Góc nhìn văn hoá: Đánh thức nguồn lực văn hóa cho nông nghiệp xanh vùng châu thổ sông Hồng

Là cái nôi của nền văn minh lúa nước, châu thổ sông Hồng sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa, sinh thái và tri thức bản địa phong phú. Phát huy những giá trị ấy gắn với nông nghiệp xanh, số, sinh thái, tuần hoàn không chỉ mở ra hướng phát triển bền vững, mà còn tạo thêm sinh kế, nâng cao thu nhập và khẳng định bản sắc vùng đất nghìn năm văn hiến.
dt1a-23102026b-1792681462.jpg

Vùng trồng cà rốt ở Cẩm Giàng (Hải Phòng) rộng trên 500 ha. Ảnh: TTXVN

Từ di sản văn hóa đến những giá trị kinh tế mới

Châu thổ sông Hồng không chỉ là không gian hình thành nền văn minh lúa nước Việt Nam, mà còn là nơi kết tinh những giá trị văn hóa, lịch sử, tri thức canh tác và lối sống cộng đồng được bồi đắp qua hàng nghìn năm. Từ hệ thống đê điều, thủy lợi, những cánh đồng làng đến lễ hội nông nghiệp, làng nghề và tập quán tương trợ trong sản xuất, cư dân nơi đây đã tạo dựng một di sản sống gắn bó mật thiết với đất đai, nguồn nước và hệ sinh thái đồng bằng.

Trong bối cảnh phát triển mới, đánh thức tiềm năng “xanh, số, sinh thái, tuần hoàn” không đơn thuần là đổi mới phương thức sản xuất, mà còn là cơ hội chuyển hóa di sản thành nguồn lực phát triển. Văn hóa, vì thế, không chỉ là giá trị tinh thần cần gìn giữ, mà còn có thể trở thành nền tảng tạo sinh kế, nâng cao sức cạnh tranh và định hình một mô hình nông nghiệp hiện đại giàu bản sắc.

Trước hết, nông nghiệp tuần hoàn có thể bắt đầu từ chính kinh nghiệm tận dụng tài nguyên vốn đã hiện diện trong văn hóa sản xuất truyền thống. Nếu trước đây, rơm rạ, chất thải chăn nuôi và các phụ phẩm nông nghiệp thường được tái sử dụng trong đời sống, thì ngày nay, những kinh nghiệm ấy có thể được phát triển bằng khoa học và công nghệ để hình thành chuỗi giá trị mới. Rơm rạ dùng trồng nấm, giá thể sau trồng nấm tiếp tục chế biến thành phân hữu cơ; chất thải chăn nuôi đưa vào hầm biogas vừa tạo khí đốt, vừa cung cấp nguồn phân bón. Nhờ đó, phụ phẩm không còn là thứ bỏ đi mà trở thành nguyên liệu tạo thu nhập.

Điều quan trọng là phải tổ chức những chuỗi giá trị này ở quy mô thôn, xã hoặc hợp tác xã. Sự liên kết cộng đồng vốn là thế mạnh của làng xã châu thổ có thể giúp tập hợp nguồn nguyên liệu, chia sẻ chi phí và phân phối lợi ích. Đây cũng là cách kết hợp tri thức bản địa với tư duy kinh tế hiện đại, biến những giá trị truyền thống thành lợi thế thực chất trong phát triển nông nghiệp bền vững.

Với nông nghiệp xanh, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm chi phí vật tư, mà còn phải tạo cơ chế để những đóng góp về môi trường được trả công xứng đáng. Các phương pháp tưới tiêu tiết kiệm, quản lý nước hợp lý và bón phân cân đối có thể giảm phát thải, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên. Đồng bằng sông Hồng có thể nghiên cứu kinh nghiệm từ những mô hình canh tác giảm phát thải tại Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời phát huy lợi thế hệ thống thủy lợi và khả năng tổ chức sản xuất của địa phương.

Cùng với đó, cần mở rộng hợp đồng bao tiêu có mức giá cộng thêm cho sản phẩm đạt tiêu chuẩn môi trường, nghiên cứu cơ chế tham gia thị trường tín chỉ carbon phù hợp và thúc đẩy doanh nghiệp chia sẻ lợi ích với người sản xuất. Khi giá trị môi trường được phản ánh trong giá nông sản và quan hệ thị trường, người nông dân sẽ có thêm động lực chuyển đổi, thay vì phải tự gánh toàn bộ chi phí vì lợi ích chung của xã hội.

Chuyển đổi số cũng cần được đặt trong mối quan hệ hài hòa giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Công nghệ số giúp truy xuất nguồn gốc, dự báo sản lượng, kiểm soát chất lượng và kết nối thị trường. Tuy nhiên, nếu người nông dân phải tự chi trả toàn bộ chi phí phần mềm, thiết bị và thu thập dữ liệu, trong khi doanh nghiệp mới là bên hưởng lợi lớn từ việc quản trị vùng nguyên liệu, quá trình chuyển đổi khó có thể bền vững.

Kinh nghiệm nền tảng WatchITgrow (giám sát, quản lý cây trồng, đặc biệt là khoai tây) của Bỉ, theo dữ liệu được cung cấp, cho thấy doanh nghiệp thu mua và chế biến có thể trả thưởng cho nông dân cung cấp dữ liệu đồng ruộng đầy đủ, bởi thông tin giúp họ dự báo sản lượng và kiểm soát chất lượng nguồn cung. Đây là gợi ý đáng tham khảo cho châu thổ sông Hồng: Doanh nghiệp cần tham gia đồng tài trợ số hóa vùng nguyên liệu, còn hợp tác xã làm đầu mối tổ chức sản xuất và quản lý dữ liệu. Trên nền tảng liên kết ấy, văn hóa cộng đồng có thể tiếp tục phát huy vai trò trong một hình thức mới: hợp tác xã số, cùng chia sẻ thông tin, tri thức và lợi ích.

Đặc biệt, nông nghiệp sinh thái mở ra khả năng kết nối trực tiếp giữa giá trị văn hóa, cảnh quan và thu nhập. Với mật độ dày đặc các di tích lịch sử, đình chùa, lễ hội, làng nghề và di sản ẩm thực, châu thổ sông Hồng sở hữu lợi thế lớn để phát triển du lịch nông nghiệp. Ninh Bình, với Quần thể danh thắng Tràng An, là một ví dụ tiêu biểu về sức hấp dẫn của sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên và di sản văn hóa.

Những vùng canh tác sinh thái gắn với không gian di sản có thể phát triển các hoạt động trải nghiệm mùa vụ, thưởng thức ẩm thực địa phương, lưu trú tại nhà dân và mua sản phẩm đặc trưng. Khi đó, giá trị của thửa ruộng không chỉ được tính bằng sản lượng thu hoạch, mà còn đến từ dịch vụ du lịch, câu chuyện văn hóa và thương hiệu địa danh. Tuy nhiên, phát triển phải đi đôi với bảo vệ cảnh quan, gìn giữ phong tục và bảo đảm cộng đồng địa phương được hưởng lợi. Di sản chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi người dân là chủ thể gìn giữ, sáng tạo và trao truyền các giá trị ấy.

Kiến tạo cơ chế để người nông dân hưởng lợi bền vững

Bốn định hướng xanh, số, sinh thái và tuần hoàn không tồn tại độc lập mà bổ sung cho nhau. Tuần hoàn tạo thêm giá trị từ tài nguyên tại chỗ; nông nghiệp xanh mở cơ hội tiếp cận những thị trường coi trọng trách nhiệm môi trường; chuyển đổi số tăng cường năng lực quản trị và kết nối chuỗi cung ứng; còn nông nghiệp sinh thái mở rộng nguồn thu từ du lịch và dịch vụ văn hóa. Khi được tích hợp, các định hướng này có thể tạo nên nền nông nghiệp đa giá trị, trong đó người nông dân vừa sản xuất nông sản, vừa góp phần bảo vệ hệ sinh thái và gìn giữ di sản.

Dù vậy, thị trường không phải lúc nào cũng đủ mạnh để bù đắp ngay những chi phí phát sinh trong giai đoạn chuyển đổi. Người nông dân có thể đối mặt với rủi ro giảm năng suất, thiếu vốn đầu tư hoặc chưa tiếp cận được kỹ thuật phù hợp. Vì thế, Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo cơ chế, hỗ trợ có trọng tâm và phân bổ hợp lý chi phí chuyển đổi.

Kinh nghiệm Nhật Bản về hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động nông nghiệp bảo tồn môi trường gợi mở một nguyên tắc đáng chú ý: những lợi ích như giảm ô nhiễm, bảo tồn đa dạng sinh học và ứng phó biến đổi khí hậu là lợi ích chung của xã hội, nên người tạo ra những lợi ích ấy cần được bù đắp tương xứng. Việt Nam có thể nghiên cứu các chương trình hỗ trợ trong hai đến ba năm đầu đối với những mô hình đáp ứng tiêu chí môi trường, có phương án sản xuất khả thi và cam kết duy trì hiệu quả lâu dài. Sau giai đoạn đầu, các cơ chế thị trường như hợp đồng bao tiêu xanh, tín chỉ carbon, doanh nghiệp tài trợ số hóa và du lịch sinh thái sẽ từng bước đảm nhận vai trò lớn hơn.

Ngược lại, bài học từ Sri Lanka cho thấy chuyển đổi xanh không thể tiến hành bằng những biện pháp hành chính đột ngột, thiếu chuẩn bị về kỹ thuật và nguồn cung đầu vào. Mục tiêu bảo vệ môi trường là cần thiết, nhưng phải gắn với lộ trình phù hợp, quản lý dinh dưỡng tổng hợp, chuyển giao công nghệ và bảo đảm an ninh lương thực. Với Đồng bằng sông Hồng, nơi đất canh tác bình quân hạn chế và sinh kế của nhiều hộ gia đình gắn chặt với từng mùa vụ, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa.

Để quá trình chuyển đổi đạt hiệu quả, cần xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã, nhà khoa học và cộng đồng dân cư. Nhà nước hoàn thiện chính sách và hỗ trợ hạ tầng; doanh nghiệp tham gia đầu tư, bao tiêu và chia sẻ lợi ích; hợp tác xã tổ chức sản xuất; còn người nông dân giữ vai trò trung tâm trong thực hành, gìn giữ tri thức và bảo vệ cảnh quan. Khi lợi ích kinh tế được phân chia hợp lý, người dân sẽ có thêm động lực bảo vệ môi trường và duy trì những giá trị văn hóa của quê hương.

Suy cho cùng, đánh thức tiềm năng “xanh, số, sinh thái, tuần hoàn” ở châu thổ sông Hồng là hành trình kết nối quá khứ với tương lai. Di sản văn hóa không phải những giá trị bất động chỉ hiện diện trong di tích hay lễ hội, mà còn sống trong cách cộng đồng sử dụng đất, quản lý nguồn nước, tổ chức sản xuất và ứng xử với thiên nhiên. Khi được kết hợp với khoa học, công nghệ và cơ chế thị trường phù hợp, những giá trị lâu đời ấy có thể trở thành động lực phát triển mới.

Thước đo thành công không chỉ là lượng phát thải giảm được, số dữ liệu được số hóa hay số điểm du lịch được hình thành, mà còn là thu nhập của nông dân, sức sống của làng quê và khả năng trao truyền di sản cho thế hệ sau. Khi người nông dân được hưởng lợi tương xứng, văn hóa được gìn giữ và tài nguyên được sử dụng có trách nhiệm, châu thổ sông Hồng sẽ có điều kiện phát triển một nền nông nghiệp hiện đại, bền vững và giàu bản sắc văn hoá Việt.

V.X.B