Điều đáng chú ý là các đối tượng đều không phải những người thiếu hiểu biết về công nghệ. Có người tốt nghiệp đại học ngành công nghệ thông tin, có người là sinh viên kỹ thuật phần mềm, có người là giám đốc doanh nghiệp. Họ hiểu cách xây dựng nền tảng số, phát triển ứng dụng, vận hành máy chủ, xử lý dữ liệu hay khai thác điện toán đám mây. Nói cách khác, họ có tri thức, có năng lực công nghệ, nhưng đã sử dụng những năng lực ấy để khai thác trái phép thành quả lao động sáng tạo của người khác nhằm kiếm lợi.
Điều đó đặt ra một câu hỏi mang tính văn hóa: Vì sao trong thời đại mà giá trị của tri thức và sáng tạo ngày càng được đề cao, vẫn còn không ít người coi tác phẩm văn học, điện ảnh, âm nhạc trên Internet là "tài nguyên miễn phí"?

Khi "xài của chùa" trở thành một thói quen văn hóa đáng lo
Trong nhiều năm, cụm từ "xài của chùa" xuất hiện khá phổ biến trong đời sống. Từ phần mềm máy tính, phim ảnh, bài hát đến sách điện tử, không ít người từng xem việc tải miễn phí, sao chép hay chia sẻ trái phép là điều bình thường. Internet phát triển càng mạnh thì ranh giới giữa tiện lợi và vi phạm bản quyền càng dễ bị xóa nhòa.
Thực tế, nhiều người vẫn nghĩ rằng chỉ cần không lấy cắp một vật hữu hình thì không phải là hành vi chiếm đoạt. Họ quên rằng phía sau mỗi bộ phim là hàng trăm con người làm việc nhiều tháng, thậm chí nhiều năm; phía sau một ca khúc là lao động sáng tạo của nhạc sĩ, ca sĩ, nhà sản xuất; phía sau mỗi tác phẩm là những khoản đầu tư lớn về tài chính, trí tuệ và thời gian.
Khi một bộ phim bị phát tán trái phép, một ứng dụng thu phí dựa trên nội dung không được cấp phép hay hàng nghìn bài hát bị tích hợp vào thiết bị thương mại mà không trả tiền bản quyền, thiệt hại không chỉ dừng ở số tiền thất thoát. Người sáng tạo mất quyền kiểm soát tác phẩm của mình. Doanh nghiệp làm ăn chân chính chịu sự cạnh tranh thiếu công bằng. Thị trường văn hóa bị méo mó khi người vi phạm lại có lợi thế về chi phí hơn người tuân thủ pháp luật.
Đáng nói hơn, nếu hành vi đó được xã hội mặc nhiên chấp nhận thì dần dần sẽ hình thành một tâm lý nguy hiểm: sáng tạo là việc của người khác, còn khai thác miễn phí là quyền của mình.
Một nền công nghiệp văn hóa không thể phát triển bền vững trên nền tảng của tư duy ấy.
Tôn trọng bản quyền cũng là tôn trọng giá trị sáng tạo
Ở góc độ văn hóa, quyền tác giả không chỉ là một khái niệm pháp lý mà còn là sự ghi nhận đối với lao động sáng tạo. Một xã hội biết tôn trọng bản quyền cũng chính là một xã hội biết trân trọng tri thức, ý tưởng và công sức của con người.
Không phải ngẫu nhiên mà nhiều quốc gia có nền công nghiệp điện ảnh, âm nhạc hay xuất bản phát triển đều rất nghiêm khắc với hành vi xâm phạm bản quyền. Họ hiểu rằng nếu người sáng tạo không được bảo vệ thì sẽ không còn động lực đầu tư cho những tác phẩm mới, chất lượng cao.
Việt Nam đang đặt mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế quan trọng. Muốn vậy, bên cạnh việc đầu tư cho sáng tạo, một yếu tố không thể thiếu là xây dựng văn hóa sử dụng sản phẩm có bản quyền.
Việc cơ quan chức năng liên tiếp phát hiện, điều tra và khởi tố các vụ án xâm phạm quyền tác giả lần này phát đi thông điệp rõ ràng rằng thời kỳ "xài của chùa" để kinh doanh, thu lợi quy mô lớn không còn đất sống. Công nghệ số mở ra nhiều cơ hội nhưng không thể trở thành "lá chắn" cho những hành vi vi phạm pháp luật.
Tuy nhiên, xử lý hình sự chỉ là giải pháp ở phần ngọn. Điều quan trọng hơn là tạo dựng nhận thức từ gốc. Nhà trường cần giáo dục học sinh, sinh viên về đạo đức sử dụng tài nguyên số và ý thức tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ. Doanh nghiệp cần xây dựng văn hóa kinh doanh liêm chính, coi chi phí bản quyền là một phần tất yếu của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Người tiêu dùng cũng cần thay đổi thói quen lựa chọn các nền tảng hợp pháp thay vì tiếp tay cho những website, ứng dụng phát tán nội dung lậu.
Bên cạnh đó, các tổ chức đại diện quyền tác giả cũng cần hoạt động minh bạch, công khai phạm vi đại diện, mức thu và cơ chế phân phối tiền bản quyền để người sử dụng hiểu rõ mình đang trả tiền cho quyền gì, trả cho ai. Khi cơ chế bảo vệ quyền lợi của cả người sáng tạo và người sử dụng được vận hành minh bạch, việc tuân thủ bản quyền sẽ trở thành lựa chọn tự nhiên hơn là sự ép buộc.
Ở thời đại số, dữ liệu có thể được sao chép chỉ trong vài giây, nhưng một bộ phim hay một ca khúc lại cần nhiều năm để hình thành. Chính vì vậy, giá trị của sáng tạo càng cần được gìn giữ. Tôn trọng bản quyền không chỉ là chấp hành pháp luật mà còn là biểu hiện của văn hóa ứng xử với tri thức và lao động của người khác.
Ba vụ án vừa bị khởi tố vì thế không chỉ khép lại bằng những bản cáo trạng. Điều đáng suy ngẫm hơn là chúng nhắc mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp và cả cộng đồng rằng muốn xây dựng một nền kinh tế số phát triển, trước hết phải xây dựng được một nền văn hóa số lành mạnh. Và trong nền văn hóa ấy, không có chỗ cho tư duy "xài của chùa", càng không thể chấp nhận việc biến thành quả sáng tạo của người khác thành công cụ làm giàu cho mình.
|
Ba vụ án mà Công an TP Hà Nội vừa khởi tố gồm: Vụ án thứ nhất, Trần Đình Quý (sinh năm 1997, trú TP Đà Nẵng) và Hà Xuân Sáng (sinh năm 1997, trú TP Đà Nẵng), đều tốt nghiệp đại học chuyên ngành công nghệ thông tin, đã cùng phát triển ứng dụng phimne.app trên nền tảng Android TV dù không được phép khai thác, kinh doanh phim. Vụ án thứ hai, Vũ Huy Hoàng (sinh năm 2003), sinh viên năm cuối ngành Kỹ thuật phần mềm, đã xây dựng hệ thống phimne.live gồm website và các ứng dụng trên tivi, điện thoại, máy tính bảng. Vụ án thứ ba, Vũ Phi Điệp (sinh năm 1980, trú phường Hoàng Mai, Hà Nội), Giám đốc Công ty TNHH Tập đoàn Điện tử Việt KTV, bị cáo buộc chỉ đạo nhân viên sao chép các tác phẩm âm nhạc từ nhiều nền tảng số, xử lý thành dữ liệu karaoke rồi tích hợp vào các thiết bị mang thương hiệu VietKTV khi chưa được chủ sở hữu quyền cho phép. |
V.X.B