bắc Bộ. Tại mặt tiền chợ, bức phù điêu "Hà Nội - Mùa đông 1946" được đặt để tưởng nhớ các chiến sĩ đã hy sinh trong những ngày đầu kháng chiến bảo vệ Thủ đô”.

Bên cạnh những phố nghề lâu đời, nhiều khu chợ buôn khác cũng góp phần quan trọng vào quá trình hình thành và phát triển mạng lưới chợ ở Hà Nội. Có thể kể đến một số chợ nổi tiếng như: Chợ Hàng Da, chợ Hàng Bè, chợ Mơ, chợ Hôm, chợ Bưởi. Với tần suất họp 6 phiên mỗi tháng, các chợ chủ yếu trao đổi nông sản, thực phẩm, con giống và nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp. Theo thời gian, hoạt động buôn bán ngày càng mở rộng với nhiều mặt hàng phong phú hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân.

Trong dòng chảy lịch sử, chợ truyền thống Hà Nội vẫn là một phần không thể thiếu. Nơi đây không chỉ dừng lại ở vai trò giao thương mà đã trở thành nhịp cầu nối liền ký ức với đời sống hiện tại, đóng vai trò như những thực thể văn hóa mang tính di sản bền bỉ. Giá trị của chúng không chỉ nằm ở kiến trúc in dấu thời gian hay những dãy sạp hàng lâu năm, mà nằm ở phần "hồn" được tạo nên từ những nếp sinh hoạt đời thường được truyền nối qua nhiều thế hệ

Nơi kết tinh hồn cốt văn hóa

Xưa kia, tất cả bến đò dọc theo sông Hồng đều là những nơi đón hàng mạn ngược về kinh đô Thăng Long, rồi lại tỏa đi các nơi buôn bán. Mỗi bến đò mang dấu ấn văn hóa từng vùng và từ đó hình thành nên các chợ ven sông.

Chợ không chỉ dừng lại ở chức năng lưu thông hàng hóa mà còn là nơi khởi nguồn của ngôn ngữ thị dân. Trong quá trình giao lưu, mời chào và thuyết phục khách mua, người dân đã hình thành nên lối giao tiếp đặc trưng của chốn Kẻ Chợ. Ngôn ngữ thị dân vì thế trở nên linh hoạt, trực diện và gần gũi, phản ánh đúng nhịp sống thực tế của cư dân đô thị qua các thời kỳ.

Các khu chợ còn là điểm gặp gỡ của những giá trị văn hóa đến từ nhiều vùng miền. Tại đây, bên cạnh các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống hằng ngày, người dân còn bắt gặp những sản phẩm thủ công mang đậm bản sắc địa phương như tranh Đông Hồ, gốm Bát Tràng, đồ mây tre đan hay thổ cẩm vùng Tây Bắc. Mỗi sản phẩm chứa đựng câu chuyện về làng nghề, về con người và vùng đất nơi nó được tạo ra. Nhờ đó, khu chợ trở thành cầu nối đưa tinh hoa văn hóa từ khắp mọi miền hội tụ về đất Kinh kỳ.

c5db0899-bb11-4fbf-b17d-46d83a2818d6-1781238720.jfif
Các gian hàng đồ lưu niệm sản phẩm truyền thống được trưng bày tại chợ Đồng Xuân. (Nguồn: Xuân Lâm)

“Hoạt động giao thương đã đưa những sản phẩm từ khắp các vùng miền như gốm Bát Tràng, tranh Đông Hồ, các món ăn đặc trưng của mỗi vùng đến gần hơn với người dân. Từ chỗ là hàng hóa thiết yếu, những sản phẩm này dần khẳng định giá trị, hình thành nên các làng nghề văn hóa, theo dòng lịch sử nó trở thành những di sản văn hóa vật thể quý giá đến tận sau này”. PGS, TS Phạm Ngọc Trung cho biết.

anh-5-1781238697.jpg
PGS,TS Phạm Ngọc Trung chia sẻ về nét văn hóa chợ. (Nguồn: Nhật Ánh)

Bởi vậy, cũng không thể phủ nhận rằng, chợ truyền thống Hà Nội góp phần phát triển văn hóa đất Kinh kỳ. Vào mỗi dịp Tết, chợ truyền thống lại trở thành không gian văn hóa tinh thần đặc sắc. Người dân tìm đến chợ không chỉ để sắm sửa vật dụng, mà còn để xin câu đối đỏ - một phong tục gắn liền với sự trân trọng chữ nghĩa. Bên cạnh đó, vào những dịp lễ, Tết, nhiều hoạt động văn hóa dân gian, biểu diễn nghệ thuật truyền thống được tổ chức tại các khu chợ. Những hoạt động văn hóa góp phần tạo nên không khí gần gũi, giàu bản sắc tại các khu chợ truyền thống

Chợ chính là một hình ảnh gần gũi, thân quen, là tuổi thơ, thậm chí gắn bó với cả cuộc đời đối với một số người. Nhiều nhà nghiên cứu cũng khẳng định rằng, chợ truyền thống là một phần không thể thiếu trong tâm thức của người Hà Nội khi nhắc đến đời sống sinh hoạt hàng ngày, nhất là đối với các bà, các mẹ. Chợ thường gắn với văn hóa vật chất, khả năng sản xuất, tiêu dùng của từng địa phương, nên nhìn vào hàng hóa được bày bán, người ta có thể hình dung ra đời sống của địa phương đó, thói quen tiêu dùng của nơi đó ra sao.

Bà Nguyễn Lê Mai (phường Cầu Giấy) cho biết, dù sống giữa khu đô thị đầy đủ tiện ích, bà vẫn giữ thói quen ra chợ mỗi sáng. “Đi chợ từ bé theo mẹ thành thói quen. Ra chợ gặp người quen, hỏi thăm vài câu, cái cảm giác gần gũi ấy giúp người ta chậm lại giữa nhịp sống đô thị”, bà Mai tâm sự.

Tuy vậy, chợ không đơn thuần là nơi giao thương, mà còn là nơi gặp gỡ, trao đổi thông tin, giao lưu văn hóa. Người ta không chỉ đi chợ mua bán hàng hóa mà còn đi chơi chợ, thăm thú chợ, gặp gỡ người quen để trò chuyện. Nhiều câu chuyện to nhỏ, từ chuyện nhà cửa, bạn bè, người thân và cả những câu chuyện không đầu không cuối được trao đổi vui vẻ cùng nhau. Những người khác có thể thăm thú, ngắm nhìn những mặt hàng được bày bán, xem cách người ta giao lưu, mua bán với nhau. Chợ cũng là nơi người phụ nữ thể hiện sự đảm đang, tháo vát của mình để lựa chọn những đồ thực phẩm cho bữa ăn ngon, những vật dụng cần thiết trong gia đình. Hay cũng là niềm vui của cả người mua, lẫn người bán khi trao đổi được món hàng ưng ý trong sự cởi mở.

Chợ truyền thống không chỉ là nơi giao thương, mà còn là minh chứng cho một bề dày lịch sử, một nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc được hình thành qua thời gian. Dù vẫn hiện hữu hay chỉ còn đọng lại trong ký ức, những khu chợ ấy vẫn lưu giữ và phản chiếu các giá trị văn hóa đặc sắc của người Việt qua nhiều thế hệ.