Ông Cả nhấp ngụm trà, đặt cái chén xuống đánh cạch:
- Lạ thật! Người ta làm ngành y, cả đời nói chuyện cứu người, cuối cùng có người lại phải nhờ pháp luật cứu mình khỏi những năm tháng tù tội!
Anh Mõ đang quét lá ngoài hiên, nghe vậy liền xen vào:
- Cụ nói thế oan cho thầy thuốc. Người chữa bệnh cho dân thì đáng kính. Còn người khoác áo công quyền, cầm quyền quản lý mà làm sai, thì phải gọi đúng tên việc mình làm chứ ạ!

Bị cáo Nguyễn Thị Kim Tiến, cựu Bộ trưởng Bộ Y tế tại phiên tòa. Ảnh: TTXVN.
Ông Cả cười nhạt:
- Ừ, chú nói phải. Áo blouse không phải bùa hộ mệnh, bằng cấp không phải giấy miễn trách nhiệm, mà chức vụ càng cao thì cái bóng trách nhiệm càng dài. Chỉ có điều, người dân mình vẫn quen nghĩ ngành y là nơi cứu người, nên khi nghe chuyện quan chức ngành y vào tù, cái đau không chỉ nằm ở bản án. Nó nằm ở chỗ niềm tin bị đem ra thử lửa.
Chuyện làng - Chuyện phố lần này có hai vụ, nghe qua tưởng chẳng liên quan, ngẫm kỹ lại thấy cùng một căn bệnh: Một bên là tiền của dân bị thất thoát, lãng phí trong các dự án bệnh viện; bên kia là hoạt động giám định pháp y tâm thần bị một số người lợi dụng để nhận hối lộ, làm sai lệch hồ sơ, trục lợi.
Một bên đáng lẽ phải xây nơi cứu người, một bên đáng lẽ phải xác định sự thật để pháp luật xử lý đúng người, đúng tội. Vậy mà cả hai đều xuất hiện những người từng được giao trọng trách, rồi chính họ lại trở thành bị cáo trước vành móng ngựa.
Ông Cả lắc đầu:
- Người xưa bảo lương y như từ mẫu. Nhưng từ mẫu mà quên mất chữ lương, người giữ phép mà quên mất chữ liêm, thì còn lại cái gì?
Anh Mõ thủng thẳng:
- Còn chức danh để in trên danh thiếp, cụ ạ!
Cả quán cười. Nhưng tiếng cười chưa kịp tan thì ông Cả đã thở dài. Bởi có những chuyện, cười xong mới thấy đắng.
Ở vụ án liên quan đến hai dự án cơ sở 2 của Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, cựu Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến được Tòa phúc thẩm giảm án từ sáu năm xuống ba năm tù về tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí.
Theo nhận định của tòa, những sai phạm trong quá trình lựa chọn tư vấn nước ngoài, chỉ định thầu và phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu đã khiến hai dự án đình trệ kéo dài, gây thất thoát, lãng phí hơn 803 tỷ đồng.
Tôi đọc đến con số ấy mà bất giác tự hỏi: Tám trăm lẻ ba tỷ đồng, nếu đem ra đếm bằng những đồng tiền lẻ của người dân thì phải mất bao nhiêu đời? Còn nếu quy thành những lần khám bệnh, những toa thuốc, những ngày nằm viện của người nghèo, liệu có ai đủ bình tĩnh để đọc con số ấy mà không chạnh lòng?
Anh Mõ nghe tôi kể, tròn mắt:
- Tám trăm lẻ ba tỷ! Thế mà dân làng tôi vay ngân hàng mua cái máy cày vài trăm triệu đã lo mất ăn mất ngủ. Tiền công lớn thế, sao người có trách nhiệm không lo cho dân mất ăn mất ngủ từ trước?
Ông Cả đáp:
- Vì tiền vay mua máy cày là tiền của người ta, mất thì người ta xót. Còn tiền ngân sách, có người lại tưởng nó là thứ tiền không có chủ. Mà tiền không có chủ thì dễ bị đối xử như tiền của... thiên hạ!
Nói đến đây, ông Cả ngừng lại, rồi tự sửa lời:
- Không, nói thế cũng chưa đúng. Tiền ấy có chủ chứ! Chủ chính là dân. Chỉ có điều, dân không ngồi trong phòng họp để lựa chọn nhà thầu, không ký vào những quyết định đầu tư, cũng chẳng được cầm bút phê duyệt những bản kế hoạch. Nhưng khi tiền thất thoát, dân vẫn là người có quyền hỏi: Ai chịu trách nhiệm?
Câu hỏi ấy chẳng cần nói to, nhưng nghe cứ nhói.
Hai bệnh viện được xây dựng để phục vụ người bệnh. Thế mà theo đánh giá của tòa, sai phạm trong quá trình triển khai đã làm các dự án đình trệ, gây lãng phí lớn. Cái nghịch lý nằm ở chỗ: Công trình y tế càng chậm đưa vào sử dụng, người bệnh càng phải chờ đợi; trong khi đồng tiền bỏ ra thì vẫn nằm đó, không thể quay ngược thời gian để chữa lành những tổn thất đã phát sinh.
Cựu Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến được xác định không trực tiếp thực hiện sai phạm tại hai dự án, nhưng những chỉ đạo của bà đã tạo nên chuỗi sai phạm về sau, góp phần gây lãng phí.
Đấy mới là điều đáng ngẫm về trách nhiệm của người đứng đầu. Không phải cứ tự tay ký vào mọi giấy tờ sai phạm mới phải chịu trách nhiệm. Có những quyết định mở đầu cho cả một chuỗi hệ lụy; đến khi hậu quả xuất hiện, người ký lệnh ban đầu không thể chỉ vào khâu cuối cùng rồi bảo: Việc ấy tôi đâu có trực tiếp làm!
Người đứng đầu không thể chỉ nhận công trạng khi thành tích được tuyên dương, rồi đứng ngoài trách nhiệm khi bộ máy vận hành sai hướng. Quyền lực không phải chiếc ô chỉ che nắng lúc thuận lợi, còn lúc mưa giông thì người cầm ô bỏ mặc tất cả.
Tất nhiên, tòa cũng đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ. Bà Tiến khắc phục 108 tỷ đồng và nộp thêm 1,1 tỷ đồng để khắc phục chung hậu quả vụ án. Việc hai bệnh viện cơ sở 2 được đưa vào hoạt động cũng là tình tiết mới được xem xét tại cấp phúc thẩm, cùng những tình tiết giảm nhẹ khác.
Những việc ấy có ý nghĩa trong quá trình lượng hình. Nhưng trong câu chuyện của dân, vẫn còn một dấu hỏi: Tại sao những công trình phục vụ sự sống lại phải đi qua một hành trình sai phạm, đình trệ và xét xử mới có thể trở lại đúng mục đích ban đầu?
Ông Cả rít một hơi thuốc:
- Xây bệnh viện là để cứu người. Nhưng nếu quản lý không đến nơi đến chốn, thì tiền xây bệnh viện cũng có thể thành thứ làm người dân đau đầu. Hóa ra, ngoài bệnh viện chữa bệnh, còn cần một thứ thuốc khác để chữa bệnh quan liêu và vô trách nhiệm.
Anh Mõ cười khì:
- Thuốc ấy tên gì, cụ?
- Tên là trách nhiệm. Liều dùng là nghiêm minh. Còn uống vào có khỏi hay không, phải xem người bệnh có chịu bỏ thói quen cũ không!
Nếu vụ án thứ nhất khiến người ta xót xa vì tiền công bị thất thoát, thì vụ án thứ hai lại khiến người ta lạnh gáy vì sự thật có lúc bị đặt lên bàn cân.
Chiều 7/10/2026, sau mười ngày xét xử và nghị án, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tuyên án hai cựu Viện trưởng Viện Pháp y tâm thần Trung ương cùng 63 bị cáo khác trong vụ án xảy ra tại cơ quan này, liên quan đến chín tội danh.
Cựu Viện trưởng Trần Văn Trường bị phạt 20 năm tù, cựu Viện trưởng Ngô Văn Vinh 7 năm 6 tháng tù; hai cựu Phó Viện trưởng Dương Văn Lương và Lâm Văn Thành lần lượt nhận 10 năm và 10 năm 6 tháng tù về tội nhận hối lộ.
Nghe đến đây, anh Mõ đặt chén trà xuống:
- Cụ ơi, bệnh viện thì chữa bệnh, còn Viện pháp y tâm thần thì giám định tình trạng tâm thần. Nếu người làm công việc ấy mà bị mua chuộc, thì người dân biết tin vào đâu?
Ông Cả nhìn ra con đường làng, nơi một chiếc xe máy vừa đi qua, bụi cuốn lên thành vệt mỏng:
- Đấy mới là cái đáng sợ. Tiền mất còn có thể tìm cách khắc phục, công trình chậm còn có thể tìm cách hoàn thiện. Nhưng nếu sự thật bị bẻ cong, thì hậu quả có thể đi xa hơn cả những con số trong sổ sách.
Theo nội dung vụ án, Nguyễn Thị Mai Anh đã dùng tiền và lợi ích vật chất để hối lộ cán bộ, nhân viên của Viện, tìm cách tác động đến kết luận giám định tâm thần; đồng thời môi giới hối lộ cho nhiều người khác. Mai Anh còn bị xác định lừa đảo chiếm đoạt hơn 3,7 tỷ đồng bằng việc hứa hẹn có thể tác động để người khác được giám định, kết luận mắc bệnh tâm thần và đi chữa bệnh bắt buộc.
Tòa tuyên phạt Mai Anh tổng hợp hình phạt 30 năm tù. Chồng bị cáo là Lê Văn Đông cũng bị phạt 19 năm tù về các tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Đằng sau những con số ấy là một câu chuyện đáng buồn về việc lợi dụng chính sách nhân đạo. Chữa bệnh bắt buộc là biện pháp được pháp luật quy định đối với những trường hợp đủ điều kiện, không phải chiếc cửa phụ để người có tiền tìm cách tránh né trách nhiệm hình sự. Lòng nhân đạo chỉ có ý nghĩa khi được thực hiện đúng đối tượng; nếu bị lợi dụng, nó sẽ trở thành cái cớ để người ta giẫm lên chính những giá trị mà xã hội muốn bảo vệ.
Cuộc luận đàm sôi nổi đến đỉnh điểm khi hai người ở ngõ Đoài Thượng tới muộn đối đáp sôi nổi:
Người thứ nhất hỏi:
- Nếu một người thật sự mắc bệnh, họ cần gì?
Người thứ hai đáp:
- Cần được khám, được điều trị, được bảo vệ bằng chuyên môn và lòng nhân ái.
- Thế nếu có người giả bệnh để trốn tránh pháp luật?
- Thì cần một quy trình giám định khách quan, một cơ chế kiểm tra chặt chẽ, và những người làm nghề không bán rẻ lương tâm.
- Còn nếu người có trách nhiệm lại nhận tiền để làm sai?
Người thứ hai im lặng.
Có những câu hỏi không khó trả lời, chỉ khó thực hiện cho đến nơi đến chốn.
Điều đáng lo hơn cả là những sai phạm không chỉ dừng ở một cá nhân. Vụ án cho thấy sự tham gia của nhiều cán bộ, giám định viên và những người có liên quan; tòa đánh giá hành vi phạm tội có tính chất hệ thống, kéo dài, lợi dụng chính sách nhân đạo để trục lợi. Khi một quy trình chuyên môn bị biến thành nơi mua bán lợi ích, vấn đề không còn là chuyện một người tham tiền, mà còn là chuyện cơ chế giám sát đã để những mắt xích sai phạm liên kết với nhau như thế nào.
Một cơ quan có thể có đủ con dấu, đủ quy định, đủ những bản báo cáo đóng bìa đẹp đẽ. Nhưng nếu người kiểm tra không kiểm tra, người quản lý không quản lý, người giám định không giữ được sự độc lập thì giấy tờ càng đầy đủ, niềm tin càng dễ trống rỗng.
Chính vì vậy, kiến nghị của tòa về việc tăng cường tính độc lập của hội đồng giám định, có thành viên từ các cơ sở khác nhau và siết chặt quản lý người đang chữa bệnh bắt buộc là những vấn đề cần được xem xét nghiêm túc. Không thể chỉ xử lý người đã phạm tội rồi coi như mọi việc đã xong. Phải bịt những kẽ hở đã tạo điều kiện cho sai phạm nảy sinh và kéo dài.
Chiều xuống, quán nước đầu làng thưa dần khách. Ông Cả đứng lên, phủi vạt áo, chậm rãi nói:
- Hai vụ án, một bên là tiền xây bệnh viện, một bên là kết luận giám định tâm thần. Nghe thì khác nhau, nhưng đều có người từng được giao giữ việc công rồi phải đứng trước tòa. Một bên làm thất thoát, lãng phí tài sản Nhà nước; bên kia xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan công quyền, làm tổn thương niềm tin vào hoạt động giám định và pháp luật.
Anh Mõ hỏi với theo:
- Thế bao giờ mới hết những chuyện như thế, cụ?
Ông Cả quay lại, cười mà nét mặt chẳng vui:
- Bao giờ người ta hiểu rằng chức vụ không phải giấy phép kiếm lợi, ngân sách không phải túi tiền vô chủ, còn lương tâm không phải thứ đem ra mặc cả, thì khi ấy mới có hy vọng.
Ông ngừng một lát, rồi nói tiếp:
- Đừng chỉ mong có nhiều người vào tù để chứng minh pháp luật nghiêm. Còn phải làm sao để người có quyền không dám phạm luật, người có tiền không mua được sự thật, người làm chuyên môn không bị biến thành công cụ, và người dân không phải trả giá cho những sai lầm mà mình chẳng hề gây ra.
Tôi nghĩ, đó mới là điều đáng suy ngẫm sau hai vụ án. Bởi nhà tù có thể khép lại một hành trình phạm tội, nhưng chưa chắc đã khép được con đường dẫn đến tham nhũng nếu những lỗ hổng về quản lý, giám sát và trách nhiệm vẫn còn nguyên.
Ngành y có nhiệm vụ chữa bệnh cho con người. Pháp luật có nhiệm vụ bảo vệ công lý. Nhưng khi người được giao chữa bệnh cho xã hội lại làm tổn thương lòng tin, khi người được giao giữ gìn kỷ cương lại dùng chức trách để trục lợi, thì xã hội cần một cuộc chữa trị nghiêm túc hơn: Chữa từ cơ chế, từ đạo đức công vụ, từ trách nhiệm của người đứng đầu và từ sự minh bạch trong từng quyết định.
Ông Cả đã đi khuất cuối ngõ, còn anh Mõ vẫn ngồi nhìn chén trà nguội.
Anh lẩm bẩm, chẳng biết nói với ai:
- Bệnh viện xây ra để người dân khỏi bệnh. Viện giám định lập ra để người ta biết đâu là thật, đâu là giả. Vậy mà có người làm cho bệnh viện chậm chữa bệnh, có người làm cho sự thật mang giá. Đúng là cái gì cũng có thể bị đem ra mặc cả, trừ những năm tháng phải trả trong tù.
Rồi anh chợt lắc đầu:
- Không, cả năm tháng cũng chẳng mua lại được lòng tin đã mất!
Ngoài đường, tiếng xe phố thị vọng về, lẫn với tiếng gà gọi chiều. Làng vẫn làng, phố vẫn phố. Chỉ mong rằng sau những bản án, người ta không chỉ nhớ ai đã phải vào tù, mà còn nhớ vì sao những người từng giữ trọng trách lại có thể đi đến bước ấy.
Bởi điều đáng sợ nhất không phải là một quan chức ngành y phải nhận bản án tù. Điều đáng sợ nhất là khi người dân bước vào bệnh viện, bước đến cơ quan giám định hay đứng trước một cơ quan công quyền, họ phải tự hỏi: Liệu ở nơi lẽ ra phải bảo vệ mình, có ai đang âm thầm đem quyền lợi của mình ra đổi lấy lợi ích riêng hay không?
Một xã hội tử tế không thể bắt người dân sống mãi với câu hỏi ấy.
Và một nền công vụ tử tế phải làm sao để câu hỏi ấy ngày càng ít có lý do xuất hiện.
V.X.B