
Câu chuyện về tình yêu của bà đã chạm đến trái tim của đông đảo độc giả. Cảm phục trước tình yêu thủy chung, son sắc ấy, soạn giả Nguyễn Thiện Cẩn (bút danh: Thiện Cẩn), Nguyên Phó Trưởng Ban tuyên giáo Tỉnh ủy, Nguyên Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Kiên Giang (cũ) đã sáng tác Bài ca vọng cổ “Em chịu cưới rồi” ca ngợi phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ bình dị và cao cả ấy.
Bài ca vọng cổ
EM CHỊU CƯỚI RỒI!
Sáng tác: Thiện Cẩn
Lối
Sau những ngày khai quật ở một góc công viên
Để tìm kiếm những chiến sĩ trung kiên bị kẻ thù chôn vùi mùa xuân năm ấy
Những bộ hài cốt đã được tìm thấy
Phụng hoàng (4 câu đầu)
Có cả những kỷ vật năm nào, xúc động dâng trào nỗi nhớ niềm thương
Của anh giải phóng quân và cô giao liên bên sông Vàm Cỏ
Dưới ánh trăng khi mờ, khi tỏ
Soi rõ tiếng tơ lòng, đôi má ửng hồng, em có chịu cưới không?
Rồi anh vào chiến dịch tổng tấn công
Tết Mậu Thân, đạn pháo ầm vang khói lửa ngút trời
Anh ra đi, nhớ khắc ghi lời hẹn ước
Xúc động bồi hồi, em chịu cưới rồi, anh về lại với em nghen.
CÂU 1:
Chỉ có vậy thôi mà mấy chục năm qua em vẫn chờ, vẫn đợi, nước sông Vàm Cỏ vẫn đầy vơi mà hình bóng người đi cứ vời vợi ở…
Vọng cổ
…phương… nào. Nghe tiếng súng tấn công em xúc động nghẹn ngào.
Kỷ vật anh trao bên bờ sông Vàm Cỏ
Chiếc áo trận ngày nào còn đó vết sờn vai (-)
Hẹn ngày tương phùng dâng mẹ miếng trầu cay
Xin mẹ chọn ngày để đôi ta nên duyên cầm sắc.
Em sướng vui tuông dòng nước mắt, quặn thắt trong lòng chờ mong theo năm tháng (-)
Dậm
Rời Tân Phước Tây anh tiến về nội đô Sài Gòn – Gia Định, vượt cầu chữ Y dưới mũi đạn, làn tên.
CÂU 2:
Mẹ đặt cho anh là Huỳnh Văn Quên mà em nhớ mãi chẳng quên bao giờ.
Sông Vàm Cỏ thân thương sóng vỗ nhẹ đôi bờ.
Tình của đôi ta bao la như dòng sông rộng, năm tháng đợi chờ lồng lộng bóng trăng quê (-)
Nơi chiến trường gian khổ anh chẳng hề, ở hậu phương em cất giữ lời thề trong nỗi nhớ.
Luôn lo sợ tình ta dang dở, em nguyện tôn thờ người chiến sĩ của lòng em (-)
Lý trị an (2 lớp)
Ôi đớn đau, đi vào trong giấc mộng
Tình đôi ta, như khúc ca, thương nhớ đong đầy
Dòng sông quê, câu hẹn thề, em luôn ghi nhớ
Trăng rạng ngời, khắp đất trời, vẫn luôn chờ mong
***
Tiếng súng tấn công, trong lòng bao xúc động
Người thương ơi, anh ở đâu em mong ngóng tin hồng
Dòng thời gian, ôi chứa chan, lòng em xao xuyến
Trận chiến qua rồi, em bồi hồi, xuôi ngược tìm anh.
CÂU 5:
Rồi em nhận được tin, anh đã hy sinh trong đợt tổng tấn công mùa xuân năm ấy, xác thân anh vẫn chưa tìm thấy, dòng lệ tuôn rơi trên khóe mắt…
VỌNG CỔ
đong… đầy. Tìm về quê anh trong mưa gió dạn dày.
Bước đi liêu xiêu em về nơi kỷ niệm, thắp cho anh nén nhang rồi xin mẹ được làm dâu (-)
Bà mẹ già trao đôi bông tay ngọc và chiếc nhẫn vàng là quà cưới muộn màng dù không có lễ thành hôn.
Nhìn dòng sông Vàm Cỏ nước chảy mênh mông chở bao thương nhớ, chờ mong anh về (-)
CÂU 6:
Mấy chục năm qua bôn ba khắp nẻo, từng ngõ phố con đường, anh nằm ở nơi đâu?
Đồng đội bới đào trong một hố sâu
Như phép nhiệm màu, hài cốt và kỷ vật của anh vẫn còn nguyên vẹn.
Huỳnh Văn Quên ơi, em vẫn nhớ hoài lời ước hẹn, bên rặng dừa xanh nghèn nghẹn buổi tiễn đưa.
Thương anh biết mấy cho vừa
Tìm anh không được, em chưa yên lòng (-)
Nhìn tấm bằng Tổ quốc ghi công bên ngôi nhà quạnh quẽ
Thắp nén nhang lòng, lặng lẽ gọi tên anh.
Mái tóc bạc phơ, an ủi dỗ dành
“Tôi chịu cưới rồi, ông về với tôi nghen” (-)./.
Bài ca vọng cổ “Em chịu cưới rồi!” của soạn giả Nguyễn Thiện Cẩn là một tác phẩm giàu chất nhân văn, thấm đẫm cảm xúc và mang sức lay động mạnh mẽ đối với người nghe. Đây không chỉ là câu chuyện về một cuộc tình dang dở mà còn là khúc tưởng niệm thiêng liêng dành cho những người đã ngã xuống vì độc lập dân tộc, tự do của Tổ quốc, đồng thời là bản ngợi ca vẻ đẹp cao quý của người phụ nữ Việt Nam – những con người giàu lòng yêu thương, sống trọn nghĩa trọn tình và thủy chung vượt lên trên mọi giới hạn của thời gian, không gian, thậm chí cả sự sống và cái chết để giữ vững khí tiết của mình.
Chúng ta thấy một điều đáng chú ý là tác giả không mở đầu bài ca vọng cổ bằng cảnh chia tay hay một cuộc gặp gỡ lãng mạn giữa đôi trai gái quen thuộc thường gặp ở một số bài thơ, bài ca vọng cổ. Ông bắt đầu câu chuyện từ hiện tại:
“Sau những ngày khai quật ở một góc công viên
Để tìm kiếm những chiến sĩ trung kiên bị kẻ thù chôn vùi mùa xuân năm ấy...
Những bộ hài cốt đã được tìm thấy”
Một góc công viên ở đây là công viên Lê Thị Riêng khi các cán bộ, chiến sĩ Bộ Tư lệnh TP.HCM và Bộ Tư lệnh Quân khu 7 kiên trì bóc tách từng ô, từng lớp đất tìm kiếm hài cốt và di vật của các anh hùng liệt sĩ. Dưới hố khai quật sâu khoảng 3,5 m, tại rãnh mộ tập thể dài khoảng 25 m lực lượng chức năng tìm thấy nhiều bộ hài cốt, di vật của liệt sĩ, trong đó, một hài cốt mang thông tin liệt sỹ Huỳnh Văn Quên. Từ thông tin về liệt sĩ mang tên Huỳnh Văn Quên, chúng ta được biết về tình yêu son sắc giữa liệt sĩ với bà Nguyễn Thị Lệ. Chỉ với 3 câu lối ngắn gọn nhưng đã tạo nên một không khí trang nghiêm và đầy xúc động. Hình ảnh cuộc khai quật hài cốt liệt sĩ trở thành chiếc cầu nối giữa hiện tại và quá khứ. Những bộ hài cốt được tìm thấy không chỉ đánh thức ký ức của đồng đội, của nhân dân mà còn làm sống dậy một câu chuyện tình đã ngủ yên hơn nửa thế kỷ. Đây là thủ pháp nghệ thuật mang dáng dấp của kỹ thuật hồi tưởng trong văn học hiện đại. Từ hiện tại, tác giả dẫn người nghe ngược dòng thời gian trở về mùa xuân Mậu Thân lịch sử 1968, nơi có một chàng chiến sĩ giải phóng quân và một cô giao liên trẻ tuổi bên dòng sông Vàm Cỏ. Tại đây, những kỷ vật được tìm thấy cùng hài cốt người chiến sĩ không đơn thuần là hiện vật khảo cổ, chúng trở thành những chứng nhân lịch sử, những “mảnh ký ức” còn sót lại của một cuộc đời và một tình yêu chưa trọn vẹn. Có lẽ một trong những câu ca đẹp nhất của tác phẩm, là: “Em có chịu cưới không?” Đó là lời cầu hôn của người lính trước lúc lên đường vào chiến dịch tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968. Một lời cầu hôn không có hoa hồng, không có nhẫn cưới, không lời hứa hẹn cao sang, chỉ có khói lửa chiến tranh dưới ánh trăng Vàm Cỏ:
“Dưới ánh trăng khi mờ, khi tỏ
Soi rõ tiếng tơ lòng, đôi má ửng hồng...”
Soạn giả Nguyễn Thiện Cẩn đã sử dụng hàng loạt hình ảnh giàu tính biểu tượng: Ánh trăng, tơ lòng, đôi má để khắc họa không gian chứng giám lời tỏ tình của người lính cũng như sự ưng thuận của cô giao liên. Ánh trăng vừa là không gian lãng mạn của tình yêu, vừa là người làm chứng cho tình yêu đôi lứa, là ông mai bà mối kết duyên, gắn kết hai nửa yêu thương lại với nhau, soi rõ “tiếng tơ lòng” của nhau. Tiếng tơ lòng ấy là tình yêu của hai trái tim hòa chung nhịp đập, cùng mong ước được sống chung dưới một mái nhà, một gia đình hạnh phúc, roi rõ đôi má “ửng hồng” vừa e ấp, vừa ngại ngùng, vừa hạnh phúc khi được người mình yêu ngỏ lời và đôi má “ửng hồng” ấy đã đáp lại lời cầu hôn ấy.
Đáp lại lời cầu hôn ấy là câu nói: “em chịu cưới rồi, anh về lại với em nghen” thật giản dị nhưng mang sức nặng của một lời thề. Đó không chỉ là sự đồng ý kết hôn mà còn là lời cam kết gắn bó trọn đời với người mình yêu. Điều đặc biệt là toàn bộ tác phẩm sau này đều xoay quanh câu nói ấy. “Tôi chịu cưới rồi” trở thành lời hẹn, trở thành niềm hy vọng, trở thành nỗi chờ mong. Và cuối cùng trở thành tiếng gọi nghẹn ngào của một người phụ nữ đã đi gần hết cuộc đời mình.
Một trong những thành công nổi bật của tác phẩm là nghệ thuật khắc họa tâm lý nhân vật. Nhân vật trung tâm không phải người chiến sĩ đã hy sinh mà chính là người con gái ở lại. Một cô giao liên trẻ tuổi trải qua nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Đầu tiên là sự e thẹn của tuổi yêu: “Đôi má ửng hồng...”, sau đó là niềm hạnh phúc khi nhận lời cầu hôn, rồi đến những tháng ngày thấp thỏm chờ tin người yêu nơi chiến trận, tiếp đó là nỗi lo âu, sự bất an khi chiến tranh ngày càng khốc liệt và cuối cùng là nỗi đau đớn tột cùng khi nhận tin người yêu đã hy sinh. Tất cả những trạng thái ấy được triển khai tự nhiên như dòng chảy của cuộc đời. Đặc biệt, câu vọng cổ: “Mấy chục năm qua em vẫn chờ, vẫn đợi...” là một câu ca chứa đựng sức nặng cảm xúc rất lớn. Điệp từ “vẫn” được lặp lại liên tiếp như nhấn mạnh sự bền bỉ, trường tồn, thủy chung son sắt của tình yêu. Thời gian có thể làm đổi thay mọi thứ nhưng không thể làm phai nhạt lời hẹn ước năm nào. Trong nghệ thuật vọng cổ, đôi khi chỉ một chữ cũng đủ tạo nên chiều sâu tâm trạng. Hai chữ “vẫn đợi” ở đây chính là sự cô đọng của hàng chục năm cô đơn, nhớ nhung và hy vọng. Câu “Mấy chục năm qua em vẫn chờ, vẫn đợi...” gợi cho chúng ta nhớ đến bài thơ “Đợi anh về” của nhà thơ Ximônốp (Liên Xô). Bài thơ là một khúc ca về tình yêu và lòng chung thủy của lứa đôi làm lay động trái tim của triệu triệu com tim người lính Hồng quân ngoài mặt trận và cả của những người ở hậu phương. Cụm từ “em vẫn chờ, vẫn đợi...” đã trở thành lời thề chung thủy với tình yêu, thành biểu tượng tình vợ chồng thiêng liêng của bao chàng trai, cô gái trên dải đất hình chữ S trong những năm tháng chiến tranh vệ quốc.
Và trong toàn bộ tác phẩm, hình tượng dòng sông Vàm Cỏ xuất hiện nhiều lần.
“Nước sông Vàm Cỏ vẫn đầy vơi...”
“Sông Vàm Cỏ thân thương sóng vỗ nhẹ đôi bờ...”
“Nhìn dòng sông Vàm Cỏ nước chảy mênh mông...”
Nếu người chiến sĩ là linh hồn của câu chuyện thì dòng sông chính là nhân chứng lịch sử. Dòng sông đã chứng kiến buổi gặp gỡ của hai người. Dòng sông nghe lời cầu hôn. Dòng sông tiễn người chiến sĩ lên đường. Và cũng chính dòng sông đồng hành cùng người phụ nữ trong những năm tháng đợi chờ. Hình ảnh “đầy vơi” của dòng nước là một ẩn dụ đẹp nói về nỗi nhớ nhung da diết của cô gái đối với người yêu. Con nước lên xuống theo quy luật của tự nhiên, cũng như cảm xúc con người lúc dâng trào, lúc lặng lẽ nhưng chưa bao giờ vơi cạn. Bằng cách sử dụng hình tượng dòng sông xuyên suốt tác phẩm, soạn giả đã tạo nên một kết cấu nghệ thuật thống nhất và giàu sức gợi.
Một chi tiết rất đắt trong tác phẩm là tên người chiến sĩ: Huỳnh Văn Quên. Người yêu anh cất tiếng: “Mẹ đặt cho anh là Huỳnh Văn Quên mà em nhớ mãi chẳng quên bao giờ.”. Đây là một cách chơi chữ tự nhiên nhưng vô cùng hiệu quả. Tên là “Quên” nhưng lại “chẳng quên”. Sự đối lập ấy làm nổi bật mức độ sâu đậm của tình yêu. Trong văn học, những nghịch lý ngôn từ thường tạo nên sức ám ảnh đặc biệt. Chỉ một câu ca ngắn mà người nghe có thể cảm nhận được cả một đời thương nhớ. Đó cũng là minh chứng cho sự tinh tế trong ngôn ngữ của soạn giả Thiện Cẩn.
Nếu chỉ kể về một liệt sĩ hy sinh thì tác phẩm sẽ mang màu sắc bi thương thông thường. Nhưng điều làm nên chiều sâu của “Em chịu cưới rồi!” chính là sự thủy chung, son sắc của người phụ nữ đối với người yêu. Người chiến sĩ hy sinh. Người yêu không lấy chồng. Lời hẹn không thành. Đám cưới không diễn ra. Nhưng tình yêu vẫn tồn tại mãi mãi trước sự xoay vần của thời gian. Câu ca: “Thắp cho anh nén nhang rồi xin mẹ được làm dâu.”. Có lẽ hiếm có hình ảnh nào trong vọng cổ hiện đại lại gây xúc động đến vậy. Một người phụ nữ tìm về quê người yêu đã khuất để xin được làm dâu. Không sính lễ, không chú rể, không tiệc cưới. Chỉ có nén nhang và nước mắt. Nhưng đó lại là một lễ cưới thiêng liêng hơn bất kỳ nghi thức nào.
Bên cạnh nhân vật nữ, hình tượng người mẹ cũng được khắc họa đầy xúc động. “Bà mẹ già trao đôi bông tay ngọc và chiếc nhẫn vàng...”. Đó là chi tiết mang giá trị nhân văn sâu sắc. Người mẹ hiểu rằng con trai mình không còn nữa, nhưng bà cũng hiểu rằng trước mặt mình là người con gái đã dành cả tuổi xuân để chờ đợi. Đôi bông tai và chiếc nhẫn không chỉ là quà cưới, đó là sự thừa nhận, là tình mẫu tử, là nghĩa tình gia đình, là sự bù đắp cho một số phận nhiều mất mát. Khoảnh khắc ấy khiến ranh giới giữa sự sống và cái chết dường như bị xóa nhòa.
Sau hàng chục năm tìm kiếm, hài cốt người chiến sĩ cuối cùng được tìm thấy. Đó là niềm vui, nhưng cũng là nỗi đau. Niềm vui vì người nằm xuống đã được trở về với đất mẹ. Nỗi đau vì cuộc đoàn tụ ấy đến quá muộn. Tác giả xây dựng cao trào bằng hàng loạt hình ảnh giàu sức gợi:
“Mái tóc bạc phơ...”
“Tấm bằng Tổ quốc ghi công...”
“Ngôi nhà quạnh quẽ...”
Tất cả đều là những biểu tượng của thời gian. Tuổi trẻ đã qua, người lính mãi mãi nằm lại tuổi đôi mươi, người con gái ngày nào nay tóc đã bạc, nhưng tình yêu vẫn nguyên vẹn. Và rồi câu kết vang lên: “Tôi chịu cưới rồi, ông về với tôi nghen.” Đây là câu ca đắt giá nhất toàn bộ tác phẩm. Nếu ở đầu bài là lời nhận cưới của cô gái trẻ thì cuối bài là tiếng gọi của một người phụ nữ đã đi gần hết cuộc đời. Cấu trúc lặp vòng ấy tạo nên tính hoàn chỉnh cho tác phẩm. Câu nói năm xưa giờ trở thành tiếng nấc nghẹn ngào giữa hiện tại. Người nghe không chỉ cảm nhận nỗi đau của một cá nhân mà còn thấy hiện lên bóng dáng của hàng ngàn, hàng vạn người phụ nữ Việt Nam đã sống như thế sau chiến tranh.
Đọc toàn bài ca vọng cổ “Em chịu cưới rồi!”, chúng ta thấy đây không đơn thuần là một bài ca vọng cổ kể chuyện tình yêu. Đó là khúc tri ân những người chiến sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc. Đó là bản trường ca về lòng thủy chung son sắt. Đó là lời ngợi ca vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Tình yêu trong tác phẩm không bị giới hạn bởi thời gian, không bị ngăn cách bởi chiến tranh, không bị khuất phục bởi cái chết. Nó tồn tại như một giá trị tinh thần bất tử. Thông qua hình tượng người phụ nữ chờ đợi suốt mấy chục năm, soạn giả Nguyễn Thiện Cẩn đã làm sáng lên những phẩm chất truyền thống cao đẹp của phụ nữ Việt Nam: giàu đức hy sinh, thủy chung, nhân hậu và nghĩa tình. Đó cũng là vẻ đẹp đã góp phần làm nên sức mạnh của dân tộc Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh vệ quốc.
Bằng ngôn ngữ mộc mạc mà giàu sức gợi, bằng hệ thống hình tượng mang tính biểu tượng, như: dòng sông Vàm Cỏ, ánh trăng, chiếc áo trận, chiếc nhẫn cưới và nén nhang tưởng niệm; bằng nghệ thuật khắc họa tâm lý tinh tế cùng kết cấu hồi tưởng chặt chẽ, soạn giả Thiện Cẩn đã tạo nên một tác phẩm vọng cổ giàu giá trị nghệ thuật và nhân văn. Vì thế, “Em chịu cưới rồi!” không chỉ làm người nghe xúc động bởi câu chuyện tình yêu dang dở mà còn khiến chúng ta thêm trân trọng sự hy sinh của các thế hệ cha anh, thêm yêu quý những người phụ nữ Việt Nam đã dành cả tuổi thanh xuân để giữ trọn một lời hẹn ước.
Khép lại bài ca, tiếng gọi “Tôi chịu cưới rồi, ông về với tôi nghen” vẫn còn ngân mãi. Đó không chỉ là lời gọi của một người phụ nữ dành cho người yêu đã khuất, mà còn là tiếng vọng từ chiều sâu lịch sử, nhắc nhớ hôm nay và mai sau về một tình yêu bất tử, một lòng chung thủy bất tử và một vẻ đẹp nhân văn bất tử trong tâm hồn người Việt Nam.