Phú Thọ: Phát huy nguồn lực văn hóa người Mường trong phát triển công nghiệp văn hóa

Sau khi Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình được sắp xếp thành tỉnh Phú Thọ mới, địa giới được mở rộng, hình thành một không gian văn hoá, liên kết có quy mô lớn về di sản, cộng đồng. Trong bối cảnh đó, văn hóa Mường là một nguồn lực quan trọng với hệ thống di sản phi vật thể, nghệ thuật trình diễn, Mo Mường, cồng chiêng, lễ hội, tri thức dân gian, nghề thủ công, ẩm thực, nhà sàn và các thực hành văn hóa cộng đồng.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình phát triển đất nước, văn hóa ngày càng được nhìn nhận không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh của phát triển. Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã nhấn mạnh yêu cầu xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, đồng thời gắn phát triển văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội bền vững (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2014). Quan điểm này tiếp tục được cụ thể hóa trong Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 và đặc biệt trong Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Thủ tướng Chính phủ, 2021, 2025).

Theo cách tiếp cận mới, giá trị văn hóa không dừng lại ở việc lưu giữ trong bảo tàng hoặc bảo tồn trong cộng đồng mà có thể trở thành nguồn nguyên liệu cho sáng tạo, thiết kế, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, du lịch văn hóa, truyền thông và các sản phẩm số. Tuy nhiên, quá trình chuyển hóa văn hóa thành nguồn lực kinh tế phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng tính xác thực, quyền của chủ thể văn hóa và nguyên tắc phát triển bền vững.

Việc hợp nhất Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình từ ngày 1/7/2025 tạo ra một không gian phát triển mới. Tỉnh Phú Thọ mới có diện tích khoảng 9.361 km², quy mô dân số trên 4 triệu người và 148 đơn vị hành chính cấp xã. Không gian mới này đồng thời tạo ra sự liên kết giữa các vùng văn hóa có lịch sử và đặc điểm khác nhau, trong đó có không gian văn hóa Mường của Phú Thọ và Hòa Bình trước đây.

Đến tháng 7/2025, tỉnh Phú Thọ có 2.778 di tích, trong đó 979 di tích được xếp hạng; gần 2.000 di sản văn hóa phi vật thể; 6 bảo vật quốc gia và 41 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Giai đoạn 2021-2025, toàn tỉnh đã thực hiện tu bổ, tôn tạo, chống xuống cấp gần 250 lượt di tích và bảo tồn, phục dựng hơn 40 di sản văn hóa phi vật thể với tổng kinh phí hơn 1.100 tỷ đồng (nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2025; Tỉnh ủy Phú Thọ, 2025).

Trong tổng thể đó, văn hóa Mường có vị trí đặc biệt. Trên địa bàn Hòa Bình trước khi hợp nhất, kết quả kiểm kê giai đoạn 2012-2015 đã xác định 267 di sản văn hóa phi vật thể của người Mường; gần 200 thầy Mo còn hoạt động theo kết quả kiểm kê năm 2022; 35 lễ hội truyền thống của người Mường được thống kê; nhiều nghề thủ công, dân ca, dân vũ, trò chơi dân gian, tri thức dân gian và ẩm thực truyền thống tiếp tục được thực hành trong cộng đồng (nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2023a). Đây là nguồn lực quan trọng được tiếp nhận vào không gian tỉnh Phú Thọ mới.

Ở Phú Thọ trước hợp nhất, các địa bàn có đông người Mường như Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập cũng lưu giữ nhiều thực hành văn hóa truyền thống. Xã Tân Sơn hiện có 17.329 người, trong đó 15.010 người là đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 86,54%, chủ yếu là người Mường và Dao (nguồn: Ủy ban nhân dân xã Tân Sơn, 2026). Những số liệu này cho thấy văn hóa Mường ở Phú Thọ không phải là một “kho di sản” tách rời đời sống mà tồn tại trong những cộng đồng cư dân cụ thể.

Trong khi đó, thị trường văn hóa - du lịch của tỉnh đang mở rộng. Trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước đón 10,535 triệu lượt khách tham quan, trong đó có 3,216 triệu lượt khách lưu trú; khách quốc tế đạt khoảng 74 nghìn lượt, với tổng số 3,859 triệu ngày khách lưu trú. Tổng doanh thu du lịch ước đạt 10.755 tỷ đồng. Đây là điều kiện quan trọng để xem xét văn hóa Mường không chỉ từ góc độ bảo tồn mà còn từ góc độ phát triển các sản phẩm và dịch vụ văn hóa.

1-1789628437.jpg
Cần chuyển từ “giới thiệu di sản” sang “thiết kế sản phẩm từ di sản”. Chẳng hạn như: Chiêng Mường thành chương trình biểu diễn và trải nghiệm âm nhạc

2. Nguồn lực văn hóa người Mường ở tỉnh Phú Thọ

2.1. Không gian cư trú và cộng đồng chủ thể

Nguồn lực văn hóa trước hết tồn tại trong không gian cư trú và trong cộng đồng thực hành văn hóa. Đối với người Mường, không gian văn hóa không đơn thuần là địa bàn địa lý mà còn bao gồm bản làng, nhà sàn, ruộng nương, rừng, nguồn nước, nơi sinh hoạt cộng đồng, đình, miếu, không gian lễ hội và các tuyến giao lưu văn hóa.

Sau hợp nhất, không gian Mường của tỉnh Phú Thọ được mở rộng đáng kể. Bên cạnh các địa bàn Mường truyền thống của Phú Thọ cũ như Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, tỉnh mới tiếp nhận không gian văn hóa Mường rộng lớn của Hòa Bình cũ với bốn vùng Mường nổi tiếng Bi - Vang - Thàng - Động.

6-1789628504.jpg
Lễ hội xuống đồng của bà con dân tộc Mường tỉnh Phú Thọ

Sự mở rộng này tạo ra một lợi thế đặc biệt: các địa bàn Mường không còn được nhìn nhận như những điểm văn hóa riêng lẻ mà có thể được kết nối thành một mạng lưới không gian văn hóa. Trong mạng lưới đó, mỗi địa phương có thể phát triển sản phẩm đặc trưng dựa trên thế mạnh của mình, đồng thời tạo ra các tuyến liên kết về du lịch, trải nghiệm, nghiên cứu và sáng tạo văn hóa.

Tại xã Tân Sơn, cộng đồng dân cư có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, chủ yếu là Mường và Dao. Điều này tạo điều kiện để các thực hành văn hóa truyền thống vẫn gắn với đời sống cộng đồng thay vì chỉ được tái hiện trong các chương trình biểu diễn phục vụ khách du lịch ( nguồn: Ủy ban nhân dân xã Tân Sơn, 2026).

Đây là yếu tố quan trọng đối với phát triển công nghiệp văn hóa. Một sản phẩm văn hóa có khả năng phát triển bền vững phải dựa trên một hệ sinh thái gồm cộng đồng sáng tạo, người nắm giữ tri thức, người thực hành, nhà quản lý và thị trường. Vì vậy, cộng đồng Mường cần được xác định là chủ thể của quá trình phát triển sản phẩm chứ không chỉ là đối tượng được “trình diễn” cho du khách.

2.2. Di sản văn hóa phi vật thể

Di sản phi vật thể là bộ phận có khả năng chuyển hóa mạnh mẽ thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa nếu được khai thác đúng cách. Đối với người Mường, đó là tiếng nói, văn học dân gian, Mo Mường, nghệ thuật chiêng, dân ca, dân vũ, lễ hội, tín ngưỡng, tập quán xã hội, nghề thủ công và tri thức dân gian.

7-1789628561.jpg
Trò chơi dân gian của người dân tộc Mường, tỉnh Phú Thọ

Kết quả kiểm kê của Hòa Bình trước hợp nhất xác định 267 di sản văn hóa phi vật thể của người Mường. Trong đó có những nhóm di sản có khả năng trở thành nguồn chất liệu cho sáng tạo nghệ thuật và công nghiệp văn hóa như nghệ thuật chiêng, Mo Mường, lễ hội Khai hạ, lịch tre, nghề dệt, dân ca, trò chơi dân gian và ẩm thực (nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2023a, 2025).

Đặc biệt, Mo Mường là một hệ thống thực hành văn hóa phức hợp, kết hợp ngôn ngữ, diễn xướng, tri thức dân gian, tín ngưỡng và thế giới quan của cộng đồng. Vì vậy, khai thác Mo Mường cần hết sức thận trọng. Không nên đơn giản hóa Mo thành một tiết mục biểu diễn ngắn phục vụ du lịch, bởi điều đó có thể làm mất đi cấu trúc và ý nghĩa vốn có của di sản.

Trong khi đó, nghệ thuật chiêng có khả năng tạo ra nhiều hình thức sản phẩm hơn như trình diễn cộng đồng, chương trình nghệ thuật, hoạt động trải nghiệm, giáo dục âm nhạc truyền thống, nội dung số và các sự kiện văn hóa. Nghệ thuật chiêng Mường Hòa Bình đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2016, tạo cơ sở pháp lý và xã hội quan trọng cho việc bảo tồn và phát huy (nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2023b).

Lễ hội cũng là một nguồn lực có khả năng kết nối di sản với du lịch. Lễ hội Khai hạ của người Mường Hòa Bình đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2022. Giá trị của lễ hội không chỉ nằm ở nghi lễ mà còn ở hệ thống trò chơi, nghệ thuật trình diễn, ẩm thực và các hoạt động cộng đồng đi kèm.

Như vậy, nguồn lực phi vật thể của người Mường có thể được chia thành ba lớp: lớp di sản cần bảo vệ nghiêm ngặt; lớp thực hành có thể tổ chức thành sản phẩm văn hóa; và lớp chất liệu có thể được các nghệ sĩ, nhà thiết kế, doanh nghiệp sáng tạo sử dụng để hình thành sản phẩm mới.

2.3. Nghệ nhân, người thực hành và mạng lưới cộng đồng

Nếu di sản là “nội dung” thì nghệ nhân và người thực hành là lực lượng giữ cho nội dung đó tiếp tục tồn tại. Đây là nguồn lực có ý nghĩa quyết định đối với tính xác thực của sản phẩm văn hóa.

Theo kết quả kiểm kê năm 2022, Hòa Bình cũ còn gần 200 thầy Mo đang hoạt động. Ở Phú Thọ cũ, các chương trình kiểm kê Mo Mường cũng ghi nhận đội ngũ thực hành tại Tân Sơn và Yên Lập. Những số liệu này cho thấy nguồn nhân lực di sản vẫn tồn tại nhưng đang đứng trước nguy cơ thiếu lớp kế cận.

Đây là vấn đề cần được nhìn nhận như một vấn đề kinh tế - văn hóa. Nếu không có người truyền dạy, một di sản dù đã được kiểm kê và ghi danh vẫn có thể suy giảm sức sống. Ngược lại, nếu nghệ nhân được hỗ trợ đào tạo, truyền dạy, biểu diễn và tham gia xây dựng sản phẩm, họ có thể trở thành một bộ phận của chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa.

Bên cạnh nghệ nhân, các câu lạc bộ văn hóa ở cơ sở cũng là một nguồn lực quan trọng. Tại Thanh Sơn trước đây đã hình thành mạng lưới các câu lạc bộ văn hóa Mường và các dân tộc thiểu số khác tại xã, khu dân cư và trường học. Các câu lạc bộ không chỉ góp phần duy trì sinh hoạt văn hóa mà còn tạo môi trường để thế hệ trẻ tiếp cận nghệ thuật truyền thống.

Do đó, chính sách phát triển công nghiệp văn hóa Mường cần chuyển từ hỗ trợ hoạt động đơn lẻ sang xây dựng hệ sinh thái chủ thể, trong đó nghệ nhân, câu lạc bộ, trường học, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp có mối liên kết thường xuyên.

2.4. Nghề thủ công, trang phục và ẩm thực

Nghề dệt, đan lát, mộc và các nghề thủ công truyền thống của người Mường có khả năng chuyển hóa tương đối rõ thành sản phẩm hàng hóa. Tuy nhiên, việc chuyển hóa phải bảo đảm hai điều kiện: sản phẩm có chất lượng thị trường và vẫn nhận diện được nguồn gốc văn hóa.

4-1789628633.jpg
Trang phục và nghề dệt thổ cẩm Mường là nguồn tài nguyên văn hóa đắt giá

Trang phục Mường, đặc biệt các mô típ trang trí, màu sắc và kỹ thuật dệt truyền thống, có thể trở thành nguồn cảm hứng cho thiết kế thời trang, phụ kiện, đồ lưu niệm và sản phẩm nội thất. Đây là hướng đi phù hợp với nhóm ngành thủ công mỹ nghệ, thiết kế và thời trang trong hệ thống công nghiệp văn hóa.

02-1789628715.jpg
Ẩm thực cũng là một nguồn lực đáng chú ý. Các món ăn truyền thống không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mà còn chứa đựng tri thức về môi trường, mùa vụ, sản xuất nông nghiệp và quan hệ cộng đồng

Ẩm thực cũng là một nguồn lực đáng chú ý. Các món ăn truyền thống không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mà còn chứa đựng tri thức về môi trường, mùa vụ, sản xuất nông nghiệp và quan hệ cộng đồng. Khi được tổ chức thành trải nghiệm ẩm thực, lớp học nấu ăn, sản phẩm đóng gói hoặc thương hiệu đặc sản, ẩm thực có thể tạo ra giá trị gia tăng đáng kể.

8-1789628755.jpg
Các món ăn truyền thống của bà con dân tộc Mường Phú Thọ. Ảnh: Bí thư Xứ Mường

Tuy nhiên, cần tránh tình trạng “gắn nhãn Mường” cho những sản phẩm không có nguồn gốc hoặc không được cộng đồng công nhận. Thương hiệu văn hóa chỉ có giá trị lâu dài khi dựa trên tính xác thực và uy tín của chủ thể.

3. Khả năng chuyển hóa nguồn lực văn hóa Mường thành sản phẩm công nghiệp văn hóa

3.1. Từ di sản đến sản phẩm

Công nghiệp văn hóa không đồng nghĩa với thương mại hóa mọi giá trị văn hóa. Bản chất của công nghiệp văn hóa nằm ở khả năng sử dụng sáng tạo các nguồn lực văn hóa, tri thức và bản quyền để tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế và xã hội.

Theo Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Nhà nước xác định văn hóa, sáng tạo, công nghệ và thị trường là những yếu tố quan trọng của quá trình phát triển công nghiệp văn hóa (Thủ tướng Chính phủ, 2025).

9-1789628794.jpg
Các chị em nữ dân tộc Mường Vân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia giải bóng đá nữ các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Lào Cai. Ảnh: Bí thư Xứ Mường

Đối với văn hóa Mường, có thể hình thành một số nhóm sản phẩm:

Thứ nhất, sản phẩm biểu diễn. Chiêng Mường, dân ca, dân vũ, các hình thức diễn xướng có thể được phát triển thành chương trình nghệ thuật có thời lượng và chất lượng chuyên nghiệp.

Thứ hai, sản phẩm du lịch văn hóa. Các bản Mường, nhà sàn, lễ hội, ẩm thực và nghề thủ công có thể được tổ chức thành trải nghiệm cộng đồng.

Thứ ba, sản phẩm thủ công và thiết kế. Họa tiết Mường có thể trở thành chất liệu cho thời trang, đồ gia dụng, quà tặng, trang trí nội thất và sản phẩm lưu niệm.

Thứ tư, sản phẩm số. Di sản có thể được số hóa thành phim tư liệu, podcast, sách điện tử, triển lãm số, bản đồ số, thư viện hình ảnh, dữ liệu 3D và nội dung giáo dục.

Thứ năm, sản phẩm giáo dục và trải nghiệm. Các chương trình tìm hiểu tiếng Mường, nhạc cụ, trang phục, ẩm thực, nghề thủ công và trò chơi dân gian có thể được thiết kế cho trường học và khách du lịch.

3.2. Du lịch là thị trường quan trọng

Một trong những lợi thế lớn nhất của Phú Thọ mới là thị trường du lịch có quy mô ngày càng lớn. Trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước đón 10,535 triệu lượt khách tham quan, trong đó có 3,216 triệu lượt khách lưu trú; khách quốc tế đạt khoảng 74 nghìn lượt, với tổng số 3,859 triệu ngày khách lưu trú. Tổng doanh thu du lịch ước đạt 10.755 tỷ đồng. Những con số này cho thấy nhu cầu thị trường đã đủ lớn để phát triển các sản phẩm văn hóa có tính chuyên nghiệp.

Mục tiêu cần hướng tới là xây dựng sản phẩm mà văn hóa là nội dung cốt lõi. Ví dụ, một chương trình trải nghiệm văn hóa Mường có thể kết hợp nhà sàn, ẩm thực, dệt, chiêng, trò chơi dân gian và kể chuyện cộng đồng. Khi đó, du khách không chỉ mua một món hàng mà mua một trải nghiệm văn hóa tổng hợp.

3.3. Số hóa và công nghiệp sáng tạo

Chuyển đổi số tạo ra khả năng mở rộng thị trường của di sản. Một bài hát, một câu chuyện dân gian hay một kỹ thuật dệt trước đây chỉ được truyền trong cộng đồng thì nay có thể được giới thiệu trên nền tảng số.

Tỉnh Phú Thọ đã định hướng xây dựng cơ sở dữ liệu và ứng dụng công nghệ để bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống của các dân tộc. Đây là tiền đề quan trọng để xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên sâu về văn hóa Mường.

Tuy nhiên, số hóa không chỉ là chụp ảnh hoặc quay video. Cần xây dựng dữ liệu có cấu trúc: tên di sản, chủ thể, địa điểm, lịch sử, người thực hành, hình thức thực hành, quyền sử dụng dữ liệu, tình trạng bảo tồn và khả năng khai thác. Một cơ sở dữ liệu như vậy vừa phục vụ quản lý nhà nước vừa tạo nền tảng cho sáng tạo nội dung và phát triển sản phẩm.

4. Thực trạng phát huy nguồn lực văn hóa Mường ở tỉnh Phú Thọ

4.1. Những kết quả bước đầu

Thứ nhất, nhận thức về vai trò của văn hóa trong phát triển đã có chuyển biến. Văn hóa ngày càng được gắn với du lịch, phát triển cộng đồng và sinh kế.

Thứ hai, công tác kiểm kê, tư liệu hóa và lập hồ sơ di sản đã được quan tâm. Việc kiểm kê 267 di sản phi vật thể Mường ở Hòa Bình cũ là cơ sở quan trọng để quản lý nguồn lực sau hợp nhất.

Thứ ba, một số di sản Mường đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia như nghệ thuật chiêng Mường, Mo Mường, Lễ hội Khai hạ và Lịch tre của người Mường.

Thứ tư, mạng lưới cộng đồng, nghệ nhân và câu lạc bộ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong duy trì thực hành văn hóa.

Thứ năm, Thị trường du lịch Phú Thọ đang tiếp tục mở rộng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các sản phẩm văn hóa dựa trên di sản. Trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước đón 10,535 triệu lượt khách tham quan, trong đó có 3,216 triệu lượt khách lưu trú; khách quốc tế đạt khoảng 74 nghìn lượt, với tổng số 3,859 triệu ngày khách lưu trú. Tổng doanh thu du lịch ước đạt 10.755 tỷ đồng. Kết quả này cho thấy quy mô thị trường du lịch của tỉnh sau khi mở rộng không gian phát triển đang tạo ra dư địa đáng kể cho việc kết nối di sản văn hóa với các hoạt động dịch vụ, du lịch và công nghiệp văn hóa (nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Thọ, 2026).

4.2. Những hạn chế

Tuy nhiên, quá trình chuyển hóa nguồn lực Mường thành nguồn lực công nghiệp văn hóa còn nhiều hạn chế.

Một là, dữ liệu còn phân tán. Số liệu về di sản Mường hiện được thống kê theo từng địa bàn và từng chương trình nên khó hình thành một cơ sở dữ liệu thống nhất của tỉnh mới.

Hai là, sản phẩm còn đơn giản. Nhiều hoạt động vẫn dừng ở biểu diễn văn nghệ, lễ hội hoặc giới thiệu thủ công mà chưa hình thành chuỗi sản phẩm có thiết kế, thương hiệu và thị trường ổn định.

Ba là, vai trò của cộng đồng chưa tương xứng. Trong một số trường hợp, cộng đồng vẫn được xem là lực lượng thực hiện hơn là chủ thể cùng quyết định nội dung, hình thức và phương thức khai thác.

Bốn là, nguồn nhân lực trẻ còn hạn chế. Khoảng cách giữa nghệ nhân cao tuổi và thế hệ trẻ chưa được giải quyết đầy đủ.

Năm là, nguy cơ sân khấu hóa và thương mại hóa thiếu kiểm soát. Nếu chỉ lựa chọn những yếu tố “dễ xem, dễ bán”, nhiều lớp ý nghĩa của di sản có thể bị giản lược.

Sáu là, cơ chế chia sẻ lợi ích chưa rõ. Nếu cộng đồng không nhận được lợi ích tương xứng từ sản phẩm dựa trên văn hóa của mình, quá trình khai thác sẽ khó tạo động lực bảo tồn lâu dài.

5. Giải pháp phát huy nguồn lực văn hóa Mường trong phát triển công nghiệp văn hóa

5.1. Xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ số về văn hóa Mường

Tỉnh Phú Thọ cần xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về nguồn lực văn hóa Mường trên toàn tỉnh mới. Dữ liệu cần bao gồm di sản vật thể, phi vật thể, nghệ nhân, người thực hành, câu lạc bộ, nhà sàn, nghề thủ công, ẩm thực, lễ hội, không gian cư trú và các sản phẩm đã thương mại hóa. Có thể xây dựng bản đồ số văn hóa Mường, tích hợp hình ảnh 360 độ, video, âm thanh, mô hình 3D và thông tin địa lý. Đây không chỉ là công cụ bảo tồn mà còn là hạ tầng dữ liệu cho công nghiệp sáng tạo.

5.2. Xây dựng các không gian văn hóa Mường tiêu biểu

Không nên phát triển dàn trải. Tỉnh cần lựa chọn một số không gian có điều kiện thuận lợi để xây dựng mô hình điểm. Tân Sơn có thể trở thành một địa bàn nghiên cứu và phát triển sản phẩm bởi cộng đồng dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao. Khu vực các vùng Mường Bi - Vang - Thàng - Động cũng có thể hình thành mạng lưới liên kết về văn hóa và du lịch. Mỗi không gian cần có sản phẩm đặc trưng thay vì tất cả cùng tổ chức một mô hình giống nhau.

5.3. Phát triển sản phẩm sáng tạo từ di sản

Cần chuyển từ “giới thiệu di sản” sang “thiết kế sản phẩm từ di sản”. Chẳng hạn như: Chiêng Mường thành chương trình biểu diễn và trải nghiệm âm nhạc. Dệt Mường chuyển sang thời trang và thiết kế; Ẩm thực sang trải nghiệm ẩm thực, sản phẩm đóng gói; Nhà sàn sang lưu trú và trải nghiệm văn hóa. Truyện kể và sử thi chuyển sang sách, phim tài liệu, podcast, hoạt hình; Tri thức dân gian sang sản phẩm giáo dục; Lễ hội thành sự kiện văn hóa có kiểm soát; Họa tiết Mường sang thiết kế quà tặng và nhận diện thương hiệu.

5.4. Xây dựng cơ chế liên kết bốn bên

Cần hình thành cơ chế liên kết: Nhà nước - cộng đồng - nhà khoa học - doanh nghiệp.

Nhà nước tạo chính sách và hạ tầng; cộng đồng cung cấp tri thức và thực hành; nhà khoa học hỗ trợ tư liệu hóa, xác định tính xác thực; doanh nghiệp đảm nhiệm thiết kế, đầu tư và đưa sản phẩm ra thị trường.

5.5. Xây dựng thương hiệu “Văn hóa Mường Phú Thọ”

Thương hiệu cần dựa trên một bộ nhận diện thống nhất nhưng không làm mất sự khác biệt của từng địa phương.

Cần xây dựng tiêu chí để xác định sản phẩm được sử dụng tên gọi hoặc biểu tượng “Mường Phú Thọ”, bao gồm nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất, sự tham gia của cộng đồng và tiêu chuẩn chất lượng.

Đồng thời, có thể xây dựng nhãn hiệu chứng nhận hoặc cơ chế nhận diện đối với các sản phẩm đạt tiêu chuẩn văn hóa.

5.6. Phát triển nguồn nhân lực trẻ

Cần có chương trình “nghệ nhân trẻ” hoặc “người kế nghiệp di sản”, kết nối nghệ nhân với trường học, trung tâm văn hóa, câu lạc bộ và doanh nghiệp. Nội dung đào tạo không chỉ là kỹ năng thực hành di sản mà còn gồm kỹ năng truyền thông số, quay dựng, thiết kế, marketing, bán hàng trực tuyến và quản trị thương hiệu. Đây là điểm giao giữa bảo tồn truyền thống và công nghiệp sáng tạo.

5.7. Hoàn thiện cơ chế chia sẻ lợi ích

Mọi hoạt động khai thác kinh tế từ di sản cần có cơ chế để cộng đồng nhận được lợi ích. Có thể áp dụng các mô hình: trả thù lao cho nghệ nhân; chia sẻ doanh thu từ sản phẩm; hỗ trợ câu lạc bộ; trích một phần doanh thu cho quỹ bảo tồn; hỗ trợ đào tạo thế hệ kế cận; ưu tiên cộng đồng làm chủ homestay, dịch vụ trải nghiệm và sản xuất thủ công. Khi người dân nhìn thấy lợi ích trực tiếp từ việc bảo tồn, bảo tồn sẽ trở thành nhu cầu tự thân của cộng đồng thay vì chỉ là nhiệm vụ của cơ quan quản lý.

6. Kết luận

Văn hóa Mường ở tỉnh Phú Thọ sau hợp nhất đang đứng trước một không gian phát triển mới. Sự kết nối giữa các địa bàn Mường của Phú Thọ cũ với không gian Mường rộng lớn của Hòa Bình cũ tạo ra một hệ thống nguồn lực có quy mô đáng kể, bao gồm di sản phi vật thể, nghệ nhân, không gian cư trú, lễ hội, nghệ thuật trình diễn, nghề thủ công, ẩm thực và tri thức dân gian.

Kết quả kiểm kê 267 di sản văn hóa phi vật thể của người Mường tại Hòa Bình cũ, cùng hệ thống di sản và cộng đồng Mường tại Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập và các địa bàn khác, cho thấy nguồn lực văn hóa Mường có nền tảng xã hội tương đối rõ. Trong khi đó, thị trường du lịch Phú Thọ với 14,5 triệu lượt khách và doanh thu du lịch - dịch vụ khoảng 14.800 tỷ đồng năm 2025 tạo ra điều kiện thị trường thuận lợi để phát triển các sản phẩm văn hóa có giá trị gia tăng.

Tuy nhiên, phát triển công nghiệp văn hóa Mường không thể đồng nhất với việc thương mại hóa di sản. Điều quan trọng là xây dựng được cơ chế chuyển hóa nguồn lực một cách có chọn lọc, trong đó cộng đồng là chủ thể, nghệ nhân là người nắm giữ tri thức, nhà khoa học bảo đảm tính xác thực, doanh nghiệp tạo ra sản phẩm và thị trường, còn Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách, hạ tầng và cơ chế bảo vệ quyền lợi cộng đồng.

Trong giai đoạn tới, Phú Thọ cần ưu tiên xây dựng cơ sở dữ liệu số về văn hóa Mường; lựa chọn các không gian tiêu biểu để phát triển mô hình mẫu; hình thành sản phẩm sáng tạo từ di sản; phát triển nguồn nhân lực trẻ; xây dựng thương hiệu “Văn hóa Mường Phú Thọ”; đồng thời thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích và tái đầu tư cho bảo tồn.

Nếu thực hiện đồng bộ, văn hóa Mường có thể trở thành một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái công nghiệp văn hóa Phú Thọ, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập, phát triển du lịch, củng cố bản sắc cộng đồng và tạo thêm nguồn lực cho bảo tồn di sản. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu phát triển văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển bền vững hiện nay.

------------------

Tài liệu tham khảo

Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (2014). Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. (2023a). Hòa Bình: Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể dân tộc Mường.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. (2023b). Hòa Bình: Lưu giữ giá trị văn hóa dân tộc Mường.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. (2025). Phát huy giá trị văn hóa dân tộc Mường và nền “Văn hóa Hòa Bình”.

Đặng Nghiêm Vạn (Chủ biên). (2003). Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam. NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngô Đức Thịnh. (2010). Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và Hội nhập. NXB Khoa học Xã hội.

Quốc hội. (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Thọ. (2026). Kết quả hoạt động du lịch Phú Thọ năm 2025.

Thủ tướng Chính phủ. (2021). Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12/11/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030.