
Diễn đàn “Chuyển đổi số trong hợp tác xã – Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường” là dịp để các hợp tác xã, đơn vị liên quan trao đổi về ứng dụng công nghệ, dữ liệu và nền tảng số trong sản xuất, kinh doanh, mở rộng thị trường.
Thực tế hoạt động của Hợp tác xã Nấm Tam Đảo, ông Nguyễn Quốc Huy mang đến Diễn đàn một bài toán cụ thể về chi phí khi đưa nông sản lên các sàn thương mại điện tử. Hợp tác xã hiện sản xuất nấm, dược liệu và các sản phẩm chế biến sâu từ đông trùng hạ thảo. Hiện nay, chuyển đổi số trong nông nghiệp những năm gần đây đã có nhiều thay đổi rõ rệt. Người nông dân, hợp tác xã từng bước làm quen với bán hàng trực tuyến, mở gian hàng trên nền tảng số và sử dụng mã QR để truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Đây là những công cụ cần thiết để tiếp cận người tiêu dùng và mở rộng thị trường.
Tuy nhiên, từ thực tế sản xuất, kinh doanh, Hợp tác xã Nấm Tam Đảo nhận thấy một vấn đề cần được nhìn nhận đầy đủ hơn. Đó là khi sản phẩm được đưa lên sàn thương mại điện tử, chi phí bán hàng tăng cao, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của người sản xuất. Theo tham luận, nút thắt hiện nay không chỉ nằm ở kỹ năng số của người nông dân mà còn nằm ở cơ cấu chi phí khi bán hàng qua các sàn thương mại điện tử.
Giá bán cao hơn nhưng vẫn có thể thua lỗ

Theo tính toán của Hợp tác xã Nấm Tam Đảo, khi bán sản phẩm trực tiếp hoặc qua kênh truyền thống, giá nông sản tương đối ổn định. Sau khi trừ chi phí sản xuất, phần lợi nhuận không lớn nhưng người sản xuất vẫn có thể duy trì hoạt động.
Khi đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử, cơ cấu chi phí thay đổi đáng kể. Người bán phải chịu phí cố định, phí thanh toán, phí dịch vụ, phí tham gia chương trình khuyến mại cùng nhiều khoản khác. Riêng các khoản phí liên quan đến sàn được Hợp tác xã Nấm Tam Đảo tính toán ở mức khoảng 30 – 35% giá bán. Cộng thêm chi phí đóng gói, vận chuyển, hàng hoàn trả, quảng cáo và tiếp thị, tổng chi phí bán hàng có thể lên tới khoảng 60 – 65% giá bán.
Để minh họa, ông Nguyễn Quốc Huy đưa ra trường hợp một sản phẩm chế biến sâu có giá thành sản xuất 100.000 đồng. Nếu bán trực tiếp với giá 130.000 đồng, sau khi trừ chi phí bán hàng, hợp tác xã còn lợi nhuận khoảng 19.600 đồng, tương đương khoảng 15%.
Nhưng khi sản phẩm được niêm yết trên sàn với giá 200.000 đồng, bài toán lại hoàn toàn khác. Phí sàn được tính khoảng 66.000 đồng, đóng gói 10.000 đồng, vận chuyển và hoàn hàng 18.000 đồng, quảng cáo và tiếp thị 30.000 đồng. Tổng chi phí bán hàng lên tới 124.000 đồng. Cộng với giá thành sản xuất 100.000 đồng, hợp tác xã lỗ khoảng 24.000 đồng trên mỗi sản phẩm.
Như vậy, sản phẩm bán trên sàn với giá 200.000 đồng, cao hơn đáng kể so với mức 130.000 đồng khi bán trực tiếp, nhưng người sản xuất vẫn bị lỗ. Theo tính toán trong tham luận, nếu muốn có lợi nhuận khoảng 10% trong điều kiện chi phí bán hàng chiếm 62%, sản phẩm phải được bán với giá khoảng 357.000 đồng, gần gấp 2,75 lần giá bán trực tiếp. Đây là mức giá khó được người tiêu dùng chấp nhận.
Với nông sản tươi, áp lực còn lớn hơn. Nấm tươi có giá thành khoảng 32.000 đồng một kilôgam, bán tại chợ với giá 40.000 đồng một kilôgam, người sản xuất có thể lãi khoảng 8.000 đồng. Nếu bán trên sàn với cơ cấu chi phí như trên, giá hòa vốn phải khoảng 84.000 đồng một kilôgam; muốn đạt lợi nhuận 10%, giá phải lên khoảng 114.000 đồng một kilôgam, gần gấp ba lần giá bán tại chợ. Thực tế này khiến hợp tác xã đứng trước lựa chọn khó: tăng giá để bù chi phí thì khó bán, còn giữ giá phù hợp với sức mua thì lợi nhuận thấp, thậm chí thua lỗ. Vì vậy, nhiều gian hàng trực tuyến mới dừng ở mức duy trì sự hiện diện, chưa thể trở thành kênh tiêu thụ chính.
Cần chia sẻ lợi ích hài hòa giữa hợp tác xã, sàn và người tiêu dùng
Từ bài toán thực tế, ông Nguyễn Quốc Huy kiến nghị cần nghiên cứu cơ chế điều tiết phí sàn đối với nông sản và sản phẩm của hợp tác xã.
Theo đề xuất của Hợp tác xã Nấm Tam Đảo, các cơ quan chức năng có thể nghiên cứu, hướng dẫn hoặc có cơ chế làm việc với các sàn thương mại điện tử để áp dụng mức phí phù hợp hơn đối với gian hàng của hợp tác xã, sản phẩm OCOP và nông sản có truy xuất nguồn gốc. Mức tổng chiết khấu được đề xuất khoảng 10 – 15% giá bán. Theo tính toán của hợp tác xã, nếu phí sàn được giảm và các chi phí khác được tối ưu, người sản xuất có thể đạt lợi nhuận khoảng 10 – 15% mà không phải nâng giá sản phẩm lên quá cao.
Cùng với đó là đề xuất phát triển các kênh thương mại điện tử có định hướng hỗ trợ, xây dựng gian hàng chuyên biệt dành cho sản phẩm của hợp tác xã với mức phí thấp hơn; có chính sách hỗ trợ cước vận chuyển, ưu tiên hiển thị và quảng bá đối với sản phẩm OCOP, sản phẩm đã được chứng nhận chất lượng.
Một vấn đề khác được đặt ra là kiểm soát chất lượng hàng hóa trên môi trường số. Hợp tác xã Nấm Tam Đảo đề xuất tăng cường kiểm soát nguồn gốc, có nhận diện đối với “Sản phẩm hợp tác xã xác thực” gắn với mã truy xuất; đồng thời xử lý hàng giả, hàng kém chất lượng nhằm bảo vệ cả người sản xuất và người tiêu dùng.
Đào tạo kỹ năng số cũng cần gắn với quản trị chi phí. Thay vì chỉ hướng dẫn hợp tác xã mở gian hàng và bán hàng trực tuyến, việc đào tạo cần giúp người sản xuất biết tính đúng giá thành, xác định đầy đủ các khoản chi phí và lựa chọn mức giá phù hợp với từng kênh phân phối.
Về phía Hợp tác xã Nấm Tam Đảo, ông Nguyễn Quốc Huy cho biết đơn vị tiếp tục ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, thực hiện truy xuất số để minh bạch nguồn gốc và duy trì chất lượng sản phẩm.
Câu chuyện từ Hợp tác xã Nấm Tam Đảo cho thấy hiệu quả chuyển đổi số không nên chỉ được nhìn qua số lượng gian hàng trực tuyến hay số sản phẩm được đưa lên sàn. Điều quan trọng là sau mỗi đơn hàng, người sản xuất có đủ khả năng bù đắp chi phí và còn lợi nhuận để tiếp tục sản xuất.
Muốn thương mại điện tử trở thành kênh tiêu thụ lâu dài cho nông sản, bài toán chi phí cần được tính toán trên cơ sở hài hòa lợi ích giữa hợp tác xã, sàn thương mại điện tử và người tiêu dùng. Như thông điệp được Hợp tác xã Nấm Tam Đảo nhấn mạnh trong tham luận, chuyển đổi số chỉ thực sự thành công khi người nông dân và hợp tác xã có lợi nhuận từ chính kênh số.