Góc nhìn văn hoá: Phát triển nông nghiệp hữu cơ, sinh thái - Kiến tạo niềm tin thị trường

Phát triển nông nghiệp hữu cơ, sinh thái không chỉ là sự thay đổi phương thức canh tác hay đáp ứng những tiêu chuẩn kỹ thuật của thị trường, mà còn là quá trình chuyển đổi văn hóa sản xuất, tiêu dùng và ứng xử với thiên nhiên. Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sức khỏe, an toàn thực phẩm và môi trường, niềm tin trở thành nguồn lực quan trọng quyết định giá trị của nông sản.

Thực tiễn được chia sẻ tại Hội thảo “Thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ và sinh thái ở Việt Nam”, diễn ra ngày 20/10/2026 tại Hà Nội, cho thấy muốn phát triển bền vững lĩnh vực này, cần kết hợp hài hòa giữa khoa học, tiêu chuẩn, tổ chức sản xuất và những giá trị văn hóa được hình thành từ mỗi vùng đất, cộng đồng.

dt1abcd-2510-1792852036.png

Sơ đồ minh hoạ. Ảnh: nongnghiephuuco.vn

Từ thay đổi phương thức canh tác đến xây dựng văn hóa nông nghiệp sinh thái

Nhìn từ góc độ văn hóa, nông nghiệp hữu cơ và sinh thái trước hết đặt ra yêu cầu thay đổi nhận thức về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Nếu phương thức sản xuất chỉ chú trọng sản lượng trước mắt, đất đai, nguồn nước và đa dạng sinh học dễ bị xem như những nguồn lực có thể khai thác không giới hạn. Ngược lại, tư duy sinh thái coi sức khỏe đất, cân bằng hệ sinh thái, tuần hoàn dinh dưỡng và khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu là nền tảng của sản xuất lâu dài. Đó cũng là sự trở về với tinh thần canh tác biết dựa vào tự nhiên, đồng thời tiếp thu tri thức khoa học để tổ chức sản xuất hiệu quả hơn.

Tại hội thảo, các ý kiến chuyên môn nhấn mạnh rằng phát triển hữu cơ cần đặt trong quá trình chuyển đổi toàn diện hệ thống nông nghiệp và lương thực, thực phẩm. Mỗi vùng có điều kiện thổ nhưỡng, nguồn nước, sinh kế và năng lực cộng đồng khác nhau, do đó không thể áp dụng một mô hình chung cho mọi địa phương. Phát huy lợi thế sinh thái của từng vùng, kết hợp tri thức bản địa với tiến bộ khoa học, chính là cách tạo nên bản sắc cho nền nông nghiệp Việt Nam. Giá trị của sản phẩm vì thế không chỉ nằm ở số lượng hay hình thức, mà còn ở cách thức sản xuất, khả năng gìn giữ tài nguyên và trách nhiệm đối với cộng đồng.

Từ góc nhìn ấy, phát triển nông nghiệp hữu cơ cũng là quá trình xây dựng văn hóa trách nhiệm. Người nông dân phải thay đổi thói quen sử dụng vật tư, chủ động kiểm soát sâu bệnh, ghi chép quy trình và tuân thủ tiêu chuẩn. Các chuyên gia tại hội thảo lưu ý rằng việc quản lý sinh vật gây hại cần bắt đầu từ sức khỏe hệ sinh thái, thông qua luân canh, xen canh, bảo vệ thiên địch, sử dụng giống phù hợp và duy trì độ phì của đất. Ngay cả những sản phẩm được giới thiệu là “sinh học” cũng cần được đánh giá dựa trên thành phần, đặc tính và điều kiện sử dụng, thay vì chỉ tin vào tên gọi trên bao bì.

Điều đó cho thấy chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ không thể chỉ dựa vào những lời kêu gọi chung chung. Nó cần được cụ thể hóa bằng tri thức, kỹ năng và kỷ luật nghề nghiệp. Kinh nghiệm truyền thống vẫn có giá trị, nhưng phải được bổ sung bằng kiến thức khoa học; tinh thần gần gũi với tự nhiên phải đi cùng khả năng kiểm soát rủi ro và bảo đảm chất lượng. Đào tạo nông dân, nâng cao năng lực hợp tác xã và hình thành cộng đồng cùng học hỏi, cùng giám sát vì thế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

dt1a-dat-2510-1792852264.jpg

Ông Đoàn Tấn Đạt, Giám đốc HTX Tấn Đạt, chia sẻ kinh nghiệm tổ chức sản xuất lúa hữu cơ, liên kết tiêu thụ và nâng cao thu nhập cho nông dân. Ảnh: nongnghiephuuco.vn

Một khía cạnh khác cần được nhìn nhận đầy đủ là văn hóa công bằng trong chuỗi giá trị. Sản xuất hữu cơ đòi hỏi thời gian chuyển đổi, chi phí chứng nhận, công sức ghi chép và trách nhiệm duy trì chất lượng. Nếu những chi phí ấy chủ yếu do nông dân gánh chịu, trong khi lợi ích thị trường tập trung ở các khâu khác, mô hình khó có thể tồn tại lâu dài. Từ thực tiễn sản xuất lúa gạo, ông Đoàn Tấn Đạt, Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất Dịch vụ Nông nghiệp Tấn Đạt (Vĩnh Long), đặt trọng tâm vào tổ chức vùng nguyên liệu và chia sẻ trách nhiệm giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp. Ông Đạt cho biết hành trình nghiên cứu, tìm hướng sản xuất đã được ông Đoàn Văn Tài khởi đầu từ năm 2010; hợp tác xã chính thức thành lập năm 2017, đạt chứng nhận hữu cơ Mỹ năm 2019, sau đó tiếp cận các chứng nhận của những thị trường khác.Thực tiễn của Hợp tác xã Tấn Đạt cho thấy chi phí tái đánh giá chứng nhận quốc tế, hạn chế về vốn, hạ tầng và đầu ra ổn định vẫn là những thách thức cụ thể. Bởi vậy, hiệu quả của nông nghiệp hữu cơ cần được đánh giá cả bằng lợi nhuận thực nhận, thu nhập của người sản xuất và khả năng duy trì sinh kế, chứ không chỉ bằng diện tích được chứng nhận hay số lượng sản phẩm đưa ra thị trường.

Đây cũng là vấn đề của văn hóa liên kết. Doanh nghiệp cần tham gia từ trước khi xuống giống, cùng hợp tác xã xác định nhu cầu, tiêu chuẩn và kế hoạch thu mua; hợp tác xã tổ chức sản xuất, quản lý chất lượng; nông dân thực hiện đúng quy trình và được chia sẻ hợp lý những rủi ro phát sinh. Khi mỗi bên thực hiện đầy đủ trách nhiệm, quan hệ hợp tác mới có thể vượt khỏi những cam kết ngắn hạn để trở thành nền tảng của niềm tin. Phát triển nông nghiệp sinh thái, vì vậy, không chỉ là làm ra sản phẩm khác biệt, mà còn là tạo dựng một phương thức hợp tác có trách nhiệm và tôn trọng giá trị lao động.

Minh bạch để củng cố niềm tin, văn hóa để gia tăng giá trị nông sản

Nếu văn hóa sản xuất tạo nên nền tảng bên trong, thì niềm tin thị trường là điều kiện để nông nghiệp hữu cơ phát triển về quy mô và giá trị. Trong thị trường thực phẩm, người tiêu dùng không thể trực tiếp quan sát toàn bộ quá trình từ đồng ruộng đến chế biến. Họ cần những bằng chứng đáng tin cậy về nguồn gốc, vật tư đầu vào, quy trình canh tác và chất lượng sản phẩm. Vì vậy, minh bạch không chỉ là yêu cầu quản lý mà còn là một chuẩn mực văn hóa trong kinh doanh: nói đúng về sản phẩm, cung cấp thông tin có thể kiểm chứng và chịu trách nhiệm đối với những cam kết đã đưa ra.

Các tham luận tại hội thảo cho thấy tiêu chuẩn và chứng nhận có vai trò quan trọng trong việc xác minh sự phù hợp của sản phẩm với những yêu cầu đã xác định. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa thực hành theo định hướng hữu cơ, giai đoạn chuyển đổi và sản phẩm được công nhận hữu cơ. Một loại phân bón đã được phép lưu hành không mặc nhiên phù hợp với mọi tiêu chuẩn hữu cơ; tương tự, việc sử dụng phụ phẩm chăn nuôi làm phân bón cũng không tự động khiến sản phẩm cây trồng trở thành sản phẩm hữu cơ được chứng nhận. Những phân biệt này cần được truyền thông rõ ràng để tránh nhầm lẫn, hạn chế quảng bá gây hiểu sai và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

dt1abc-2510-1792852324.jpg

Thực tế từ các doanh nghiệp và hợp tác xã được giới thiệu tại hội thảo cũng cho thấy niềm tin phải được xây dựng bằng cả một hệ thống kiểm soát. Bà Nguyễn Hằng Nga (ảnh trên), Phó Tổng giám đốc Công ty DACE (Công ty TNHH Phát triển Nông nghiệp và Tư vấn Môi trường), chia sẻ kinh nghiệm phát triển gia vị hữu cơ gắn với yêu cầu của nhà mua hàng quốc tế. Theo bà Nga, từ vùng nguyên liệu nhỏ ban đầu tại Cao Bằng, doanh nghiệp đã phát triển hơn 2.300 ha có chứng nhận hữu cơ, liên kết với hơn 3.000 hộ nông dân; khoảng 90% hộ trong chuỗi được tập huấn hằng năm.

DACE cho biết sản phẩm đã đến bốn châu lục, tập trung vào châu Âu và Mỹ, trong đó châu Âu chiếm khoảng 65% sản lượng xuất khẩu. Doanh nghiệp tiếp cận các chứng nhận hữu cơ phù hợp từng thị trường, cùng những yêu cầu bổ sung như thương mại công bằng, Naturland và Bio Suisse.

Theo Phó Tổng giám đốc Công ty DACE, người mua quan tâm đồng thời chất lượng, an toàn thực phẩm, kiểm soát dư lượng, năng lực giao hàng, nguồn gốc minh bạch và sự ổn định giữa các lô. Một khách hàng có thể yêu cầu thêm tiêu chuẩn riêng cao hơn mức cơ bản của thị trường. Vì vậy, doanh nghiệp phải hiểu rõ cả nghĩa vụ chung lẫn điều kiện thương mại cụ thể trong hợp đồng.

Với chuỗi gia vị của DACE, kiểm nghiệm có thể diễn ra tại vùng nguyên liệu, sau sản xuất ở nhà máy và theo yêu cầu của khách hàng. Chất lượng không chỉ phụ thuộc vào điều kiện canh tác mà còn liên quan đến thu hoạch, vận chuyển, sấy, chế biến và đóng gói. Trong khi đó, việc ứng dụng mã QR, hồ sơ điện tử và dữ liệu theo từng lô hàng giúp tăng khả năng truy xuất, hỗ trợ kiểm tra chéo và làm rõ trách nhiệm của các bên.

Dẫu vậy, công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi giải quyết được nhu cầu thực tế của người sản xuất. Những trao đổi tại hội thảo về việc ghi nhật ký đồng ruộng cho thấy hệ thống số hóa cần đơn giản, thuận tiện, phù hợp với điều kiện lao động và khả năng tiếp cận công nghệ của nông dân. Nếu thủ tục quá phức tạp, dữ liệu khó cập nhật hoặc chi phí vượt quá khả năng của hợp tác xã, công nghệ có thể trở thành gánh nặng thay vì công cụ hỗ trợ. Do đó, chuyển đổi số cần đi cùng đào tạo, chia sẻ dữ liệu hợp lý và thiết kế quy trình xuất phát từ thực tiễn sản xuất.

Bên cạnh tính minh bạch, văn hóa bản địa còn mở ra hướng gia tăng giá trị cho nông sản hữu cơ. Câu chuyện về trà tại hội thảo là một ví dụ tiêu biểu. Việt Nam có những vùng trà mang đặc tính riêng, nguồn gen phong phú và truyền thống thưởng trà lâu đời. Tuy nhiên, lợi thế ấy chưa phải lúc nào cũng chuyển hóa thành thu nhập tương xứng cho người trồng trà. Việc phát triển trà hữu cơ gắn với bảo tồn cây cổ thụ, tri thức chế biến, câu chuyện vùng nguyên liệu, nghệ nhân và trải nghiệm văn hóa có thể tạo ra giá trị vượt ra ngoài giao dịch nguyên liệu thông thường.

Khi người tiêu dùng hiểu trà được trồng ở đâu, cộng đồng nào gìn giữ vùng trà, phương thức canh tác có trách nhiệm ra sao và sản phẩm mang đặc trưng gì, lựa chọn mua hàng có thể trở thành sự đồng hành với một di sản văn hóa sống. Những hoạt động như phiên chợ hữu cơ, điểm giới thiệu sản phẩm, du lịch trải nghiệm vùng trà hay kết nối với văn hóa ẩm thực bản địa vì thế không chỉ phục vụ quảng bá thương mại, mà còn góp phần duy trì tri thức, cảnh quan và sinh kế cộng đồng. Tương tự, các sản phẩm rau quả, dược liệu và lúa gạo cũng có thể gia tăng sức cạnh tranh khi chất lượng được kết nối với câu chuyện chân thực về vùng đất và người sản xuất.

Tuy nhiên, kể câu chuyện văn hóa không thể thay thế việc bảo đảm chất lượng. Thương hiệu địa phương chỉ bền vững khi những giá trị được giới thiệu phù hợp với thực tế sản xuất, có cơ chế kiểm chứng và không bị sử dụng như một lớp vỏ tiếp thị. Niềm tin hình thành từ sự thống nhất giữa lời nói và hành động, giữa hình ảnh quảng bá và chất lượng thực tế, giữa giá trị mà doanh nghiệp tuyên bố với lợi ích mà cộng đồng sản xuất thực sự nhận được.

Sau 15 năm hình thành và phát triển của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, những vấn đề được đặt ra tại hội thảo cho thấy yêu cầu phát triển trong giai đoạn tới không dừng ở việc mở rộng diện tích hay gia tăng số lượng sản phẩm. Điều quan trọng hơn là hình thành một hệ sinh thái sản xuất có trách nhiệm, với chính sách phù hợp, khoa học đồng hành, tiêu chuẩn minh bạch, công nghệ hữu ích và sự hợp tác công bằng giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp cùng người tiêu dùng.

Xét đến cùng, nông nghiệp hữu cơ và sinh thái là câu chuyện về cách xã hội lựa chọn sản xuất, tiêu dùng và ứng xử với thiên nhiên. Khi người nông dân được bảo đảm sinh kế, doanh nghiệp giữ đúng cam kết, cơ quan quản lý thực hiện tốt vai trò giám sát và người tiêu dùng được tiếp cận thông tin trung thực, niềm tin sẽ trở thành nền tảng của thị trường. Trên nền tảng ấy, nông sản Việt Nam không chỉ cạnh tranh bằng chất lượng, mà còn bằng trách nhiệm sinh thái, bản sắc văn hóa và giá trị nhân văn được kết tinh trong từng sản phẩm.

V.X.B