Bố mẹ tôi, có nhiều điều không giống ai!

Những chuyện tôi kể dưới đây đều là những kỷ niệm gia đình. Nhưng biết đâu, qua đó bạn đọc cũng có thể biết thêm đôi điều về một gia đình có những cách nghĩ, cách làm… khá “lạ” so với thời ấy.
gia-ddinhf-anh-thanh-1789807162.jpg

Tháng Bảy, nhớ em tôi hy sinh và nhớ vài kỷ niệm về cha mẹ

Xin nói ngay, bài này hơi dài. Nhân dịp cha tôi “đi xa” đã 30 năm, tôi muốn hồi tưởng lại đôi điều về cha mẹ – cũng là theo đề nghị của vài anh chị em trong nhà.

Những chuyện tôi kể dưới đây đều là những kỷ niệm gia đình. Nhưng biết đâu, qua đó bạn đọc cũng có thể biết thêm đôi điều về một gia đình có những cách nghĩ, cách làm… khá “lạ” so với thời ấy.

Từ một lời cầu hôn rất thẳng thắn

Ông bà nội đặt tên cha tôi là Nguyễn Đình Chuân – cái tên mang ý nghĩa về sự chăm chỉ, siêng năng. Sau này, khi được đi học xa nhà, cha tôi đổi tên thành Nguyễn Chuân Minh: vẫn giữ chữ “Chuân”, nhưng thêm chữ “Minh” – sáng suốt, sáng sủa.

Năm 30 tuổi, tức năm 1932, cha tôi là Sếp Lục lộ, phụ trách một đơn vị đường bộ, quản lý cung đường số 1 từ thị xã Thanh Hóa đến phà Ghép. Ông trọ ở làng Mỹ Thạch, gần phà Ghép.

Hàng ngày, có một O gái thường bế em sang chơi nhà hàng xóm, nơi ông Minh ở trọ. Có lẽ vì thấy anh Sếp “cũng hay hay”, lại có chiếc xe bình bịch to đùng – thứ phương tiện rất hiếm vào thời ấy – nên O cứ sang chơi mãi.

Cha tôi vốn tính chất phác. Thấy O gái cứ sang chơi hoài, lại trẻ trung, thật thà và xinh đẹp, một chiều thuận lợi, ông nói thẳng:

– O có ưng tôi không? Tôi sẽ đưa người nhà xuống gặp gia đình ta?

O gái thật thà đáp:

– Sao em biết được? Cha mẹ em mới biết được chứ ạ?

Nghe vậy, cha tôi mừng lắm. Nhưng ông đâu biết rằng bà ngoại tôi thấy ông đã 30 tuổi, hơn con gái mình tới 13 tuổi, nên cũng có phần lo ngại, sợ ông đã có vợ. Bà viện ra đủ thứ khó khăn:

– Chúng tôi có nhiều khó khăn… Hai thằng anh nó đang tù tội ở Ban Mê…

Hai người anh của mẹ tôi là ông Khanh, tức ông Đương, và ông Huấn, tức ông Đoàn, khi ấy đang bị thực dân Pháp giam tại Buôn Ma Thuột. Sau này, các ông còn ở cùng trại với ông Nguyễn Côn, người về sau giữ chức Phó Thủ tướng dưới thời Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Những “chướng ngại” ấy không làm cha tôi chùn bước. Là một người sau này tham gia Đảng trong thời kỳ Khởi nghĩa mùa Thu, ông càng quyết tâm hơn.

Ông đã biết O Trần Thị Đẹch kém mình 13 tuổi, nhưng O không hề từ chối lời cầu hôn ngắn gọn, chân thật của anh Sếp.

Năm 1932, cha mẹ tôi cưới nhau.

Năm 1933, người con trai đầu lòng ra đời. Hai ông bà sống trong một ngôi nhà xinh xắn trên một con phố gần “Căng Stat” – tức khu vực Sân vận động thành phố Thanh Hóa ngày nay.

Nhưng cha tôi không chịu yên.

Ông đã ấp ủ từ lâu ý định xây dựng một trường tư thục và kiên trì thuyết phục mẹ tôi về trông nom Trường Tư thục Tam Đa.

“Thuyền theo lái…” – mẹ tôi đã nghe cha bao nhiêu chuyện, nay trái ý ông để làm gì?

Thế là bà theo ông.

Người đàn bà của Trường Tam Đa

Mẹ tôi vốn gọn gàng, sạch sẽ, chu đáo nên các giáo viên rất nể và quý mến. Những người ở lại trường được bà chăm lo chuyện ăn uống, sinh hoạt hết sức chu đáo.

Trong số những người từng gắn bó với Trường Tam Đa có ông giáo Hữu Loan, tác giả Màu tím hoa sim, người mà tôi đã từng kể trong một bài viết khác.

Thời ấy, nhiều bà con thường tỷ tê mách nước, khuyên mẹ tôi mua thêm ruộng để phát canh thu tô.

Nhưng cha tôi kiên quyết ngăn cản. Ông không cho mẹ tôi đi theo con đường ấy.

Đến năm 1955, trong thời kỳ Cải cách ruộng đất, mẹ tôi cứ nhắc đi nhắc lại:

– Bố các chú giỏi thật! Ông không ngăn thì bây giờ tôi là địa chủ, chết là cái chắc!

Mẹ tôi nói cũng có lý.

Bà từng kín đáo mua sáu sào ruộng tư. Nhưng nhà tôi có tới chín nhân khẩu, nên nếu tính theo tiêu chuẩn lúc ấy thì gia đình vẫn không rơi vào diện địa chủ.

Hú vía!

Nhưng điều đáng nói hơn là Trường Tam Đa.

Sau này, Đại tá Nguyễn Ngọc Cúc ở làng Kiểu, Giáo sư Trịnh Mạnh, Tướng Lưu Vũ Súy ở làng Hổ Bái – nguyên Tư lệnh Quân khu 3 – và nhiều người khác khi gặp tôi đều có chung một suy nghĩ:

Nếu không học Trường Tam Đa, chưa chắc chúng tôi có được như ngày hôm nay.

Họ nói rằng họ luôn nhớ ơn ông bà Sếp Minh.

Bởi Trường Tam Đa đã đem kiến thức đến với những người dân trong một thời kỳ mà phần đông dân ta còn chưa biết chữ.

“Sếp Minh” và câu chuyện trùng tên

Cả làng tôi, khi nói đến “ông Sếp”, tức là nói đến ông Sếp Minh.

Hồi ấy, bà con thường tránh gọi tên thật của người lớn trong những trường hợp không cần thiết. Người ta sợ gọi tên “cúng cơm” ra là điều chẳng lành.

Thế mà gia đình ông Kiểm, ông Ngợi ở xóm trên sinh được con trai đầu lòng, lại đặt tên cháu là Minh.

Cha tôi đi làm xa. Khi trở về, nghe nói ông bà nội đặt tên tôi là Nguyễn Đình Vượng, ông ngạc nhiên lắm, bởi trước đó chính ông đã đặt tên cho tôi là Thanh.

Khi biết nhà kia đặt tên con họ đúng tên mình, còn ông bà nội tôi lại đặt tên tôi theo tên cha của anh Minh kia, cha tôi chỉ nói:

“Trùng tên là chuyện thường. Có khi người ta quý mình nên lấy tên mình đặt cho con người ta thì sao? Thôi, không gọi là Vượng nữa, mà là Nguyễn Đình Thanh thôi nhé!”

Chỉ một câu nói đơn giản vậy thôi, nhưng với tôi, đó là một cách ứng xử rất đáng nhớ.

Cha tôi đã lấy sự an hòa để đối lại sự hiềm khích.

Người trồng cây từ những năm 30

Cha tôi còn là một người đặc biệt yêu cây cối.

Trong vườn nhà lúc ấy có đủ cam, chanh, bưởi, vải, dừa…

Ông nhìn những khoảng đất trống trong đường làng, ngõ xóm và thấy chúng vừa lãng phí vừa đơn điệu. Thế là ông thuê cả một con đò dọc, chở hàng nghìn cây dừa con và phi lao mua từ Hoằng Hóa, Sầm Sơn về Bến Kiểu – một quãng đường hàng chục cây số – để trồng trong vườn và dọc các ngõ xóm.

Người quý cây cũng nhiều, nhưng tất nhiên cũng có kẻ phá hoại.

Dẫu vậy, hàng dừa và phi lao dọc Quốc lộ 45 vẫn có một đoạn dài hàng trăm mét tồn tại xanh tốt, ở khu vực đối diện con đê hữu ngạn sông Mã.

Ngày nay, đi trên tuyến đường ấy, có lẽ ít ai hình dung được rằng từ những năm 1930–1940, đã có một người nghĩ đến chuyện đưa cây xanh phủ kín đường làng, ngõ xóm.

Đến khoảng năm 1950, những cây dừa đã trĩu quả, phi lao vi vút suốt ngày đêm; có cây đường kính tới 40 cm.

Tháng Năm, trời nắng chang chang. Người đi đường ngang qua đoạn ấy thường ngồi nghỉ dưới bóng dừa mát, nghe tiếng rì rào của rặng phi lao rồi mới đi tiếp.

Mỗi năm hai, ba lần, gia đình tôi cùng làng xã lại thu hoạch, rồi chia đôi sản vật thu được.

Những ngày ấy thật vui.

Nhiều người sau này bảo:

“Từ những năm 30–40 của thế kỷ trước mà ông Minh đã biết trồng cây, gây rừng. Đúng là có tầm nhìn xa!”

Một lần cứu tàu và phần thưởng đặc biệt

Cả đời phấn đấu của tôi, đến nay mới được tặng Huân chương Lao động hạng Ba.

Còn cha tôi, chỉ bằng một việc cứu một tàu nước ngoài mắc cạn ở vùng biển Thanh Hóa, đã được Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký tặng Huân chương Lao động hạng Nhì năm 1957.

Mỗi lần nghĩ đến điều ấy, tôi lại thấy khoảng cách giữa mình và cha mẹ thật lớn.

Chúng tôi cũng cố gắng học hành, làm việc, phấn đấu; cũng muốn làm được điều gì đó cho gia đình và xã hội.

Nhưng những việc chúng tôi làm được vẫn còn thua cha mẹ rất nhiều, rất nhiều.

Ba mươi năm kể từ ngày cha “đi xa”, rồi những tháng Bảy lại về, nỗi nhớ người đã khuất cứ trở lại theo một cách rất riêng.

Nhớ cha.

Nhớ mẹ.

Nhớ cả những chuyện tưởng như vụn vặt của một gia đình.

Nhưng chính những chuyện vụn vặt ấy, khi người thân đã đi xa, lại trở thành những điều quý giá nhất.

Và càng nhớ, tôi càng hiểu rằng: bố mẹ tôi quả thật có nhiều điều… không giống ai!