Hồ sơ số 89/2026: Ngược suối Ông Be tìm người lính cuối cùng trong 15 giấy báo tử

Hồ sơ cho thấy ít nhất ba nhóm địa điểm cần được ưu tiên nghiên cứu. Nhóm thứ nhất là các trạm T6 – T10 ở khu vực Kon Tum, Gia Lai và biên giới Campuchia, nơi nhiều người lính hy sinh vì sốt rét và máy bay oanh tạc. Nhóm thứ hai là đoạn T9 – T10, nơi có thể tồn tại một khu mai táng liên quan tới trận bom đầu tháng 8/1966. Nhóm thứ ba là tuyến X27 – X10 và suối Ông Be tại Phước Long – Campuchia, nơi Nguyễn Đức Môn, Vương Duy Phương và Nguyễn Viết Lưu được chôn cất. Không phải tất cả các ngôi mộ đều còn nguyên tại vị trí ban đầu. Sau chiến tranh, nhiều khu vực đã được lực lượng chức năng và nhân dân tìm kiếm, quy tập. Có thể một số hài cốt đã được đưa về nghĩa trang liệt sĩ nhưng do thiếu thông tin nên hiện vẫn mang tên “chưa biết tên”.
789564184-1047477077887957-4106878985629642328-n-1788759198.jpg

Trong số 15 giấy báo tử của C10 – Đoàn 724 được tìm thấy trong hồ sơ CDEC, Nguyễn Viết Lưu là trường hợp cuối cùng theo thứ tự danh sách. Anh qua đời vì bệnh hen suyễn và sốt rét ngày 11/10/1966, trên tuyến giao liên X27 – X10 thuộc tỉnh Phước Long cũ, gần biên giới Việt Nam – Campuchia. Chỉ dẫn về ngôi mộ bên trái bờ suối Ông Be có nhiều điểm trùng khớp với nơi mai táng liệt sĩ Nguyễn Đức Môn, mở ra hy vọng xác định một cụm mộ của những người lính Đoàn 724 giữa rừng biên giới.

1. Nguyễn Viết Lưu – người lính mang bệnh hen trên đường vào chiến trường

Ngày 26/3/1966, tại huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây, Đoàn 724 làm lễ xuất quân, bắt đầu cuộc hành trình xuyên Trường Sơn vào Nam. Gần 1.500 cán bộ, chiến sĩ mang theo những bộ phận của pháo hỏa tiễn, vũ khí, đạn dược và tư trang, vượt qua hàng nghìn kilômét rừng núi.

Trong đoàn quân ấy có Nguyễn Viết Lưu, chiến sĩ thuộc C10 – Đoàn 724. Những gì còn lại về anh trong phần tư liệu hiện có chỉ là một giấy báo tử, một vài thông tin về quê quán và những dòng ngắn ngủi mô tả bệnh tật, ngày mất, nơi mai táng.

Anh qua đời ngày 11/10/1966 vì bệnh hen suyễn và sốt rét. Chỉ dẫn nơi chôn cất ghi: “Tại trạm X27 đi X10 đường giao liên tỉnh Phước Long, biên giới Việt – Miên. Mộ ở bên trái bờ suối Ông Be, đầu quay về hướng Tây Nam, cách đường giao liên đi 35 phút đồng hồ theo ngược suối, giữa trạm X27 đi X10”.

Hai căn bệnh cùng lúc đã khiến sức khỏe người lính suy kiệt giữa chặng đường khắc nghiệt. Sốt rét gây ra những cơn rét run, sốt cao, thiếu máu và tổn thương nhiều cơ quan. Hen suyễn làm đường thở co thắt, khiến người bệnh khó thở từng cơn. Trong khí hậu ẩm lạnh, mưa rừng kéo dài, việc mang vác nặng và thiếu thuốc men, tình trạng của anh hẳn đã trở nên đặc biệt nguy hiểm.

Hồ sơ không cho biết Nguyễn Viết Lưu mắc hen từ trước khi nhập ngũ hay bệnh bộc phát trên đường hành quân. Cũng chưa rõ anh được điều trị ở trạm quân y nào, đồng đội đã cáng anh đi bao lâu và anh trút hơi thở cuối cùng tại trạm hay ngay bên đường.

Nhưng chỉ riêng việc một người mang bệnh hen vẫn có mặt trong đội hình hành quân xuyên Trường Sơn đã cho thấy ý chí và sự chịu đựng phi thường. Mỗi bước lên dốc, mỗi lần lội suối hay mang vác khí tài đều có thể khiến cơn khó thở tái phát. Anh vẫn đi cùng đồng đội qua Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, rồi tới vùng Phước Long – Campuchia trước khi không thể tiếp tục.

Nguồn công khai về 15 giấy báo tử của Đoàn 724 còn ghi: “Nguyễn Viết Lưu – 33 – Xóm Cộng Hòa – thôn Ngãi Cầu – xã An Khánh…”. Nếu con số 33 là tuổi của liệt sĩ, anh sinh khoảng năm 1933. Quê quán nhiều khả năng thuộc thôn Ngãi Cầu, xã An Khánh, vùng Hoài Đức, tỉnh Hà Tây cũ, nay thuộc thành phố Hà Nội.

Tuy nhiên, phần địa danh cần tiếp tục được đối chiếu với bản gốc giấy báo tử và hồ sơ quân nhân trong nước. “Xóm Cộng Hòa” có thể là một xóm thuộc thôn Ngãi Cầu, nhưng cũng có khả năng cách phân chia các trường thông tin trên giấy đã được đọc chưa hoàn toàn chính xác. Khi chưa xác minh, cần giữ nguyên cách ghi của tài liệu để tránh nhầm lẫn với một người cùng tên.

Nếu Nguyễn Viết Lưu qua đời ở tuổi 33, có thể nơi quê nhà anh đã có cha mẹ già, anh chị em, thậm chí vợ con ngày đêm mong tin. Một tờ giấy báo tử được lập ngày 10/12/1966 có thể đã được gửi về hậu phương, nhưng thông tin về ngôi mộ bên suối Ông Be chưa chắc đến được với gia đình. Qua nhiều thập niên, con cháu của anh có thể chỉ biết người thân hy sinh trên đường vào Nam mà không biết nơi an táng ban đầu được ghi cụ thể đến như vậy.

2. Hai ngôi mộ bên trái bờ suối Ông Be

Điểm đặc biệt nhất trong hồ sơ Nguyễn Viết Lưu là sự tương đồng giữa chỉ dẫn mộ của anh với chỉ dẫn dành cho liệt sĩ Nguyễn Đức Môn, người đã được giới thiệu trong Hồ sơ số 87/2026.

Nguyễn Đức Môn qua đời vì sốt rét ngày 14/9/1966. Anh được mai táng trên đường từ X27 đi X10, bên trái bờ suối Ông Be, đầu quay về hướng Tây Nam. Ngôi mộ cách bờ suối khoảng 20m và từ đường giao liên đi vào mất khoảng 35 phút.

Nguyễn Viết Lưu mất sau đó gần một tháng, ngày 11/10/1966. Mộ của anh cũng nằm giữa trạm X27 và X10, bên trái bờ suối Ông Be, đầu quay về hướng Tây Nam; từ đường giao liên đi ngược suối khoảng 35 phút.

Những chi tiết trùng khớp rất đáng chú ý: cùng tuyến X27 – X10, cùng suối Ông Be, cùng phía bên trái bờ suối, cùng khoảng cách 35 phút từ đường giao liên và cùng hướng đặt đầu về phía Tây Nam.

796767942-1793667035101380-3279611132579604708-n-1788759506.jpg

Sự tương đồng ấy tạo cơ sở để đặt ra giả thuyết rằng Nguyễn Đức Môn và Nguyễn Viết Lưu được mai táng trong cùng một khu vực, có thể là một bãi chôn cất nhỏ do C10 – Đoàn 724 sử dụng trong thời gian đơn vị hành quân qua đây. Hai ngôi mộ thậm chí có thể nằm tương đối gần nhau, bởi người chôn cất sau có khả năng chọn lại vị trí đã từng mai táng đồng đội trước đó.

Tuy nhiên, chưa thể khẳng định hai liệt sĩ nằm cạnh nhau. Khoảng cách 35 phút có thể chỉ là cách ước lượng tương đối; người đi ở hai thời điểm khác nhau có thể dừng tại hai vị trí cách nhau hàng trăm mét. Suối Ông Be cũng có thể kéo dài qua một địa bàn rộng, với nhiều đoạn cùng nằm bên trái tuyến hành quân.

Chỉ dẫn của Nguyễn Đức Môn ghi mộ cách bờ suối 20m, trong khi hồ sơ Nguyễn Viết Lưu không nêu khoảng cách từ mộ đến mép nước. Thay vào đó, tài liệu bổ sung hướng “theo ngược suối”. Chi tiết này có giá trị đặc biệt: từ điểm đường giao liên gặp hoặc đi gần suối Ông Be, người tìm kiếm phải đi ngược dòng khoảng 35 phút rồi mới tới khu vực mộ.

Nếu xác định được giao điểm lịch sử giữa tuyến X27 – X10 và suối Ông Be, hướng tìm kiếm có thể được phục dựng theo một trình tự: nhận diện dòng chảy, xác định chiều thượng nguồn, lần theo bờ suối trong khoảng thời gian hành quân tương ứng, sau đó khảo sát phần đất phía bên trái theo quy ước của sơ đồ.

Nhưng “bên trái bờ suối” vẫn là một vấn đề cần giải mã. Đó có thể là bờ trái theo chiều dòng chảy từ thượng nguồn xuống hạ lưu; cũng có thể là phía trái của người đang đi ngược suối. Nếu người lập chỉ dẫn đứng quay mặt về thượng nguồn, “bên trái” sẽ khác hoàn toàn với bờ trái theo quy ước thủy văn.

Hướng đầu hai ngôi mộ đều quay về Tây Nam có thể giúp làm rõ cách bố trí. Nếu phát hiện hai dấu huyệt có cùng hướng, cùng độ sâu và nằm trong khoảng cách hợp lý, sự tương đồng sẽ củng cố giả thuyết đây là nơi đồng đội C10 từng mai táng Nguyễn Đức Môn và Nguyễn Viết Lưu.

Tên suối Ông Be hiện chưa được giải mã chắc chắn trên bản đồ hiện đại. Đây có thể là địa danh dân gian, cách phiên âm từ tiếng của đồng bào bản địa hoặc tên một người từng sinh sống gần đó. Cũng không loại trừ khả năng chữ “Be” đã bị đọc sai từ tài liệu viết tay.

Vì vậy, việc tìm kiếm cần mở rộng tới các biến thể “Ông Be”, “Ông Bê”, “O Be” và những tên suối có âm gần giống trên địa bàn Phước Long cũ, Bù Gia Mập cùng khu vực biên giới Campuchia. Cần hỏi các già làng S’tiêng, M’nông, người Khmer và những cựu giao liên từng hoạt động tại đây. Một tên gọi không xuất hiện trên bản đồ hành chính có thể vẫn còn sống trong ký ức cộng đồng.

Cũng cần lưu ý địa hình khu vực đã biến đổi mạnh. Rừng có thể trở thành nông trường, đường giao thông, khu dân cư hoặc lòng hồ. Suối nhỏ có thể bị đổi dòng, bồi lấp hay mang tên khác. Tuyến giao liên X27 – X10 nhiều khả năng không trùng hoàn toàn với đường hiện nay.

Do đó, hồ sơ CDEC cần được kết hợp với bản đồ quân sự trước năm 1975, ảnh hàng không lịch sử, dữ liệu địa hình, hồ sơ giao liên, lịch sử Đoàn 724 và biên bản quy tập sau chiến tranh. Việc tìm đúng suối Ông Be có thể không chỉ giúp xác định hai ngôi mộ, mà còn góp phần phục dựng một đoạn quan trọng trong tuyến hành quân của đơn vị.

3. Từ 15 giấy báo tử đến một bản đồ tìm kiếm xuyên biên giới

Trường hợp Nguyễn Viết Lưu khép lại danh sách 15 giấy báo tử của C10 – Đoàn 724 được nhóm nghiên cứu Dự án TTU–VWAI hệ thống hóa từ hồ sơ CDEC. Khi đặt các chỉ dẫn cạnh nhau, hành trình của đơn vị từ tháng 7 đến tháng 10/1966 dần hiện lên qua từng trạm giao liên và từng ngôi mộ.

Dương Văn Quang nằm lại trên đoạn T79 – T80, thuộc khu vực Kon Tum – Attapeu. Bùi Thanh Hải mất tại Trạm 6 ở vùng Gia Lai giáp Campuchia. Nguyễn Đình Bính qua đời tại Bệnh viện C07 và được chỉ dẫn trên tuyến T6 – T8.

Nguyễn Văn Phong được mai táng bên trái đường T8 – T9, cách đường 100m, cách suối 50m và cách T8 khoảng hai giờ đi bộ. Trần Huy Phúc nằm lại tại T8. Nguyễn Phú Phong, Nguyễn Văn Mai và Hà Hữu Hiếu hy sinh trong những ngày máy bay oanh tạc tuyến T9 – T10. Nguyễn Đình Phú qua đời vì sốt rét một ngày sau đó.

799170969-28151588031129837-2085370047570118013-n-1788759525.jpg

Phan Trọng Trí và Hoàng Tiến Đôn có chỉ dẫn dẫn về T6. Nguyễn Đức Môn, Vương Duy Phương, Đỗ Văn Bích và Nguyễn Viết Lưu nằm trên hệ thống tuyến X thuộc địa bàn Phước Long cũ và phần đất Campuchia: X27, X10, X8, X26, suối Ông Be và địa vật “sông cạn”.

Nhìn tổng thể, 15 trường hợp tạo thành một hành lang tìm kiếm xuyên biên giới, kéo dài từ Nam Lào qua Tây Nguyên đến miền Đông Nam Bộ và Campuchia. Đây cũng chính là hướng hành quân của Đoàn 724 trong năm 1966.

Bởi vậy, cùng với việc tìm địa điểm trên thực địa, cần rà soát toàn bộ hồ sơ quy tập có nguồn mộ từ các trạm T6, T8, T9, T10, X8/X26, X27 – X10, bờ sông và suối Ông Be. Nếu một biên bản quy tập ghi hai ngôi mộ nằm cạnh suối, đầu quay Tây Nam, nguồn từ tuyến X27 – X10, đó sẽ là đầu mối đặc biệt quan trọng để đối chiếu với Nguyễn Đức Môn và Nguyễn Viết Lưu.

Thông tin trong hồ sơ CDEC là nguồn chỉ dẫn có giá trị, nhưng chưa phải kết luận cuối cùng. Việc xác định vị trí, khai quật, quy tập và giám định danh tính phải do các cơ quan chức năng Việt Nam tiến hành, đồng thời phối hợp với phía Lào và Campuchia đối với các khu vực ngoài lãnh thổ.

Điều cấp thiết lúc này là tìm thân nhân và đồng đội của 15 liệt sĩ. Giấy báo tử có thể cung cấp tuổi, quê quán và đơn vị, nhưng nhiều phần chữ còn mờ, địa danh đã thay đổi hoặc được ghi theo cách cũ. Gia đình có thể đang giữ những lá thư, tấm ảnh, lý lịch quân nhân hay giấy báo tử khác giúp xác nhận danh tính.

Riêng với Nguyễn Viết Lưu, chúng tôi mong nhận được thông tin từ người dân thôn Ngãi Cầu, xã An Khánh, huyện Hoài Đức, Hà Nội; đặc biệt là những gia đình có người thân tên Nguyễn Viết Lưu, sinh khoảng năm 1933, từng nhập ngũ và thuộc Đoàn 724. Cần xác minh “Xóm Cộng Hòa” có phải địa chỉ gia đình anh vào năm 1966 hay không.

Chúng tôi cũng trân trọng đề nghị các cựu chiến binh C10 – Đoàn 724, cán bộ giao liên, quân y và người dân từng sinh sống tại Phước Long, Bù Gia Mập, vùng biên giới Campuchia cung cấp ký ức về tuyến X27 – X10 và suối Ông Be.

Sáu mươi năm trước, đồng đội đã chôn cất Nguyễn Viết Lưu bên một dòng suối, đặt đầu anh quay về hướng Tây Nam rồi ghi lại đường đi tới mộ bằng đơn vị “35 phút đồng hồ”. Sáu mươi năm sau, dòng chỉ dẫn ấy vẫn còn nguyên giá trị như một lời gửi lại.

Người lính cuối cùng trong 15 giấy báo tử chưa phải người cuối cùng cần được tìm kiếm. Đằng sau anh còn là hàng vạn người Việt Nam mất tích trong chiến tranh, hàng vạn gia đình chưa biết người thân đang nằm nơi đâu. Hành trình đưa các anh trở về sẽ còn dài, nhưng mỗi hồ sơ được giải mã, mỗi thân nhân được kết nối và mỗi địa điểm được khoanh vùng chính xác đều là một bước tiến của khoa học, lòng nhân ái và văn hóa tri ân.

Hà Nội, 07/9/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên Dự án TTU–VWAI)