Góc nhìn văn hoá: Tổng kết một thế kỷ Đảng lãnh đạo, chuẩn bị chủ động dẫn dắt tương lai

Tổng kết một thế kỷ Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam không chỉ là nhìn lại một chặng đường lịch sử. Ở chiều sâu văn hóa, đó còn là quá trình một dân tộc đối thoại với chính ký ức của mình để tìm ra những giá trị cần được gìn giữ, những bài học cần được chuyển hóa thành năng lực mới và những giới hạn cần vượt qua trên hành trình hướng tới tương lai.

Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, diễn ra sáng 17/9/2026 tại Trụ sở Trung ương Đảng, yêu cầu đó được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra rất rõ: Tổng kết phải làm sáng rõ tầm vóc những thành tựu đã thay đổi vận mệnh dân tộc, đúc kết những bài học có giá trị lâu dài và chuẩn bị cơ sở khoa học cho đường lối phát triển đất nước trong thế kỷ tiếp theo.

dt1a-tl1c-1789653135.jpg

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội sáng 17/9/2026Ảnh: TTXVN.

Điều đáng chú ý là tinh thần tổng kết được đặt trong một tầm nhìn vượt khỏi giới hạn của một nhiệm kỳ. Nếu lịch sử là kho kinh nghiệm của dân tộc thì tổng kết chính là cách biến kinh nghiệm ấy thành tri thức có khả năng soi đường cho tương lai.

Nhìn lại lịch sử để nhận diện cả thời cơ, nguy cơ và những điều chưa làm được

Văn hóa của một dân tộc không chỉ được tạo nên từ những chiến thắng, thành tựu hay những trang sử vẻ vang. Một nền văn hóa trưởng thành còn được nhận diện qua khả năng nhìn thẳng vào những giới hạn của chính mình, biết lý giải những cơ hội đã nắm bắt, những cơ hội từng bỏ lỡ và những sai lầm đã được sửa chữa như thế nào.

Bởi vậy, tổng kết 100 năm không nên chỉ dừng ở việc lập một bản danh mục thành tựu. Giá trị lớn hơn của công trình là tìm ra logic bên trong của lịch sử: Vì sao trong những bước ngoặt khác nhau, Đảng có thể quy tụ sức mạnh dân tộc? Vì sao có thể vượt qua những thử thách hiểm nghèo? Những lựa chọn chiến lược nào đã tạo nên bước chuyển của đất nước? Và quan trọng hơn, những bài học nào còn nguyên giá trị, những bài học nào cần được bổ sung hoặc phát triển trong điều kiện mới?

Đây cũng là điểm làm nên ý nghĩa khoa học của tổng kết. Lịch sử chỉ thực sự trở thành nguồn lực cho tương lai khi những sự kiện được chuyển hóa thành nhận thức. Thành tựu cần được lý giải để có thể kế thừa; hạn chế, khuyết điểm cần được phân tích để tránh lặp lại; còn những cơ hội chưa tận dụng được cần trở thành câu hỏi nghiên cứu cho năng lực lãnh đạo trong tương lai.

Từ góc nhìn văn hóa, đó là biểu hiện của một thái độ ứng xử có trách nhiệm với lịch sử. Tôn trọng lịch sử không đồng nghĩa với chỉ ngợi ca quá khứ. Tôn trọng lịch sử còn là dám nhìn lịch sử một cách đầy đủ, nhiều chiều, trong đó thành công và chưa thành công, lựa chọn đúng và những điều cần điều chỉnh đều có vị trí trong quá trình nhận thức.

Đặc biệt, yêu cầu “dựa vào nhân dân” cần được nhìn như một giá trị văn hóa – chính trị xuyên suốt. Nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng thành quả phát triển mà phải hiện diện với tư cách chủ thể sáng tạo lịch sử. Sức dân, trí dân tham gia vào việc hình thành và thực hiện đường lối; đồng thời nhân dân cũng là chủ thể giám sát quyền lực và kiểm chứng hiệu quả của đường lối bằng chính những biến chuyển trong đời sống.

Một đường lối, xét đến cùng, không thể chỉ được kiểm chứng bằng những mục tiêu được viết trên giấy mà phải được kiểm nghiệm bằng khả năng giải quyết những vấn đề thực tế của đất nước, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, nâng cao chất lượng cuộc sống và mở rộng cơ hội phát triển cho mỗi người.

Vì vậy, tổng kết lịch sử lãnh đạo cũng là tổng kết mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Đây có lẽ là một trong những chiều sâu văn hóa quan trọng nhất của công trình: Nhìn thấy trong lịch sử không chỉ vai trò của tổ chức lãnh đạo mà cả sức sáng tạo, sự hy sinh, trí tuệ và khát vọng của hàng triệu con người đã làm nên lịch sử.

Từ trí tuệ tích lũy của lịch sử đến năng lực dẫn dắt thế kỷ mới

Nếu thế kỷ trước đặt ra những nhiệm vụ của đấu tranh giành độc lập, thống nhất và xây dựng đất nước trong những điều kiện đặc biệt, thì thế kỷ tiếp theo đặt ra một bài toán khác về chất. Biến đổi công nghệ, dân số, môi trường và quan hệ quốc tế đang tạo ra những vấn đề vượt ra ngoài kinh nghiệm truyền thống. Đất nước bước vào giai đoạn phát triển với yêu cầu cao hơn về năng suất, chất lượng, năng lực tự chủ và đời sống nhân dân.

Trong bối cảnh ấy, tổng kết không chỉ nhằm trả lời câu hỏi “chúng ta đã đi qua những gì?”, mà phải tiến tới câu hỏi “chúng ta cần trở thành ai và phải có năng lực gì để đi tiếp?”.

Đây chính là ý nghĩa của yêu cầu nhận rõ thời cơ, nguy cơ và năng lực cần chuẩn bị. Thời cơ không tự động biến thành thành quả. Một quốc gia có thể đứng trước những cơ hội lớn nhưng nếu thiếu năng lực khoa học – công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, thể chế phù hợp, năng lực quản trị và sức mạnh văn hóa thì cơ hội có thể trôi qua. Ngược lại, nguy cơ cũng không chỉ đến từ những biến động bên ngoài mà có thể xuất hiện từ chính những hạn chế nội tại nếu không được nhận diện và xử lý kịp thời.

Bởi vậy, tầm nhìn đến năm 2130 có ý nghĩa đặc biệt. Nó buộc tư duy phát triển phải thoát khỏi nhịp ngắn của nhiệm kỳ để hướng tới trách nhiệm liên thế hệ. Một thế kỷ là khoảng thời gian đủ dài để nhiều thế hệ kế tiếp cùng tham gia vào việc xây dựng đất nước. Những giá trị nào phải giữ vững? Những năng lực nào phải tích lũy? Những không gian phát triển nào cần mở ra? Đảng cần đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo và chuẩn bị đội ngũ như thế nào để có thể lãnh đạo một đất nước ở trình độ phát triển cao hơn? Đó là những câu hỏi mang tính chiến lược mà tổng kết cần góp phần trả lời.

Đáng chú ý, hai công trình tổng kết 100 năm và 40 năm thực hiện Cương lĩnh được đặt trong mối quan hệ bổ sung cho nhau. Nếu tổng kết 100 năm giúp nhìn xuyên suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng, những lựa chọn chiến lược và bài học lớn, thì tổng kết 40 năm đi sâu vào sự phát triển nhận thức và quá trình hiện thực hóa Cương lĩnh. Sự kết hợp ấy tạo điều kiện để lịch sử và lý luận soi chiếu lẫn nhau, từ đó tìm kiếm những luận cứ phù hợp cho đường lối phát triển trong tương lai.

Ở đây, văn hóa có một vai trò không thể xem nhẹ. Phát triển không chỉ là câu chuyện của GDP, công nghệ hay năng suất. Một đất nước phát triển bền vững còn cần nền tảng văn hóa đủ mạnh để duy trì niềm tin xã hội, khơi dậy khát vọng, nuôi dưỡng trách nhiệm công dân, tôn trọng sáng tạo và tạo ra khả năng thích ứng trước những biến động chưa từng có.

Vì thế, “năng lực dẫn dắt” trong thế kỷ tới không nên chỉ được hiểu là năng lực quản lý. Đó còn là năng lực nhận diện tương lai, năng lực học hỏi từ thực tiễn, năng lực tự đổi mới, năng lực tập hợp trí tuệ xã hội và năng lực tạo đồng thuận để biến mục tiêu phát triển thành hành động.

Một tổ chức lãnh đạo muốn dẫn dắt một xã hội ngày càng phát triển phải có khả năng tự đổi mới tương ứng với sự thay đổi của xã hội. Điều đó lý giải vì sao yêu cầu tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và chuẩn bị đội ngũ được đặt cạnh yêu cầu phát triển lý luận từ thực tiễn Việt Nam.

Cuối cùng, giá trị lớn nhất của một công trình tổng kết không nằm ở độ dày của văn bản mà ở khả năng biến tri thức lịch sử thành năng lực hành động. Nếu lịch sử đã tích lũy bản lĩnh, trí tuệ và kinh nghiệm qua một thế kỷ, thì trách nhiệm của hiện tại là không để nguồn vốn tinh thần ấy chỉ nằm trong những trang tổng kết.

Như tinh thần được nhấn mạnh tại Phiên họp, trách nhiệm là làm cho trí tuệ tích lũy trong lịch sử tiếp tục trở thành năng lực dẫn dắt sự phát triển của đất nước. Đó cũng là cách ứng xử có chiều sâu văn hóa với quá khứ: Không chỉ tự hào về những gì đã đạt được, mà biến những thành tựu, bài học, cả những hạn chế và cơ hội từng bỏ lỡ thành hành trang để các thế hệ tiếp theo chủ động viết tiếp câu chuyện phát triển của Việt Nam.

Một thế kỷ nhìn lại vì thế không phải là dấu chấm hết của một hành trình. Đó là điểm tựa để mở ra một tầm nhìn dài hơn, trong đó bản lĩnh được tiếp nối bằng đổi mới, kinh nghiệm được chuyển hóa thành tri thức, trí tuệ của Đảng gắn với trí tuệ của nhân dân, và những giá trị đã được lịch sử kiểm chứng trở thành nền tảng cho năng lực kiến tạo tương lai.

V.X.B