
Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Nho học và làm thuốc ở Bồng Sơn, Bình Định, Đặng Đức Siêu sớm nổi danh thần đồng, mới 16 tuổi đã đỗ Hương tiến và bước vào chốn quan trường. Trải qua những năm tháng loạn lạc, nhiều lần được các chính quyền đương thời mời ra làm quan nhưng ông đều khước từ. Đến khi gặp Nguyễn Ánh, Đặng Đức Siêu trở thành một mưu thần quan trọng, góp kế trong những trận đánh quyết định, đồng thời đặt nền móng lễ nghi, điển chế và giáo dục cho vương triều Nguyễn buổi đầu dựng nghiệp.
1. Từ đất Bồng Sơn đến kinh thành Phú Xuân
Đặng Đức Siêu, chữ Hán là 鄧德超, vốn tên Đặng Đức Chiêu. Ông sinh năm 1751 – một số tài liệu ghi năm 1750 – tại huyện Bồng Sơn, phủ Quy Nhơn, tương ứng vùng thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định ngày nay. Theo những tư liệu khảo cứu dựa trên Đại Nam liệt truyện, Đại Nam thực lục và gia phả họ Đặng Đức tại làng Nguyệt Biều, quê gốc của ông thuộc làng Phụng Cang, nay là khu vực Vĩnh Phụng, phường Hoài Xuân. Gia đình ông nhiều đời theo nghiệp Nho, đồng thời hành nghề thuốc cứu người. Chính môi trường ấy đã sớm hun đúc ở cậu bé họ Đặng tinh thần ham học, lòng nhân hậu và ý thức sâu sắc về bổn phận của kẻ sĩ đối với dân, với nước.
Thuở nhỏ, Đặng Đức Chiêu theo cha ra Phú Xuân, trọ học tại xã Xước Dũ, huyện Hương Trà, ở phía tây chùa Thiên Mụ. Phú Xuân thời ấy là trung tâm chính trị và văn hóa của Đàng Trong, nơi hội tụ nhiều bậc túc nho, danh sĩ. Giữa không gian sông Hương, núi Ngự, người học trò đến từ miền đất võ Bình Định cần mẫn đèn sách, sớm bộc lộ tư chất hơn người.
Tương truyền, có lần người thầy đưa ra một đề văn khó, đòi hỏi học trò không chỉ thuộc kinh sử mà còn phải biết luận việc trị nước. Trong khi nhiều người còn đang cân nhắc, Đặng Đức Chiêu đã đặt bút viết một mạch. Đọc xong, thầy giáo nhìn người học trò trẻ tuổi hồi lâu rồi bảo:
– Văn chương của trò không chỉ có chữ, mà đã có chí. Người biết nhìn việc nước từ nỗi khổ của dân, sau này tất không phải là một ông quan tầm thường.
Năm 16 tuổi, Đặng Đức Chiêu thi đỗ Hương tiến, học vị tương đương Cử nhân về sau, rồi được bổ vào Hàn Lâm viện dưới thời chúa Nguyễn Phúc Thuần. Việc một thiếu niên mới 16 tuổi đã vượt qua khoa thi và bước vào cơ quan văn học của phủ chúa cho thấy tài năng xuất chúng của ông. Đây cũng là khởi đầu của một cuộc đời gắn bó với văn chương, chính sự và những biến động dữ dội của lịch sử.
Sau này, do chữ “Chiêu” có bộ Nhật, liên quan đến quy định đặt tên trong hoàng tộc nhà Nguyễn, ông đổi tên thành Đặng Đức Siêu. Tên gọi ấy đi cùng ông trong phần lớn sự nghiệp và được sử sách lưu truyền đến ngày nay. Các thông tin về quê quán, gia thế và con đường khoa cử của ông được chép tương đối thống nhất trong Đại Nam liệt truyện và những khảo cứu từ gia phả họ Đặng Đức ở Huế. Trung tâm Khảo cứu và Biên soạn Địa chí Việt Nam
Nhưng con đường làm quan của người thanh niên tài năng ấy không kéo dài trong cảnh thái bình. Năm 1774, quân Trịnh vượt sông Gianh, tiến vào chiếm Phú Xuân. Chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong nhanh chóng tan rã. Đặng Đức Siêu rời quan trường, lui về Vân Hồ – Xước Dũ, mở lớp dạy học, lấy sách vở làm nơi gửi gắm tâm sự.
Trong thời gian ở ẩn, ông sáng tác nhiều thơ văn bày tỏ khí tiết và hoài bão, trong đó sử cũ nhắc đến các bài Thương Sơn tứ hạo, Trương Lương chùy, Tô Vũ tiết. Những nhân vật mà ông lựa chọn đều là biểu tượng của lòng trung thành, khí phách và sự nhẫn nại chờ thời. Qua thơ văn, Đặng Đức Siêu tự ví mình với những bậc mưu thần như Quản Trọng, Nhạc Nghị – không phải để khoe tài, mà để tự nhắc rằng người có học phải biết giữ lấy chí hướng trong thời loạn.
Quan nhà Trịnh là Trần Nguyễn Nhưng đọc được thơ ông, hết sức khâm phục, liền sai người đến mời ra cộng tác. Đặng Đức Siêu không nhận lời.
Người được phái đến khuyên:
– Thời thế đã đổi. Người có tài nếu cứ đóng cửa dạy học, chẳng phải phí hoài kinh luân hay sao?
Ông điềm tĩnh đáp:
– Kẻ sĩ có thể chưa gặp thời, nhưng không thể vì muốn gặp thời mà đổi chí. Công danh nếu trái với điều mình tin là nghĩa, càng cao càng thêm hổ thẹn.
Đó không chỉ là một sự lựa chọn chính trị. Với Đặng Đức Siêu, lòng trung và danh tiết là nền tảng nhân cách của người quân tử. Ông thà sống thanh đạm giữa dân gian còn hơn bước vào quan trường bằng một lựa chọn trái với lời thề trong lòng.
2. Hai mươi năm giữ tiết giữa cơn biến loạn
Sau khi Nguyễn Huệ đánh tan quân Trịnh và làm chủ Phú Xuân, danh tiếng của Đặng Đức Siêu một lần nữa khiến chính quyền mới chú ý. Biết ông là bậc danh sĩ, Nguyễn Huệ sai người đến triệu, muốn bổ dụng làm quan. Đặng Đức Siêu cáo bệnh, nhất định không ra. Khi triều đình Tây Sơn tiếp tục cho người tìm kiếm, ông rời Phú Xuân, lánh về Bình Định. Cha con Nguyễn Nhạc nhiều lần muốn gặp nhưng ông vẫn không trình diện.
Nhìn từ quan niệm ngày nay, sự lựa chọn của một trí thức trong cuộc tranh chấp giữa các thế lực cuối thế kỷ XVIII cần được đặt đúng vào hoàn cảnh lịch sử. Đặng Đức Siêu vốn là quan của chính quyền chúa Nguyễn. Ông tự ràng buộc mình với chữ “trung” theo đạo lý Nho giáo, vì vậy không muốn làm tôi cho một triều đại khác. Đó là lựa chọn cá nhân của ông, không thể dùng để phủ nhận những đóng góp lớn lao của phong trào Tây Sơn cũng như thiên tài của Hoàng đế Quang Trung đối với lịch sử dân tộc.
Điều đáng chú ý là trong suốt nhiều năm ẩn dật, Đặng Đức Siêu không lợi dụng danh tiếng để cầu lợi, cũng không vội vàng đi tìm một chỗ đứng dưới bất cứ chính quyền nào đang nắm quyền. Ông dạy học, nghiên cứu kinh sử, âm thầm theo dõi thời cuộc và chờ đợi người mà mình cho là có thể gửi gắm chí hướng.
Ở một phương diện khác, những năm tháng sống giữa dân gian giúp ông hiểu sâu sắc hơn đời sống của người dân trong chiến tranh. Cuối thế kỷ XVIII, miền Trung liên tục chịu cảnh binh đao, mất mùa, thuế khóa và bắt lính. Ruộng đồng bị bỏ hoang, làng xóm tiêu điều, nhiều gia đình ly tán. Chính sự quan sát ấy về sau ảnh hưởng rõ rệt đến những kế sách của ông: muốn dựng nghiệp lâu dài, trước hết phải khoan thư sức dân; muốn có quân, có lương, trước hết phải khiến dân tin rằng chính quyền mới đem lại cho họ một con đường sống.
Khi Nguyễn Ánh đóng quân ở Gia Định, nghe danh Đặng Đức Siêu, đã sai người tìm mời. Tuy nhiên, đường sá bị chia cắt, chiến sự liên miên nên ông chưa thể vào Nam ngay. Mãi đến năm 1798, sau hơn hai mươi năm giữ tiết và chờ thời, Đặng Đức Siêu mới vượt đường hiểm trở vào Gia Định yết kiến Nguyễn Ánh.
Cuộc gặp ấy là một bước ngoặt đối với cả cuộc đời ông.
Nguyễn Ánh nhìn người danh sĩ đã ngoài bốn mươi tuổi, nói:
– Ta mong tiên sinh từ lâu. Vì sao đến muộn thế?
Đặng Đức Siêu cúi mình đáp:
– Không phải thần không muốn đến, chỉ vì đường sá ngăn trở, tai mắt vây quanh. Nay đã được gặp minh công, thần xin đem hết những điều học được mà báo đáp.
Ông dâng bản Bình Tây phương lược, trình bày kế sách đánh Tây Sơn và thu phục nhân tâm. Nguyễn Ánh xem xong, đánh giá cao kiến thức cũng như tầm nhìn của ông, định trao chức Giám quân. Đặng Đức Siêu từ chối, chỉ xin giữ chức Hàn lâm như trước đây. Nguyễn Ánh cho rằng chức Hàn lâm phẩm trật thấp, khó đủ quyền hạn để tham gia việc lớn, bèn bổ ông làm Tham mưu Trung doanh, cho ngày đêm theo hầu để bàn tính việc quân.
Từ đây, Đặng Đức Siêu thực sự bước vào trung tâm của cuộc chiến. Ông không chỉ là người soạn thảo văn thư, mà còn trở thành một “bộ óc” trong hàng ngũ mưu thần của Nguyễn Ánh.
3. Kế an dân và ngọn lửa trên đầm Thị Nại
Năm 1799, quân Nguyễn Ánh chiếm được thành Quy Nhơn và đổi tên thành Bình Định. Đây là vùng đất phát tích của phong trào Tây Sơn, vì vậy việc chiếm được thành chỉ là thắng lợi bước đầu; muốn giữ được lâu dài, điều quan trọng hơn là thu phục lòng người.
Một số quan lại đề nghị nhanh chóng thu thuế để bổ sung quân lương. Đặng Đức Siêu phản đối. Ông cho rằng người dân Bình Định vừa trải qua chiến tranh, nay nếu lập tức áp thuế, bắt lính thì chẳng khác nào đẩy họ trở lại phía đối phương.
Trong sớ dâng Nguyễn Ánh, ông nhắc lại nguyên lý của binh pháp: dân chúng một lòng yêu thì không việc gì không thành; dân chúng một lòng ghét thì không cơ nghiệp nào không đổ. Ông đề nghị tuyển quân nhưng miễn thuế thân một năm, vừa giảm gánh nặng cho dân trong vùng, vừa gây dựng lòng tin với nhân dân bốn phương.
Nguyễn Ánh đọc sớ rồi hỏi:
– Quân đang cần lương, kho đang cần của. Nay miễn thuế, lấy gì nuôi quân?
Đặng Đức Siêu thưa:
– Kho có thể vơi rồi lại đầy, nhưng lòng dân một khi đã mất thì khó lấy lại. Dân kiệt sức, dù vét được thuế trước mắt cũng không thể giữ đất lâu dài. Dưỡng sức dân hôm nay chính là nuôi quân cho ngày mai.
Nguyễn Ánh nghe theo, cho bãi việc thu thuế. Chính sách ấy cho thấy Đặng Đức Siêu không chỉ biết mưu việc chiến trận mà còn nhìn thấy quan hệ sống còn giữa lòng dân với sự tồn tại của một chính quyền.
Năm 1800, đại quân Tây Sơn dưới quyền Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng tiến vào vây chặt thành Bình Định. Trong thành, Võ Tánh và Ngô Tùng Châu cố thủ. Nguyễn Ánh đem quân cứu viện nhưng nhiều lần không phá được vòng vây. Trước tình thế giằng co, Đặng Đức Siêu nhận định rằng muốn giải quyết cục diện, trước tiên phải đánh vào lực lượng thủy quân Tây Sơn tại cửa Thị Nại.
Ông phân tích: quân Nguyễn có sở trường thủy chiến; nếu đưa thủy binh lên đánh bộ, phía Tây Sơn có thể thừa cơ tập kích và cướp thuyền. Chi bằng lợi dụng mùa gió Nam, chuẩn bị vật liệu cháy, dùng thuyền nhẹ bí mật luồn vào cửa biển, chiếm thế thượng phong rồi đánh hỏa công.
Đó là một kế hoạch táo bạo. Đầm Thị Nại được phòng thủ dày đặc, chiến thuyền Tây Sơn đông, trên bờ lại có pháo binh yểm trợ. Một khi bị phát hiện, những chiếc thuyền chở vật liệu cháy có thể trở thành mồ chôn chính quân cảm tử.
Trong cuộc bàn luận, có người tỏ ý lo ngại:
– Đầm hẹp, đồn giặc kín, thuyền ta vào đó khác nào đi vào miệng cọp?
Đặng Đức Siêu đáp:
– Cũng vì chúng tin cửa biển hiểm yếu, chiến thuyền đông mạnh nên càng dễ sinh chủ quan. Dùng sức đối sức chưa chắc thắng; lấy gió, lửa và bóng tối làm quân, có thể biến chỗ mạnh của họ thành chỗ không kịp trở tay.
Kế hoạch được chấp thuận. Trận thủy chiến Thị Nại diễn ra quyết liệt, trở thành một trong những trận đánh lớn nhất của cuộc chiến Nguyễn – Tây Sơn. Hỏa công thiêu hủy nhiều chiến thuyền, làm suy giảm nghiêm trọng lực lượng thủy quân Tây Sơn. Tuy vậy, thành Bình Định vẫn bị vây chặt; quân Nguyễn chưa thể giải cứu Võ Tánh và Ngô Tùng Châu.
Giữa lúc nhiều người chỉ tập trung vào việc phá vòng vây, Đặng Đức Siêu cùng Trần Văn Trạc đưa ra một nhận định khác: quân Tây Sơn đã dồn đại lực vào Bình Định thì Phú Xuân ắt sơ hở. Nếu quân Nguyễn cứ cố đánh vào nơi đối phương mạnh nhất, sẽ tiếp tục bị cầm chân. Chi bằng để lại một bộ phận kiềm chế, còn đại quân tiến thẳng ra Phú Xuân, đánh vào trung tâm chính trị của Tây Sơn.
Theo Đại Nam liệt truyện, hai ông tâu:
– Quân đối phương đem hết lực lượng vây thành, sào huyệt tất phải bỏ trống. Quân ta nếu tiến chiếm sào huyệt ấy, việc vây thành không cần cứu cũng tự phải giải.
Võ Tánh từ trong thành cũng gửi mật thư, xin Nguyễn Ánh đừng vì mình mà bỏ lỡ thời cơ, hãy tiến đánh Phú Xuân. Nguyễn Văn Thành cùng nhiều tướng lĩnh đồng tình với chủ trương chuyển hướng tiến công. Như vậy, quyết định đánh Phú Xuân là kết quả của nhiều nguồn tham vấn và sự hy sinh chủ động của người giữ thành; không nên chỉ quy toàn bộ công lao cho riêng một cá nhân. Nhưng trong cuộc chuyển hướng chiến lược ấy, tiếng nói của Đặng Đức Siêu rõ ràng có trọng lượng quan trọng. Báo Thanh Niên
Tháng 5/1801, quân Nguyễn chiếm được Phú Xuân. Vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản phải rút ra Bắc. Dù Võ Tánh và Ngô Tùng Châu sau đó tuẫn tiết tại thành Bình Định, cuộc chuyển hướng tiến công đã giúp Nguyễn Ánh giành ưu thế chiến lược, mở đường cho chiến dịch ra Bắc năm sau.
Mùa đông năm 1801, Nguyễn Ánh thăng Đặng Đức Siêu làm việc tại Bộ Lễ. Ông nhiều lần xin từ nhưng không được chấp nhận. Vị tham mưu từng bàn kế hỏa công nay bắt đầu đảm nhận một sứ mệnh khác: chuẩn bị cơ sở chính danh và điển chế cho một vương triều mới.
4. Dựng nền chính thống cho triều đại mới
Năm 1802, trước khi tiến quân ra Bắc, Nguyễn Ánh bàn với quần thần về việc lên ngôi Hoàng đế. Đặng Đức Siêu và Trần Văn Trạc dâng sớ, cho rằng nhà Lê đã không còn khả năng khôi phục; vua Lê Chiêu Thống đã chạy sang nhà Thanh, trong khi đất Bắc Hà nhiều năm nằm dưới quyền Tây Sơn. Nay Nguyễn Ánh đã thu phục cựu đô, có đất, có dân, có quân đội và được nhiều nơi hưởng ứng, cần chính thức lên ngôi, đặt niên hiệu để danh nghĩa được xác lập rồi mới tiến quân thống nhất đất nước.
Đây là vấn đề đặc biệt hệ trọng. Trong xã hội quân chủ, một đội quân muốn giành thiên hạ phải có danh nghĩa. Nếu Nguyễn Ánh chỉ tiến ra Bắc với tư cách một chúa Nguyễn, cuộc chiến vẫn có thể bị xem là sự tranh giành giữa các thế lực cát cứ. Khi xưng đế, lập niên hiệu, ban cáo mệnh, nhà Nguyễn xác lập vị thế của một triều đình trung ương.
Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy niên hiệu Gia Long. Đặng Đức Siêu được giao giữ chức Thượng thư Bộ Lễ, trở thành vị Thượng thư Bộ Lễ đầu tiên của triều Nguyễn.
Bộ Lễ không chỉ lo nghi thức tế tự hay việc triều hội. Trong cơ cấu nhà nước thời quân chủ, đây là cơ quan quản lý lễ nghi, giáo dục, khoa cử, văn thư bang giao, phong tặng, âm nhạc cung đình và nhiều hoạt động văn hóa của quốc gia. Đất nước vừa trải qua hàng chục năm chiến tranh, các khu vực từng thuộc những hệ thống cai trị khác nhau, vì thế việc thống nhất điển chế và lễ nghi cũng là một phương thức thống nhất tinh thần.
Đặng Đức Siêu tham gia soạn thảo nhiều văn kiện quan trọng, sắp đặt các nghi lễ đăng quang, tế cáo trời đất, tông miếu, phong thưởng công thần; góp phần xây dựng khuôn phép cho triều đình mới. Năm 1803, ông theo vua Gia Long ra Bắc. Khi đoàn ngự giá đến Thanh Hóa, ông được giao yết cáo Nguyên miếu – nơi thờ Nguyễn Kim, bậc tiền tổ của các chúa Nguyễn. Nghi lễ ấy mang ý nghĩa khẳng định sự tiếp nối chính thống của vương triều.
Năm 1804, nhà Thanh chính thức công nhận quốc hiệu Việt Nam. Với vị trí Thượng thư Bộ Lễ, Đặng Đức Siêu tham gia những công việc liên quan đến lễ nghi và bang giao trong giai đoạn xác lập vị thế quốc gia. Năm 1807, ông được sai soạn Quốc triều thế hệ, hệ thống hóa thứ bậc, thế hệ và truyền thống của hoàng tộc nhà Nguyễn. Công việc này vừa mang tính gia phả hoàng gia, vừa phục vụ việc định danh phận, tôn ti và lễ chế của triều đình.
Ông còn kiêm quản Khâm thiên giám, cơ quan phụ trách lịch pháp, thiên văn và lựa chọn ngày tháng cho các nghi lễ nhà nước. Trong xã hội xưa, việc ban hành lịch thống nhất không đơn thuần là tính ngày, tháng, tiết khí; đó còn là biểu tượng quyền lực của triều đình trung ương đối với toàn bộ lãnh thổ.
Từ một người từng sống ẩn dật giữa thời loạn, Đặng Đức Siêu đã trở thành nhân vật góp phần định hình diện mạo văn hóa – chính trị của một vương triều. Nếu trên chiến trường, kế sách của ông nhằm đánh vào chỗ yếu của đối phương thì trong thời bình, công việc của ông hướng đến việc sửa sang nền nếp, thống nhất lòng người và dựng lại trật tự sau chiến tranh.
Tuy nhiên, giá trị lớn nhất ở ông không chỉ nằm trong những điều khoản, nghi thức hay văn thư. Đó còn là quan niệm rằng muốn triều đại bền vững, quyền lực phải đi cùng đạo lý; muốn thần dân tuân phục, người cầm quyền trước hết phải tự đặt mình trong khuôn phép.
5. Người thầy của Hoàng tử Đảm
Năm Gia Long thứ tư, tức năm 1805, Đặng Đức Siêu được giao kiêm nhiệm chức Giáo đạo, dạy Hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm – người sau này trở thành vua Minh Mạng.
Đây là một sự lựa chọn có chủ ý của vua Gia Long. Sau những năm chinh chiến, nhà vua hiểu rằng người kế vị không thể chỉ học chữ nghĩa mà cần được rèn luyện về đạo đức, cách dùng người và trách nhiệm với xã tắc. Đặng Đức Siêu là người có tuổi, có học vấn, từng trải qua cả thời loạn lẫn thời bình, lại nổi tiếng công bằng, trung chính nên được xem là người thích hợp.
Trong những buổi giảng sách, ông không dừng ở việc giải nghĩa kinh điển. Mỗi câu trong sách đều được ông liên hệ với việc trị nước.
Một lần, Hoàng tử Đảm hỏi:
– Làm vua, điều gì khó nhất?
Đặng Đức Siêu đáp:
– Biết người đã khó, biết mình còn khó hơn.
– Vì sao biết mình lại khó?
– Vì ở ngôi cao, lời thuận tai thì nhiều, lời nói thật thì ít. Nếu không thường tự xét mình, nhà vua dễ tưởng ý riêng là ý dân, điều mình muốn là điều thiên hạ muốn.
Lần khác, khi giảng về đạo dùng người, ông nói:
– Người làm vua không sợ thiếu kẻ tài, chỉ sợ không đủ lòng rộng để dùng người tài. Cũng không sợ có người can gián, chỉ sợ quanh mình toàn những người biết vâng dạ.
Những đoạn đối thoại trên có thể được hình dung từ tinh thần giáo huấn mà sử sách ghi nhận, nhưng điều chắc chắn là vua Minh Mạng về sau luôn đánh giá rất cao công lao dạy dỗ của Đặng Đức Siêu. Đại Nam thực lục ghi nhận nhà vua cho rằng mình được ông chỉ bảo nhiều năm, “giúp ích rất nhiều”, đồng thời ca ngợi ông giữ tính công bằng, trung chính, không hổ thẹn với chức phận người thầy.
Năm 1810, Đặng Đức Siêu qua đời vì bệnh, hưởng thọ khoảng 59 tuổi. Vua Gia Long thương tiếc, truy tặng ông chức Tham chính. Sự ra đi của ông để lại một khoảng trống trong triều đình, nhất là ở lĩnh vực lễ nghi, giáo dục và văn học.
Đến năm 1826 – một số tài liệu ghi việc truy tặng được chuẩn bị hoặc ban bố từ năm 1825 – vua Minh Mạng nhớ công sư bảo, truy tặng người thầy cũ là Thiếu sư, Hiệp biện Đại học sĩ, ban thụy hiệu Đôn Cẩn và sai quan lập đàn tế. Trong lời dụ, nhà vua nhấn mạnh rằng Đặng Đức Siêu từng vâng mệnh vua Gia Long dạy mình đọc sách nhiều năm, chỉ bảo nhiều điều, phẩm hạnh công bằng, trung chính, xứng đáng được tôn kính và báo đáp. Báo Giáo dục và Thời đại
Năm 1852, dưới triều Tự Đức, Đặng Đức Siêu được liệt thờ tại miếu Trung Hưng công thần. Việc được phối thờ sau hơn bốn mươi năm qua đời cho thấy triều Nguyễn đánh giá ông không chỉ là một viên quan có công, mà là một trong những nhân vật tiêu biểu góp phần dựng nên nền móng vương triều.
6. Một gia đình nặng nghĩa, vẹn tình
Cuộc đời Đặng Đức Siêu còn gắn với câu chuyện về người vợ nổi tiếng tiết nghĩa: bà Nguyễn Thị Ngữ, người Thừa Thiên. Theo Đại Nam liệt truyện và gia phả họ Đặng Đức tại Nguyệt Biều, bà lấy ông từ khi còn trẻ, sinh được một con trai và một con gái.
Khi Đặng Đức Siêu rời nhà vào Gia Định theo Nguyễn Ánh, bà mới ngoài hai mươi tuổi, phải ở lại nuôi dạy con thơ giữa thời loạn. Nhan sắc và phẩm hạnh của bà khiến một số tướng lĩnh có thế lực để ý, nhưng bà nhất quyết không thay lòng, giữ trọn nghĩa vợ chồng. Sử triều Nguyễn xếp bà vào hàng liệt nữ; về sau triều đình còn cho dựng biển biểu dương tiết hạnh.
Ngày Đặng Đức Siêu quyết định lên đường vào Nam, hẳn đó là một cuộc chia tay đầy giằng xé. Trước mặt ông không chỉ là núi sông cách trở, mà còn là người vợ trẻ và những đứa con chưa biết ngày nào mới gặp lại.
– Chàng cứ đi – bà nói – việc lớn đã định thì thiếp không dám ngăn. Chỉ mong chàng giữ được chí mình, đừng để bao năm chờ đợi thành vô nghĩa.
Ông nhìn vợ con, nghẹn ngào:
– Ta đi chuyến này, sống chết khó lường. Việc nhà xin gửi lại nàng.
– Việc nước là chí của chàng; việc nhà là phận của thiếp. Chỉ cần chàng còn nhớ đường về.
Đằng sau sự nghiệp của người mưu thần là sự hy sinh âm thầm của một người phụ nữ. Nếu Đặng Đức Siêu giữ được khí tiết giữa các biến động chính trị thì bà Nguyễn Thị Ngữ cũng giữ trọn gia đình qua những năm tháng chiến tranh. Bởi vậy, khi viết về ông, không thể chỉ kể những kế sách nơi quân doanh hay nghi lễ trong triều điện, mà quên đi người vợ đã thay chồng gánh vác gia đình.
Tư liệu gia phả cũng cho biết từ đường thờ Đặng Đức Siêu và bà Nguyễn Thị Ngữ hiện còn tại làng Nguyệt Biều, vùng Thủy Biều, Huế. Dòng họ của ông có nhiều người thành đạt. Người con trai được chính sử chép tên là Đặng Đức Thiệm – một số nguồn phiên âm là Chiêm – từng làm quan và được bổ nhiệm vào Hàn Lâm viện. Anh của ông là Đặng Đức Huy làm đến chức Đốc học.
Riêng mối quan hệ huyết thống giữa Đặng Đức Siêu và linh mục, danh sĩ Đặng Đức Tuấn – một nhân vật nổi tiếng khác của Bình Định – còn có ý kiến khác nhau. Tương truyền trong dòng tộc cho rằng Đặng Đức Tuấn là hậu duệ trực hệ của Đặng Đức Siêu, nhưng một số nhà nghiên cứu nhận thấy chưa có chứng cứ gia phả đủ chắc chắn để khẳng định. Vì vậy, vấn đề này cần được ghi nhận như một giả thuyết dòng họ, tiếp tục khảo cứu, không nên xem là kết luận cuối cùng. Nghiên Cứu Lịch Sử
7. Nhà văn hóa và những áng văn lay động lòng người
Đặng Đức Siêu được người đời biết đến không chỉ với tư cách đại thần, mưu sĩ, mà còn là một tác gia có vị trí đáng kể trong văn học Hán Nôm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Thơ văn của ông phần nhiều gắn với những sự kiện lớn của đất nước, đặc biệt là các bài chiếu, biểu, văn tế và trước tác liên quan đến lễ nghi.
Trong dân gian và nhiều tuyển tập văn học, ông thường được nhắc đến như tác giả của Văn tế tướng sĩ trận vong, áng văn được đọc trong lễ truy điệu các tướng sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến giữa lực lượng Nguyễn Ánh và nhà Tây Sơn. Tác phẩm mở ra cả một không gian chiến trận kéo dài từ Đông Phố đến Bắc Hà, gợi lại những cuộc hành quân, những người lính nằm xuống nơi rừng sâu, bãi vắng, sông rộng, núi cao.
Điểm đặc sắc của bài văn không nằm ở sự ca ngợi chiến thắng, mà ở tiếng khóc dành cho con người. Sau tiếng trống trận và ánh hào quang của đế nghiệp là những thân phận đã gửi xương nơi đất khách; những người vợ mất chồng, cha mẹ mất con, con thơ không còn nhìn thấy cha trở về. Văn chương ở đây vượt khỏi chức năng nghi lễ để trở thành lời chiêu hồn cho một thế hệ bị cuốn vào binh lửa.
Tuy nhiên, việc xác định tác giả Văn tế tướng sĩ trận vong hiện vẫn còn những ý kiến khác nhau. Có nguồn cho rằng Đặng Đức Siêu soạn và Tiền quân Nguyễn Văn Thành đứng đọc; có tài liệu quy tác phẩm cho Nguyễn Văn Thành; lại có ý kiến nhắc đến Nguyễn Huy Lượng. Chưa có chứng cứ văn bản học đủ sức khép lại cuộc tranh luận. Vì thế, khi ghi nhận đóng góp văn chương của Đặng Đức Siêu, cần trình bày thận trọng: đây là tác phẩm lâu nay thường được gắn với tên tuổi ông, nhưng vấn đề tác giả vẫn cần tiếp tục khảo cứu.
Dẫu vậy, tài năng văn tế của Đặng Đức Siêu được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận. Văn ông trang trọng mà không khô cứng, sử dụng điển cố dày nhưng vẫn chan chứa cảm xúc. Sau những câu biền ngẫu cân xứng là một trái tim thấu hiểu nỗi đau chiến tranh. Người từng tham dự các cuộc bàn bạc quân cơ lại chính là người có thể khóc sâu sắc cho những người lính vô danh – điều ấy làm nên chiều sâu nhân bản trong chân dung Đặng Đức Siêu.
Ông còn được nhắc đến với những bài văn tế dành cho các công thần và tướng lĩnh như Võ Tánh, Ngô Tùng Châu. Trong văn chương của ông, lòng trung không phải một khái niệm lạnh lùng mà được thể hiện qua số phận, lựa chọn và sự hy sinh của con người. Chính vì thế, văn tế của ông có sức lay động vượt qua giới hạn một nghi lễ cung đình.
Đặng Đức Siêu đã sống trong một thời đại mà ranh giới giữa nhà chính trị, nhà giáo dục và nhà văn hóa chưa tách rời. Ông làm chính trị bằng đạo lý của Nho gia, dạy học bằng trải nghiệm của một người từng qua loạn lạc, viết văn bằng tâm thế của người hiểu cái giá của chiến thắng. Ba phương diện ấy bổ sung cho nhau, tạo nên một chân dung toàn diện.
8. Công bằng trung chính – di sản lớn nhất của một bậc đại thần
Cuộc đời Đặng Đức Siêu trải qua gần trọn một trong những giai đoạn dữ dội nhất của lịch sử dân tộc. Khi ông sinh ra, đất nước còn bị chia cắt giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài. Khi ông trưởng thành, chính quyền các chúa Nguyễn suy yếu, quân Trịnh chiếm Phú Xuân, phong trào Tây Sơn nổi dậy rồi phát triển thành một triều đại. Khi ông bước vào tuổi trung niên, cuộc chiến Nguyễn – Tây Sơn diễn ra quyết liệt. Và khi ông qua đời, vương triều Nguyễn đã được thiết lập, đất nước được thống nhất về mặt lãnh thổ và hành chính.
Giữa những biến động ấy, Đặng Đức Siêu đã lựa chọn con đường của riêng mình. Sự lựa chọn đó gắn với quan niệm trung quân của một nhà Nho thời phong kiến, nên tất nhiên mang dấu ấn và giới hạn lịch sử. Nhưng vượt lên trên sự khác biệt về lập trường chính trị, hậu thế vẫn có thể nhận ra ở ông những phẩm chất đáng trân trọng: kiên định với điều mình tin là chính nghĩa; không chạy theo quyền lực khi chưa gặp người có thể gửi gắm; biết đặt lòng dân vào trung tâm của kế sách; có khả năng nhìn xa trong những thời điểm quyết định; và khi ở địa vị cao vẫn giữ sự công bằng, trung chính.
Đặng Đức Siêu là một người họ Đặng tiêu biểu trên cả ba phương diện: tài năng, nhân cách và văn hóa.
Tài năng của ông thể hiện trong việc phân tích thời cuộc, tham mưu chiến lược, đề xuất hỏa công ở Thị Nại và chuyển hướng đánh Phú Xuân. Nhân cách của ông được thử thách qua hơn hai mươi năm ẩn dật, qua những lần từ chối lời mời làm quan, qua lối sống không màng phẩm trật. Đóng góp văn hóa của ông thể hiện ở việc xây dựng lễ nghi, điển chế, giáo dục Hoàng tử, soạn thảo văn thư triều đình và để lại những áng văn tế giàu giá trị nhân bản.
Triều Nguyễn tôn ông là công thần. Vua Minh Mạng nhớ ông như một người thầy. Người đời sau nhắc ông như một bậc mưu sĩ và danh sĩ. Còn trong lịch sử dòng họ Đặng Việt Nam, Đặng Đức Siêu là hình ảnh của một trí thức biết mang sở học vào việc nước, nhưng chưa bao giờ quên rằng nền móng sâu xa nhất của mọi cơ nghiệp vẫn là lòng dân và đạo lý.
Gần hai thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày ông được thờ tại miếu Trung Hưng công thần. Những trận chiến mà ông từng tham dự đã lùi xa; thành quách, triều nghi và phẩm hàm cũng đã thuộc về quá khứ. Nhưng lời đánh giá của vua Minh Mạng về người thầy cũ – “công bằng trung chính, không thẹn chức phận” – vẫn có thể xem là tấm bia tinh thần bền vững nhất dành cho Đặng Đức Siêu.
Đó cũng là di sản đáng quý mà ông để lại cho hậu thế: người có tài có thể giúp giành một trận thắng, người có mưu có thể góp dựng một triều đại; nhưng chỉ người có đức mới có thể sống lâu trong ký ức của nhân dân và dòng tộc.
Hà Nội, 07/9/2026
Đặng Vương Hưng
(Rút từ tập sách "Danh nhân họ Đặng Việt Nam xưa và nay" sắp ấn hành).