Tuy nhiên, trước sức ép của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, đô thị hóa và yêu cầu ngày càng cao của thị trường, phương thức sản xuất nông nghiệp truyền thống đang đứng trước đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ.
Phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu vì thế không đơn thuần là câu chuyện kỹ thuật hay kinh tế. Đây còn là quá trình điều chỉnh quan hệ giữa con người với thiên nhiên, giữa lợi ích trước mắt với trách nhiệm lâu dài, giữa bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống với tiếp thu thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại. Điều cốt yếu là chuyển đổi phải giúp người nông dân nâng cao thu nhập, cải thiện môi trường sống và có thêm động lực gắn bó với đồng ruộng.

Nông nghiệp xanh – từ thay đổi phương thức sản xuất đến gìn giữ văn hóa châu thổ
Một nghịch lý đang đặt ra đối với nông nghiệp Đồng bằng sông Hồng là vùng có truyền thống canh tác lâu đời nhưng vẫn tồn tại tình trạng sử dụng phân bón mất cân đối, lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật và chưa khai thác hiệu quả phụ phẩm nông nghiệp. Hệ quả không chỉ là suy thoái đất, ô nhiễm nguồn nước, phát thải khí nhà kính mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng và chất lượng không gian sống nông thôn.
Trong bối cảnh ấy, nông nghiệp xanh cần được hiểu là sự thay đổi tư duy sản xuất: Từ chạy theo sản lượng sang chú trọng hiệu quả, chất lượng và trách nhiệm môi trường. Các phương pháp như tưới ngập – khô xen kẽ, hệ thống thâm canh lúa cải tiến, bón phân cân đối và quản lý dịch hại tổng hợp có thể góp phần giảm chi phí đầu vào, tiết kiệm nước và hạn chế phát thải. Chuyển đổi số, thông qua dữ liệu thời tiết, vệ tinh và cảnh báo sâu bệnh, giúp nông dân đưa ra quyết định chính xác hơn, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào kinh nghiệm hoặc thói quen.
Đáng chú ý, nông nghiệp tuần hoàn mở ra cơ hội biến phụ phẩm thành tài nguyên. Rơm rạ có thể được sử dụng để trồng nấm, sản xuất giá thể và phân hữu cơ; chất thải chăn nuôi có thể được xử lý bằng công nghệ biogas. Khi được tổ chức theo chuỗi liên kết của hợp tác xã, thôn, xã và doanh nghiệp, những hoạt động này vừa giảm ô nhiễm, vừa tạo thêm nguồn thu cho cộng đồng.
Nhìn từ góc độ văn hóa, đây cũng là sự tiếp nối tinh thần tiết kiệm, tận dụng tài nguyên và sống hài hòa với tự nhiên vốn hiện diện trong đời sống nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên, không nên lý tưởng hóa mọi tập quán cũ hay xem công nghệ hiện đại là sự thay thế hoàn toàn tri thức truyền thống. Điều cần thiết là kết hợp kinh nghiệm quan sát thời tiết, đất đai, mùa vụ của người dân với kiến thức khoa học, để hình thành phương thức canh tác phù hợp với điều kiện mới.
Kinh nghiệm từ Bỉ cho thấy nền tảng số WatchITgrow (giám sát, quản lý cây trồng, đặc biệt là khoai tây), tích hợp dữ liệu vệ tinh, thời tiết và thổ nhưỡng, đã hỗ trợ nâng năng suất khoai tây bình quân từ 44 lên 60 tấn/ha theo số liệu được cung cấp. Bài học quan trọng không nằm ở việc sao chép nguyên trạng mô hình nước ngoài, mà ở cách tổ chức dữ liệu để phục vụ người sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản và đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc.
Dẫu vậy, nông nghiệp xanh sẽ khó đi vào cuộc sống nếu người nông dân phải tự gánh toàn bộ chi phí chuyển đổi, trong khi lợi ích môi trường thuộc về cả cộng đồng. Những thửa ruộng nhỏ, chi phí chứng nhận cao và rủi ro năng suất trong giai đoạn đầu có thể khiến hộ sản xuất ngần ngại thay đổi. Bởi vậy, cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp, hợp đồng bao tiêu với giá trị gia tăng rõ ràng và sự tham gia chia sẻ chi phí của doanh nghiệp. Làm nông nghiệp xanh phải trở thành cơ hội cải thiện sinh kế, chứ không phải một nghĩa vụ khiến người nông dân thêm khó khăn.
Phát huy giá trị văn hóa làng quê, gắn sinh thái với sinh kế bền vững
Đồng bằng sông Hồng sở hữu mật độ di sản văn hóa, lịch sử và cảnh quan đặc sắc, từ hệ thống đình, chùa, lễ hội làng đến những vùng đất gắn với văn minh lúa nước. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với du lịch trải nghiệm, ẩm thực địa phương và bảo tồn cảnh quan nông thôn. Với Ninh Bình, việc kết nối sản xuất nông nghiệp thân thiện môi trường với thương hiệu di sản Tràng An có thể mở ra những sản phẩm du lịch gắn với mùa vụ, trải nghiệm đồng quê và văn hóa ẩm thực.
Khi du khách tham gia trải nghiệm thu hoạch lúa, tìm hiểu nghề truyền thống hoặc thưởng thức nông sản tại chỗ, giá trị của nông nghiệp không còn giới hạn ở sản lượng thu hoạch. Cánh đồng trở thành một phần của không gian văn hóa, người nông dân có thêm vai trò là người gìn giữ tri thức bản địa và truyền tải câu chuyện về vùng đất. Tuy nhiên, phát triển du lịch cần đi cùng bảo vệ môi trường, giữ gìn tính chân thực của di sản và bảo đảm người dân địa phương được hưởng lợi công bằng, tránh thương mại hóa quá mức làm biến dạng cảnh quan, phong tục.
Một yêu cầu quan trọng khác là tổ chức lại nguồn nhân lực nông thôn. Khi nhiều lao động trẻ chuyển sang công nghiệp và dịch vụ, phụ nữ trung niên, người cao tuổi vẫn là lực lượng trực tiếp sản xuất ở không ít địa phương. Vì vậy, chuyển đổi nông nghiệp cần dựa trên cách tiếp cận bao trùm: đào tạo kỹ thuật ngắn hạn, dễ áp dụng cho người đang canh tác; đồng thời phát huy đội ngũ lao động trẻ trong quản lý dữ liệu, vận hành thiết bị và tổ chức dịch vụ dùng chung ở hợp tác xã. Đổi mới không có nghĩa là thay thế người nông dân, mà là giúp họ làm chủ những phương thức sản xuất mới.
Cùng với doanh nghiệp và thị trường, Nhà nước cần đóng vai trò hỗ trợ trong giai đoạn chuyển đổi, nhất là thông qua chi trả dịch vụ môi trường, hỗ trợ kỹ thuật và khuyến khích liên kết chuỗi giá trị. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy chuyển đổi thiếu lộ trình có thể gây tổn thất sản xuất và ảnh hưởng an ninh lương thực. Vì thế, cần triển khai theo từng bước, dựa trên bằng chứng khoa học, đánh giá hiệu quả thực tế và bảo đảm sinh kế của nông hộ.
Về lâu dài, phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu phải hướng đến sự hài hòa giữa ba yếu tố: Môi trường được phục hồi, kinh tế nông nghiệp có sức cạnh tranh và văn hóa nông thôn tiếp tục được trao truyền. Khi người nông dân có thu nhập xứng đáng từ nông sản chất lượng, phụ phẩm được tái sử dụng, cảnh quan được gìn giữ và tri thức truyền thống được kết hợp với khoa học hiện đại, chuyển đổi xanh mới thực sự có nền tảng xã hội vững chắc.
Bảo vệ những cánh đồng Đồng bằng sông Hồng, vì vậy, cũng là bảo vệ không gian văn hóa đã nuôi dưỡng nhiều thế hệ người Việt. Con đường phát triển bền vững không đòi hỏi lựa chọn giữa tăng trưởng và bảo tồn, giữa công nghệ và truyền thống, mà cần kết nối những giá trị ấy trong một mô hình phát triển lấy con người làm trung tâm. Khi môi trường tốt hơn đồng thời đem lại cuộc sống tốt hơn cho người nông dân, nông nghiệp xanh mới trở thành lựa chọn tự giác, lâu dài và có sức lan tỏa trong toàn vùng châu thổ.
V.X.B