Tiền Phong thôn mới quê ta!
Phạm Minh Phong
Tiền Phong tên mới thôn ta
mừng ngày hợp nhất muôn hoa chúc mừng
gặp nhau tay bắt mặt mừng
gừng cay, muối mặn xin đừng quên nhau
Tây Trúc, Thanh Trúc đồng lòng
chung tay, hợp sức khơi dòng khó khăn
vượt qua rào cản cách ngăn
phong trào văn hóa phủ xanh đất gầy
Toàn dân đoàn kết dựng xây
nhà nhà no ấm, đủ đầy, thủy chung
giông giật, hạn hán, bão bùng
xây nông thôn mới ta cùng sẻ chia
Cùng nhau xây dựng xóm làng
ấm no, giàu mạnh đàng hoàng hơn xưa
nâu sồng cõng nắng ban trưa
mồ hôi thánh thót cho mùa bội thu
Ai về thăm đất Tiền Phong
ngắm nhìn phong cảnh mà lòng xốn xang
cây đa, bến nước, đình làng
níu chân lữ khách chẳng màng rời đi

Tiền Phong là tên mới của hai thôn Tây Trúc và Thanh Trúc của xã Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Trị, hợp nhất lại. Sự hợp nhất ấy đã thổi một luồng sinh khí mới vào không gian xây dựng nông thôn mới và đời sống văn hóa trong cộng đồng dân cư. Cảm xúc trước sự thay đổi của quê hương, tác giả Phạm Minh Phong, giáo viên Trường Tiểu học Lê Trực đã sáng tác bài thơ “Tiền Phong thôn mới quê ta!”.
Bài thơ không chỉ là lời chúc mừng một sự kiện hành chính đơn thuần mà còn là khúc ca về tinh thần đoàn kết, về sức sống của cộng đồng nông thôn trên hành trình xây dựng quê hương giàu đẹp. Điều đáng quý của bài thơ nằm ở chỗ tác giả không kể câu chuyện bằng những luận điểm khô cứng mà lựa chọn ngôn ngữ thơ giàu tính dân gian, sử dụng linh hoạt nhiều biện pháp tu từ để khắc họa một hình tượng trung tâm: người dân Tiền Phong – những con người bình dị nhưng chính họ là chủ thể sáng tạo nên diện mạo nông thôn mới.
Từ một cái tên mới đến một khởi đầu mới
Ngay hai câu mở đầu: "Tiền Phong tên mới thôn ta/ mừng ngày hợp nhất muôn hoa chúc mừng" đã mở ra không khí hân hoan của một ngày hội. Tên gọi "Tiền Phong" không chỉ mang ý nghĩa địa danh mà còn hàm chứa một biểu tượng. "Tiền phong" là đi đầu, là tiên phong, là mở đường. Việc lựa chọn tên gọi này gợi lên khát vọng đổi mới, phát triển và vươn lên của cả cộng đồng.
Ở đây, tác giả sử dụng phép ẩn dụ biểu tượng trong câu thơ “mừng ngày hợp nhất muôn hoa chúc mừng”. Ta thấy, "muôn hoa chúc mừng" ở đây không đơn thuần là hình ảnh thiên nhiên mà còn là sự nhân hóa niềm vui của đất trời, của lòng người thôn Tiền Phong trước một vận hội mới, không gian phát triển mới. Hoa trở thành tiếng nói của thiên nhiên cùng chia vui với con người. Không khí ấy tiếp tục được mở rộng:
gặp nhau tay bắt mặt mừng
gừng cay, muối mặn xin đừng quên nhau
Hai câu thơ khiến người đọc liên tưởng ngay đến kho tàng ca dao Việt Nam: "Tay bắt mặt mừng" và "Gừng cay muối mặn.". Đây là thủ pháp điển ngữ dân gian được vận dụng rất tự nhiên. Chúng ta thấy, "gừng cay, muối mặn" vốn là biểu tượng của tình nghĩa thủy chung. Trong bài thơ, hình ảnh này được nâng lên thành lời nhắc nhở rằng dù hợp nhất về mặt hành chính thì điều quan trọng nhất vẫn là gìn giữ nghĩa tình cộng đồng. Nhờ vậy, bài thơ ngay từ đầu đã xác lập được nền tảng văn hóa của nông thôn mới: phát triển nhưng không đánh mất truyền thống.
Khổ thơ tiếp theo là điểm nhấn về nghệ thuật:
Tây Trúc, Thanh Trúc đồng lòng
chung tay, hợp sức khơi dòng khó khăn
vượt qua rào cản cách ngăn
phong trào văn hóa phủ xanh đất gầy
Ở đây xuất hiện liên tiếp nhiều động từ mang sắc thái nhấn mạnh sự đoàn kết của người dân thôn Tiền Phong trong công cuộc xây dựng nông thôn mới: đồng lòng, chung tay, hợp sức, vượt qua. Chuỗi động từ ấy tạo nên nhịp điệu khỏe khoắn, giàu tính hành động. Nếu coi toàn bài thơ là một bản nhạc thì đây chính là đoạn cao trào đầu tiên, bởi, không có cá nhân nào được nhắc đến, không có người anh hùng nào xuất hiện, nhân vật trung tâm là "chúng ta". Đó chính là người dân, đó là tập thể. Điều này phù hợp với đặc trưng văn học viết về xây dựng nông thôn mới: đề cao sức mạnh cộng đồng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, ông bà mẫu mực, con cháu thảo hiền, người dân hiền hòa, thân thiện, dễ mến, cần cù, chịu khó,…
Đặc biệt, câu: “phong trào văn hóa phủ xanh đất gầy” là một hình ảnh giàu giá trị nghệ thuật. "Đất gầy" trước hết là mảnh đất còn nhiều khó khăn khiến nhiều người nản chí chinh phục nó, nhưng đó còn là ẩn dụ cho đời sống văn hóa chưa thật sự phong phú. Khi tác giả viết: "phủ xanh đất gầy" thì màu xanh không chỉ là màu của cây cối mà còn là màu của tri thức, văn minh, của hy vọng. Chỉ bằng bốn chữ "phủ xanh đất gầy", tác giả đã khái quát được mục tiêu của chương trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương.
Người dân hiện lên như chủ thể sáng tạo lịch sử
Khổ thơ thứ ba mở rộng tầm nhìn:
Toàn dân đoàn kết dựng xây
nhà nhà no ấm, đủ đầy, thủy chung
Tác giả không ca ngợi thành tựu bằng những con số. Ông chọn cách khắc họa thành quả qua hình ảnh cuộc sống "nhà nhà no ấm" là tiêu chí vật chất, "thủy chung" là tiêu chí tinh thần. Chính sự kết hợp ấy cho thấy quan niệm phát triển rất nhân văn. Nông thôn mới không chỉ là đường bê tông, không chỉ là điện sáng, không chỉ là nhà cao mà còn là gìn giữ đạo lý giữa con người với con người trước mọi khó khăn, hoạn nạn của cuộc sống. Điều này khiến bài thơ mang chiều sâu văn hóa.
Ở hai câu tiếp:
giông giật, hạn hán, bão bùng
xây nông thôn mới ta cùng sẻ chia
Tác giả đã rất tài tình khi sử dụng phép liệt kê tăng tiến để khắc họa sự khắc nghiệt của thiên nhiên đối với đời sống con người với ba hình ảnh thiên tai liên tiếp: “giông giật, hạn hán, bão bùng” đã tạo nên cảm giác khốc liệt của thiên nhiên. Nhưng ngay sau đó là câu: "ta cùng sẻ chia". Nhịp thơ chuyển từ dữ dội sang êm dịu. Đây là thủ pháp đối lập nghệ thuật. Thiên tai càng dữ dội thì tình người càng sáng. Khó khăn càng nhiều thì đoàn kết càng lớn.
Và đây là đoạn thơ giàu chất tạo hình nhất:
Cùng nhau xây dựng xóm làng
ấm no, giàu mạnh đàng hoàng hơn xưa
nâu sồng cõng nắng ban trưa
mồ hôi thánh thót cho mùa bội thu
Chỉ hai câu cuối thôi đã đủ làm nên linh hồn của cả bài thơ. "Nâu sồng" là hoán dụ. Đó là màu áo của người nông dân. Tác giả không gọi trực tiếp "người nông dân". Ông gọi bằng màu áo. Đó là cách gọi giàu sức gợi. Đặc biệt hơn cả là hình ảnh: “nâu sồng cõng nắng ban trưa”. "Cõng nắng" là một nhân hóa kết hợp ẩn dụ rất đẹp. Không ai có thể cõng được nắng. Nhưng người nông dân thì dường như đang mang cả cái nắng trên lưng khi lao động giữa đồng. Chỉ một động từ "cõng" đã khiến người đọc cảm nhận được sức nặng của nhọc nhằn. Ngay sau đó: “mồ hôi thánh thót cho mùa bội thu”. "Thánh thót" vốn là âm thanh của nước. Ở đây mồ hôi được cảm nhận như tiếng rơi. Đó là phép chuyển đổi cảm giác. Mồ hôi không chỉ nhìn thấy mà còn nghe được. Mỗi giọt mồ hôi trở thành một thanh âm của lao động. Đó là thanh âm của sự sống, là tiếng hát của mùa vàng. Có thể nói đây là hai câu thơ thành công nhất của tác phẩm.
Khổ cuối:
Ai về thăm đất Tiền Phong
ngắm nhìn phong cảnh mà lòng xốn xang
cây đa, bến nước, đình làng
níu chân lữ khách chẳng màng rời đi
Ở đây, tác giả đưa người đọc trở về không gian văn hóa làng Việt: "Cây đa", "Bến nước", "Đình làng" là ba hình tượng quen thuộc của văn học dân gian. Đây là phép liệt kê biểu tượng. Ba hình ảnh ấy không chỉ tạo nên phong cảnh, mà đó còn là ký ức, là cội nguồn, là bản sắc. Đặc biệt, câu: “níu chân lữ khách chẳng màng rời đi” khi mà tác giả đã sử dụng phép nhân hóa. Ở đây, không phải con người níu khách mà là cảnh vật níu chân lữ khách. Đó chính là vẻ đẹp của quê hương khi văn hóa đã hòa quyện với thiên nhiên.
Giá trị nhân văn của tác phẩm
Điểm nổi bật của bài thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn nhiều biện pháp nghệ thuật. Có thể kể đến việc lựa chọn động từ: "cùng nhau", "đồng lòng", "chung tay", "xây dựng", tạo nhịp điệu sôi nổi; liệt kê: giông giật – hạn hán – bão bùng; cây đa – bến nước – đình làng; ẩn dụ: đất gầy, phủ xanh, muôn hoa, hoán dụ: nâu sồng, nhân hóa: muôn hoa chúc mừng; cảnh vật níu chân khách; chuyển đổi cảm giác: mồ hôi thánh thót; thành ngữ, ca dao: gừng cay muối mặn, tay bắt mặt mừng. Chính những yếu tố ấy tạo nên chất thơ gần gũi, giàu bản sắc dân gian.
Điều đáng quý nhất của bài thơ không nằm ở những phát hiện nghệ thuật mới lạ mà ở tình yêu quê hương chân thành. Tác giả nhìn nông thôn mới từ góc độ con người. Con người là trung tâm, con người tạo nên quê hương, con người gìn giữ truyền thống văn hóa, con người vượt qua thiên tai, con người xây dựng tương lai. Hình tượng người dân Tiền Phong hiện lên với nhiều phẩm chất đẹp: đoàn kết, nghĩa tình, cần cù, chịu thương chịu khó, thủy chung với quê hương và tin tưởng vào tương lai. Đó cũng chính là chân dung tiêu biểu của người nông dân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
"Tiền Phong thôn mới quê ta!" không phải là bài thơ hướng đến những cách tân hình thức hay những tầng nghĩa phức hợp. Giá trị của tác phẩm nằm ở tiếng nói chân thành của một người con dành cho quê hương đang chuyển mình. Với ngôn ngữ mộc mạc, giàu âm hưởng ca dao, cùng việc vận dụng linh hoạt các biện pháp tu từ, như: điệp ngữ, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, liệt kê và chuyển đổi cảm giác, tác giả đã dựng nên một bức tranh nông thôn mới tươi sáng, nơi truyền thống và đổi mới hòa quyện trong từng nhịp sống.
Nổi bật hơn cả là hình tượng người dân Tiền Phong – những con người bình dị mang màu áo nâu sồng, "cõng nắng ban trưa", đổ những giọt "mồ hôi thánh thót" để làm nên mùa vàng và kiến tạo quê hương. Họ không chỉ là chủ thể của lao động mà còn là chủ thể của văn hóa, của tinh thần đoàn kết và khát vọng phát triển. Qua hình tượng ấy, bài thơ gửi gắm một thông điệp giàu ý nghĩa: xây dựng nông thôn mới trước hết là xây dựng con người mới – những con người biết yêu thương, gắn bó, đồng lòng và gìn giữ cội nguồn. Chính vì vậy, "Tiền Phong thôn mới quê ta!" tuy dung dị nhưng vẫn có sức lay động, góp thêm một tiếng nói đẹp vào mạch nguồn thơ ca viết về quê hương và công cuộc đổi mới nông thôn Việt Nam hôm nay.