
Ngôn ngữ người kể chuyện
Tác giả Xuân Vũ là bút danh của Vũ Xuân Bân) là một Nhà báo giàu kinh nghiệm, có chuyên môn vững vàng. Ông từng là Phóng viên chiến trường của Thông tấn xã Giải phóng trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nay là Thông tấn xã Việt Nam cũng từng là Trưởng ban Tin trong nước; Phó Tổng biên tập Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam; Phó Tổng biên tập Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển và hiện giữ chức Chủ tịch Hội đồng biên tập Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển.
Tháng 4/2024, tôi vui mừng nhận được cuốn tiểu thuyết “Tơ Vò” của nhà báo Vũ Xuân Bân gửi tặng. Đọc tiểu thuyết “Tơ Vò”, độc giả dễ dàng nhận thấy tác phẩm đề cập đến vấn đề thời sự nóng hôi hổi của cuộc sống, đó là tác động của mặt trái cơ chế thị trường trong đời sống, xã hội. Cụ thể ở đây đó là sự tha hóa về đạo đức, lối sống, ham quyền lực, tự diễn biến, tự chuyển hóa, không từ bất kỳ thủ đoạn nào nhằm “hạ bệ” đối thủ của mình để leo lên đài cao danh vọng, với quan điểm “có chức, có quyền là có tất cả” của một số cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất của bộ máy công quyền.
Tác phẩm có hơn 20 nhân vật, trong đó có những nhân vật có tên tuổi, chức danh rõ ràng, khắc họa đậm nét sự tha hóa bản ngã, hám quyền lực, tự diễn biến, tự chuyển hóa bản thân mình, như: Trần Bố (Chủ tịch, Bí thư Tỉnh ủy); Thạch Phí, Ngọc Hồn (Chủ tịch tỉnh); Trương Tồn, Nguyễn Chút (Phó bí thư thường trực); Hoàng Trương Cù, Hà Hóa, Tư Túc (Phó chủ tịch); Cần Kéo (Trưởng ban tổ chức); Phụng Tiên (Giám đốc Sở thực thi pháp luật) hay Cấn Văn Đại (Bí thư kiêm Chủ tịch huyện),... Các nhân vật của tác phẩm đều có bóng dáng là nhân vật hiện thực ngoài đời được thể hiện đậm nét trong tiểu thuyết Tơ vò.
Từ đó, độc giả sẽ nhận thấy, trong dòng chảy của văn xuôi hiện đại Việt Nam viết về hiện thực tham nhũng và những biến dạng quyền lực, tiểu thuyết “Tơ vò” của Vũ Xuân Bân (bút danh Xuân Vũ) nổi lên như một trường hợp đáng chú ý. Tác phẩm không chỉ gây ấn tượng bởi đề tài “nóng” mà còn tạo được sức nặng nghệ thuật ở phương diện xây dựng nhân vật – đặc biệt là ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ người kể chuyện. Ở đây, ngôn ngữ không đơn thuần là phương tiện giao tiếp, mà trở thành công cụ phơi bày bản chất con người, phản ánh cấu trúc quyền lực và những xung đột đạo đức trong đời sống đương đại.
Bàn về ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, nhà thơ Nga Maiacopxki, có viết “phải phí tốn hàng nghìn cân quặng chữ/ mới thu về một chữ mà thôi/ nhưng chữ ấy làm cho rung động/ triệu trái tim trong hàng triệu năm dài”. Còn M.Gorki cho rằng “yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ”, bởi ông cho rằng, công cụ chủ yếu đó cùng với các hiện tượng, các sự kiện cuộc sống là chất liệu văn học. Nếu ngôn ngữ của đời sống được xem là nguyên liệu để sáng tác thì ngôn ngữ của văn học lại là sản phẩm hoàn chỉnh, được sáng tạo qua bàn tay điêu luyện của người nghệ sĩ tài hoa. Đó là một quá trình lao động đầy nghệ thuật, đầy sáng tạo nhưng cũng rất vất vả.
Quá trình lao động đầy nghệ thuật, đầy sáng tạo nhưng cũng rất vất vả ấy đã được nhà báo Vũ Xuân Bân cẩn thận chăm chút trong quá trình xây dựng hình tượng nhân vật, trong đó đặc biệt chú trọng đến ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ người kể chuyện. Ngôn ngữ người kể chuyện trong Tơ Vò mang đậm phong cách ngôn ngữ chính luận. Phong cách ngôn ngữ chính luận là phong cách ngôn ngữ gắn với văn bản chính luận, được sử dụng như cách trình bày, phân tích, bàn luận và bày tỏ quan điểm, thái độ trước những vấn đề thời sự quan trọng của đời sống chính trị, xã hội và kinh tế.
Phong cách này mang tính thuyết phục cao, thể hiện rõ tư tưởng, lập trường của người viết. Đặc điểm này đã làm nổi bật tư duy và bản lĩnh của tác giả, giúp tiểu thuyết không chỉ kể chuyện mà còn bình luận, đánh giá sâu sắc về nhân vật, chẳng hạn như một số đoạn văn: “ Giá mà vị đứng đầu tỉnh nọ học hỏi kinh nghiệm linh hoạt, mềm dẻo của Trần Bố để giữ cho trong ấm ngoài êm trước những vấn đề đột xuất nảy sinh thì chắc sẽ êm thấm. Nhưng vị ta vẫn quen thói dùng cường quyền, bắt người khác phải phục tùng, tuân theo. Tư duy đó cổ lắm rồi” (trang 15 -26).
Hay đoạn văn, “Trương Tồn có nhiều thế mạnh nhưng chưa phát huy được. Lẽ ra Trương Tồn phải khiêm tốn, biết kính trên nhường dưới. Là thân phận cấp phó, Trương Tồn phải làm tốt chức năng tham mưu giúp cấp trưởng bao quát lãnh đạo, chỉ đạo thực thi đối nội, đối ngoại, trong ấm ngoài êm thì vị trí bí thư tỉnh khóa tới trong tầm tay. Nhưng Trương Tồn không hành xử như thế. Hắn ta tiếp tục nảy nòi tự kiêu, không coi ai ra gì...” (trang 191-192).
Và đoạn văn, “Đấu thầu vốn là phạm trù kinh tế, là một hình thức để chọn nhà thầu. Nhưng bây giờ nó lại được gắn vào việc bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, đủ thấy thực trạng chạy chức, chạy quyền, chạy đủ thứ trong hệ thống đang ở mức nào; đủ thấy niềm tin của người dân đối với một bộ phận cán bộ hao hụt ra sao? (trang 202).
Và đoạn “Chạy chức, chạy quyền là cả một nghệ thuật. Có chỗ không biết lối tiếp cận, còn phải thuê cả “chân gỗ” dẫn đường, chắp mối. Nghĩ mà nản vô cùng. Không bon chen vào “chốn quan trường” có khi còn nhàn hạ, tĩnh tâm”,...
Từ các ngôn ngữ chính luận ấy, người đọc nhận thấy trong tiểu thuyết “Tơ Vò”, để mềm hóa ngôn ngữ chính luận, Nhà báo Vũ Xuân Bân đã khéo léo dùng rất nhiều từ ngữ đặt trong dấu ngoặc kép với dụng ý mỉa mai, châm biếm sâu cay nhằm nhấn mạnh quan điểm của bản thân về một vấn đề nào đó, như: “thượng đế”, “sân sau”, “phó tư lệnh”, “đầu gà”, “nuốt”, “bưng", “bê", “kê”, đặt”, “nhị phẩm”, “đấu thầu” ghế, “đấu thầu” cán bộ, “cậu cháu”, “chân gỗ”, “mua ghế”, “quan lộ”, “lấy lỗ làm lãi”,...
Việc dùng nhiều từ ngữ đặt trong dấu ngoặc kép đã làm cho ngôn ngữ chính luận không còn khô khan, người đọc không còn nhàm chán, luôn được hiểu thêm về vốn từ với các lớp nghĩa mới, cách hiểu mới. Có người cho rằng việc dùng nhiều từ ngữ đặt trong dấu ngoặc kép trong tác phẩm, liệu Nhà báo Vũ Xuân Bân có lạm dụng việc sử dụng này không? Theo quan điểm cá nhân của tôi, việc Nhà báo Vũ Xuân Bân dùng nhiều từ ngữ được đặt trong dấu ngoặc kép không phải là “lạm dụng”, mà ngược lại, đó lại là một dụng ý nghệ thuật của nhà báo nhằm châm biếm, đả kích sâu cay về một hiện tượng, hoạt động trái với quy luật của tự nhiên, của cuộc sống, của nhân vật và giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về quan điểm, tư tưởng của tác giả trong nhân sinh quan đời sống, cụ thể là những thói hư tật xấu, tham ô, chạy chức chạy quyền, đấu giá “ghế” của một bộ phận những người có chức, có quyền, có tiền.
Bên cạnh việc sử dụng dày đặc những từ ngữ được hiểu theo nghĩa đặc biệt, Nhà báo Vũ Xuân Bân còn cho thấy sự dụng công đáng chú ý trong việc vận dụng sáng tạo hệ thống thành ngữ, tục ngữ vào tiểu thuyết Tơ Vò. Theo thống kê chưa đầy đủ, tác giả đã sử dụng tới 214 câu thành ngữ, tục ngữ, trong đó thành ngữ chiếm số lượng áp đảo, thậm chí có những câu được lặp lại đến ba lần. Con số này không đơn thuần là sự ngẫu hứng ngôn từ mà phản ánh rõ một ý thức nghệ thuật và tư tưởng nhất quán trong cấu trúc ngôn ngữ tác phẩm.
Trước hết, việc sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ cho thấy Nhà báo Vũ Xuân Bân chủ động kéo ngôn ngữ đời sống, đặc biệt là lời ăn tiếng nói dân gian vào trong diễn ngôn tiểu thuyết giúp cho câu văn trở nên gần gũi, giàu sức gợi hình, gợi cảm, bởi, thành ngữ, tục ngữ vốn là kết tinh của trí tuệ cộng đồng, mang tính hàm súc cao, giàu hình tượng và khả năng khái quát đời sống. Khi đưa vào Tơ Vò, chúng không chỉ làm cho câu văn thêm cô đọng, sắc nét mà còn tạo ra chiều sâu văn hóa cho tác phẩm. Người đọc không chỉ tiếp cận một câu chuyện hay một lập luận mà còn bắt gặp cả bề dày kinh nghiệm sống của dân gian, của truyền thống văn hóa Việt Nam, như: “Con quan rồi lại làm quan”, “chưa biết mèo nào cắn mỉu nào”, “ngậm bồ hòn làm ngọt”, “thánh nhân đãi kẻ khù khờ”, “miệng nhà quan có gang có thép”, “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”,...
Đồng thời tác giả cũng rất thành thạo trong việc sử dụng thành ngữ cải biến, sáng tạo. Thành ngữ cải biến khác với thành ngữ gốc ở chỗ nó bị đảo ngược so với thành ngữ gốc đã được sử dụng phổ biến nhưng vẫn giữ được ý nghĩa nguyên sơ, đồng thời tăng tính sinh động, gợi cảm của thành ngữ, như: “Thần tính nhát thần hồn” (câu gốc: thần hồn nhát thần tính”, “Cái kim trong bọc sẽ có ngày lòi ra” (câu gốc: “Cái kim trong bọc lâu cũng có ngày lòi ra.”, “Tấc đất ở đây là tấc vàng” (câu gốc: tấc đất, tấc vàng), “Tâm đồng ý hợp”, (câu gốc: tâm đầu ý hợp”, “sống dở khóc dở” (câu gốc: "Sống dở chết dở"). Ở phương diện này gợi cho tôi nhớ đến một số tác phẩm văn học của Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện rất rõ trong tác phẩm “Lỡ mùa”, “Bến đò xóm Miễu”, “ Chiều vắng”, “Biển người mênh mông”,...cũng dùng thành ngữ cải biến tương tự.
Điều đó cho thấy, thành ngữ giúp lời văn của Tơ Vò có sức gợi lớn và độ “đằm” của khẩu ngữ. Nhiều vấn đề xã hội, nhiều xung đột quyền lực, nhiều mưu toan đời thường nếu diễn đạt bằng thứ ngôn ngữ thuần lý trí sẽ dễ trở nên khô cứng khiến người đọc khó chấp nhận. Nhưng qua lớp áo thành ngữ, tục ngữ, chúng trở nên mềm mại hơn mà vẫn giữ nguyên sức nặng phê phán. Một câu thành ngữ đôi khi thay cho cả một đoạn diễn giải dài, vừa tiết kiệm ngôn từ vừa tạo hiệu ứng liên tưởng mạnh trong lòng người đọc. Đây là thủ pháp khiến ngôn ngữ chính luận trong tiểu thuyết không khô cứng như một văn bản nghị luận, mà mang hơi thở đời sống thường nhật, gần gũi với tâm thức tiếp nhận của công chúng.
Việc một số thành ngữ được lặp lại nhiều lần cũng không phải sự trùng lặp đơn giản. Đó có thể là chủ ý nhấn mạnh, tạo ám ảnh ngữ nghĩa, khiến những vấn đề trung tâm của tác phẩm được khắc sâu trong ý thức người đọc. Sự lặp lại ấy giống như một điệp khúc tư tưởng, vừa định vị thái độ của tác giả vừa tạo nhịp điệu riêng cho văn bản.
Đặc biệt, khi phối hợp hệ thống thành ngữ, tục ngữ với những từ ngữ được hiểu theo nghĩa đặc biệt, Nhà báo Vũ Xuân Bân đã tạo nên một kiểu ngôn ngữ đa tầng. Từ ngữ nghĩa đặc biệt mang tính ẩn dụ, hàm chỉ, nhiều khi chứa sắc thái châm biếm, mỉa mai hoặc phản biện; trong khi thành ngữ, tục ngữ lại cung cấp nền tảng văn hóa, tính xác tín dân gian. Sự kết hợp này khiến ngôn ngữ chính luận trong Tơ Vò vừa sắc bén, giàu khả năng công kích, vừa thâm trầm và có sức thuyết phục. Nó tạo nên chất “chính luận nghệ thuật” – nghĩa là bàn chuyện xã hội, con người, quyền lực bằng một ngôn ngữ giàu hình tượng và tính văn hóa.
Có thể nói, dùng nhiều thành ngữ, tục ngữ trong Tơ Vò không phải để phô diễn vốn ngôn ngữ mà là một chiến lược nghệ thuật. Qua đó, Nhà báo Vũ Xuân Bân đã làm cho ngôn ngữ tiểu thuyết vừa mang tính trí tuệ, phản biện, vừa neo chặt vào mạch nguồn ngôn ngữ dân gian dân tộc. Đây chính là một trong những yếu tố làm nên bản sắc ngôn ngữ riêng của Tơ Vò.
Ngôn ngữ nhân vật
Bên cạnh việc vận dụng ngôn ngữ người kể chuyện linh hoạt, sáng tạo, đậm chất phê phán hiện thực cuộc sống thì một trong những đặc điểm nổi bật của “Tơ vò” là tính điển hình hóa nhân vật. Mỗi nhân vật không chỉ mang cá tính riêng mà còn đại diện cho một kiểu người trong xã hội chuyển đổi: quan chức biến chất, doanh nhân trục lợi, kẻ cơ hội, người dân lương thiện,…Ngôn ngữ nhân vật, vì thế, được tổ chức theo nguyên tắc cá thể hóa – xã hội hóa đồng thời. Nghĩa là, mỗi nhân vật có giọng nói riêng (cá thể hóa) nhưng giọng nói ấy lại phản ánh một tầng lớp, một kiểu hành vi xã hội (xã hội hóa). Ở đây, người viết tập trung vào lớp nhân vật quyền lực với ngôn ngữ quan liêu, mệnh lệnh, đầy ẩn ý, nước đôi và mang tính “mật mã quyền lực”. Trong tiểu thuyết “Tơ vò”, những nhân vật như quan chức, “đại gia”, hay những kẻ đứng trong guồng máy quyền lực thường sử dụng một kiểu ngôn ngữ đặc biệt: ngôn ngữ hợp thức hóa cái sai, biến những hành vi cá nhân thành “quy trình”. Đây chính là biểu hiện của một hiện tượng xã hội mà tác phẩm “Tơ vò” tiếp tục phản ánh: sự hình thành các “nhóm lợi ích”, các “dây tham nhũng” với những thủ đoạn tinh vi và ngôn ngữ riêng.
Trong kết cấu của tiểu thuyết chính luận – hiện thực phê phán, ngôn ngữ nhân vật không đơn thuần là phương tiện giao tiếp mà là “mã đạo đức”, nơi bản chất, tâm thế và hệ giá trị của từng con người tự bộc lộ. Ở hệ thống nhân vật quan chức trong tác phẩm này, tác giả đã rất thành công khi để họ “tự khai” bằng chính lời nói của mình. Không cần nhiều lời bình luận ngoại đề, chỉ qua những phát ngôn mang tính khẩu ngữ, trần trụi, nhiều khi tục tằn, tham lam và trịch thượng, bản chất tha hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ quyền lực hiện lên đầy sắc nét. Ở đây xin đề cập đến một số nhân vật tiêu biểu trong tiểu thuyết “Tơ Vò” để qua đó chúng ta thấy rõ sự tha hóa biến chất của một bộ phận cán bộ lãnh đạo trong cơ quan công quyền.
Trước hết, chúng ta sẽ đề cập đến Trương Tồn – chân dung kẻ nghiện quyền lực và tha hóa đến tận cùng. Trong suốt chiều dài của tác phẩm, Trương Tồn nổi lên là một nhân vật điển hình tiêu biểu của sự ganh đua, chạy chức chạy quyền của không ít cán bộ đảng viên có chức có quyền. Đây là một nhân vật tiêu biểu cho bi kịch tha hóa quyền lực. Trong các nhân vật của tiểu thuyết Tơ Vò, Trương Tồn là người có nhiều phát ngôn nhất. Hầu hết phát ngôn của nhân vật này đều xoay quanh hai trục: quyền lực và lợi ích. Câu nói: “Có quyền là có tiền, có tình là có tất cả”, “Mất quyền thì chả có ma nào nhòm ngó” là một tuyên ngôn sống lạnh lùng, thực dụng đến trơ tráo. Ở đây, quyền lực không còn là công cụ phục vụ nhân dân mà trở thành “tư bản chính trị” để đổi lấy tiền bạc, quan hệ và hưởng thụ. Cụm từ dân gian “chả có ma nào nhòm ngó” khiến phát ngôn càng lột tả tâm thế cay cú, hoài nghi và thực dụng tuyệt đối.
Đặc biệt, ngôn ngữ của Trương Tồn dày đặc các từ ngữ mang sắc thái âm mưu, thao túng, đấu đá quyền lực như: “điểm huyệt”, “rung cây dọa khỉ”, “đảo ngược thế cờ”, “dạy cho chúng nó một bài học nhớ đời”. Đây là hệ thống từ vựng vốn thuộc trường nghĩa mưu kế, võ thuật, đấu trường chính trị ngầm. Nó cho thấy trong nhận thức của Trương Tồn, chính trường không phải nơi cống hiến mà là chiến địa quyền lực, kẻ nào mạnh kẻ đó thắng, kẻ nào nhiều mưu mô xảo trá, thâm độc kẻ đó sẽ có quyền lực, mà có quyền thì ắt có tiền và có tình.
Xin điểm sơ một số câu nói của Trương Tồn: Trương Tồn vỗ ngực nói rằng: “Đáng nhẽ tôi phải là bí thư, ít nhất là làm Chủ tịch khóa này nhưng vì anh Phạm Vấn và anh Ngọc Hồn lớn tuổi hơn nên tôi phải nhường các vị”.
“Thời buổi này, việc chạy chức chạy quyền đều sôi động, luôn “nóng” . Cơ chế thị trường, chẳng ai cho không ai cái gì, nhất là chen chân vào chốn quan trường tranh giành “ghế nóng””.
“Tôi đang là Phó bí thư thường trực, đã kinh qua nhiều chức vụ , tích lũy được nhiều kinh nghiệm, nếu bố trí giữ cương vị chủ tịch tỉnh sẽ phát huy tốt trí tuệ, tài năng...”
“Do tao thông minh, sáng suốt, lấy “bà chị” hơn tuổi, làm lại hồ sơ nên mới được làm Phó Giám đốc công ty, từ đó làm bàn đạp cho con đường công danh sau này. (Phó giám đốc công ty quản lý công trình đô thị tỉnh lớn)”.
“Nếu Bí thư Phạm Vấn quyết chọn anh Lôi Vũ làm Trưởng Ban tổ chức thì từ nay họp thường trực, thường vụ đừng mời tôi nữa”.
“Cứ nói là thường trực tỉnh ủy nhưng tôi có quyền gì đâu. Toàn anh Phạm Vấn là Bí thư, anh Ngọc Hồn là Phó Bí thư kiêm Chủ tịch tỉnh quyết hết. Tôi phải nghe theo!”
Và khi nói: “Đã không được thay Trần Bố làm Bí thư thì thay Thạch Phí làm Chủ tịch! Được vị trí đó cũng oai ra phết, sẽ lại có lắm kẻ hầu người hạ”, đã cho ta thấy Trương Tồn đã phơi bày thứ tâm lý háo danh, hám quyền lực thô thiển. Từ “oai” và cụm “kẻ hầu người hạ” nghe rất đời thường nhưng lại cực kỳ đắt giá. Nó cho thấy mục tiêu làm lãnh đạo không phải trách nhiệm mà là đặc quyền đặc lợi được sai khiến người khác và “kẻ hầu người hạ” ở đây không thể hiểu là những người giúp việc nhà bưng bê bát cơm, li nước, mà phải được hiểu đó là lắm kẻ cung phụng tiền, đô la, vàng, gái,...cho Trương Tồn. Ở đây, có lẽ Trương Tồn hiểu, làm “phó như chó giữ nhà” suốt ngày bị sai khiến, giúp cho trưởng mà chẳng được “sơ múi” gì nên Trương Tồn “khát” vị trí “đầu gà”, “số 1” nên quyết không từ kế bẩn, mưu hèn đấu đá triệt hạ đối thủ để hưởng lợi cho bản thân.
Đến câu: “Về hưu coi như là hết. Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn!”, nhân vật lộ rõ bi kịch tinh thần của kẻ đồng nhất giá trị bản thân với chiếc ghế. Hình ảnh “hùm thiêng” vốn biểu tượng cho quyền uy, nhưng đặt cạnh “sa cơ cũng hèn” tạo ra nghịch lý chua chát: quyền lực càng lớn, nỗi sợ mất quyền càng dữ dội. Đáng chú ý, Trương Tồn còn sử dụng ngôn ngữ đe dọa pháp luật như công cụ trả thù cá nhân: “Sẽ cho khởi động vụ án quyết toán hai công trình BT nếu không có được vị trí chủ chốt”. Câu nói này đặc biệt nguy hiểm bởi nó biến công lý thành con bài mặc cả chính trị. Và đúng như lời đe dọa, Trương Tồn đã lôi cả thân phụ của mình nguyên là Bí thư tỉnh ủy ở cái tuổi gần đất xa trời vào cuộc đấu đá “ghế” của cậu con trai - hạt giống đỏ - đã hư hỏng từ khi còn nhỏ, nhờ có cha nâng đỡ, bao che mà thoát khỏi các kiếp nạn để leo lên đỉnh cao của quyền lực, để rồi âm mưu ấy bị thất bại thảm hại kéo theo sự tụt dốc không phanh của Trương Tồn trên con đường “quan lộ”.
Từ ngôn ngữ của Trương Tồn, ta nhận thấy ngôn ngữ của nhân vật này có ba lớp đặc trưng: Ngạo mạn tự phụ: “Đáng nhẽ tôi phải là bí thư…”; cay cú bất mãn:“Phiếu thấp là do tôi bị đánh…”; đe dọa quyền lực: “Cho hắn vào nhà đá bóc lịch”. Chính sự lặp đi lặp lại của trường từ vựng quyền lực cho thấy Trương Tồn là mẫu nhân vật nghiện quyền, coi quyền lực là lẽ sống của bản thân chứ không phải “vì nước quên thân, vì dân phục vụ”.
Khác với nhân vật kể trên, Trần Bố lại là kiểu nhân vật khác – một lãnh đạo thực dụng và cơ chế chia chác. Ở nhân vật Trần Bố không có nhiều lời trực tiếp, chỉ qua lời nhận xét của giới doanh nhân: “Sếp Trần Bố là lãnh đạo rất biết ăn, rất biết chia. Đi với sếp thì tiêu pha nhiều nhưng vẫn được lợi…”. Cụm “biết ăn, biết chia” cực kỳ sắc lạnh. Nó biến tham nhũng thành nghệ thuật cân bằng lợi ích. Không phải “ăn một mình” mà là cùng chia phần, tạo thành mạng lưới đồng lợi ích. Ngôn ngữ này phản ánh dạng quyền lực tinh vi hơn: không hung hăng nhưng cực kỳ nguy hiểm, vì biết duy trì hệ sinh thái lợi ích mà người đời thường nói “lợi ích nhóm”, “ăn đồng chia đủ” và khi bị phát hiện thì “chết cả chùm”. Ở đây, Trần Bố tinh vi hơn, “cáo” hơn những người khác nên lọt qua nhiều “nạn tai” của bản thân.
Sự thẳng thừng mang màu sắc đấu đá lại là ngôn ngữ “đặc trưng” Nguyễn Chút. Nguyễn Chút có kiểu ngôn ngữ bộc trực nhưng đầy tính đấu tranh phe nhóm. Câu: “Ông đã để lại nhiều tàn tích quá, tôi có làm chủ tịch tỉnh cũng không dọn dẹp được”. Ở đây, từ “tàn tích” rất đắt. Nó biến di sản quản trị thành đống đổ nát. Đặc biệt: “Nếu giới thiệu Thạch Phí làm bí thư… tôi sẽ nói hết” là phát ngôn mang tính đe dọa chính trị. Nó cho thấy thông tin, bí mật và sai phạm trở thành vũ khí mặc cả, điều đó cho thấy, Nguyễn Chút không trong sạch tuyệt đối mà vẫn vận hành trong logic quyền lực, nhưng ẩn đằng sau đó là tham vọng lớn của Nguyễn Chút, ai cũng biết nhưng không làm gì được, bởi Nguyễn Chút đã nắm được điểm yếu của đối thủ để biến thành lợi thế của mình, ép người khác phải nghe mình, nếu không thì “ăn không được thì đạp đổ”.
Hoàng Trương Cù – triết gia của đồng tiền và dục vọng. Hoàng Trương Cù là nhân vật có hệ thống phát ngôn thể hiện rõ sự tha hóa vật chất “Có tiền mua tiên cũng được” là tục ngữ quen thuộc nhưng đặt trong ngữ cảnh này thành triết lý sống lệch chuẩn. Đỉnh điểm là: “Nếu có thứ gì không thể mua bằng tiền thì vẫn có thể mua bằng rất nhiều tiền”. Câu nói gần như một bản tuyên ngôn chủ nghĩa vật chất cực đoan. Ngôn ngữ nhân vật đầy ám ảnh bởi tiền: tiền mua quyền lực, mua sự phục vụ, mua nhân phẩm. Câu: “Sống trên đời này mà không có tiền, không danh phận thì khác gì con trâu, con bò” bộc lộ sự phi nhân hóa con người. Giá trị nhân cách bị thay bằng địa vị. Ở Hoàng Trương Cù, tha hóa không chỉ là tham nhũng mà còn là suy đồi nhân sinh quan.
Phạm Vấn – giọng điệu quyền lực mang tính thể chế. Khác với Trương Tồn, Phạm Vấn sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực hơn: “Theo đúng quy chế… tôi sẽ báo cáo trung ương…”. Bề mặt ngôn ngữ mang tính quy phạm, thể chế, đúng quy trình. Tuy nhiên, ẩn dưới đó là quyền năng kiểm soát nhân sự “khôn sống, mống chết”, phải biết ngoan ngoãn, nghe lời, phải biết phục tùng “điếu đóm” thì mới qua “ải” được, còn nếu có tình chống đối thì chỉ có rước họa vào thân. Câu: “Tuy bị kỷ luật nhưng không phải vào nhà đá bóc lịch… thế cũng còn may” mang sắc thái vừa răn đe vừa lạnh lùng. Thành ngữ “nhà đá bóc lịch” khiến phát ngôn gần dân gian nhưng vẫn đầy uy lực. Phạm Vấn đại diện cho kiểu quyền lực tỉnh táo, không bộc lộ thô bạo nhưng rất sắc lạnh.
Hà Hóa – tiếng kêu cay đắng của kẻ thất thế với câu than: “Tôi già thế này mà cả 3 năm làm phó chủ tịch tỉnh, chỉ cầm buồi cho thằng khác đái!” gây sốc bởi tính khẩu ngữ tục diện. Ngôn ngữ thô ráp này phản ánh nỗi uất ức của kẻ có chức mà không có thực quyền. Chính sự dung tục làm câu nói chân thực và phơi bày mặt tối nội bộ quyền lực.
Tư Túc và kiểu nhân vật hai mặt. Bề ngoài, Tư Túc nói rất chuẩn mực: “Bất kể ai, nếu sai phạm sẽ xử lý nghiêm minh…” Đây là ngôn ngữ chính luận, khuôn mẫu. Nhưng đối lập hoàn toàn là câu: “Đời em được làm phó chủ tịch tỉnh thế là không mong ước gì nữa… em chỉ lo phục vụ anh.” Một bên là nguyên tắc, bên kia là lệ thuộc cá nhân. Sự đối lập này tạo nên chân dung cơ hội chính trị.
Phụng Thiên – bi kịch hậu quyền lực với phát ngôn sau nghỉ hưu đầy cay độc: “Đứa nào dám kiểm tra? Bỏ tù hết.”. Đây là phản xạ quyền lực đã ăn sâu vào vô thức, bởi lúc còn tại vị, Phụng Thiên đã lợi dụng vị trí, quyền lực của mình để tự tung tự tác gây ra nhiều vụ “trời không dung, đất không tha” và khống chế cấp trên, đồng chí của mình để phục vụ cho nhu cầu cá nhân và người thân của mình. Chẳng thế mà, trong cuộc đối thoại với vợ của mình, vợ hắn nói: “Bây giờ ông nghỉ hưu, hết thời rồi”, đó là nhát dao chạm đúng bi kịch của mọi quan chức sống bằng hào quang chức vụ. Câu: “Đến con chó nhà này nó còn cãi lại ông đấy” mang tính giễu nhại sâu cay. Quyền lực mất đi, uy quyền cũng tan biến. Câu mắng của Phụng Thiên khi cãi nhau với vợ “A! Con này láo. Mày dám bóc mẽ tao à!” đã phơi bày cái bản chất của Phụng Thiên khi còn đương chức, đương quyền trong việc khống chế người khác bằng các thủ đoạn để mưu cầu lợi ích cá nhân, chèn ép người khác vào tù, thăng tiến “thần tốc” vợ từ một giáo viên leo lên tỉnh ủy viên đứng đầu một Hội.
Và cái hậu quả của những việc làm “bẩn thỉu”, "thất đức" của Phụng Thiên đã thể hiện rất rõ trong câu cãi của vợ hắn “Ơ cái ông này. Ông tưởng mình là ai. Bây giờ ông nghỉ hưu, hết thời rồi.... Ông xem bây giờ đi ăn cỗ cưới có thằng nào cấp dưới của ông ngày xưa thèm ngồi với ông không? Thật đau!
Và một phát ngôn khác – sự tha hóa mang tính hệ thống, đó là câu nói của vị Phó ban tổ chức huyện ủy: “Không cần có hồ sơ, chúng tôi vẫn bổ nhiệm bình thường!” là phát ngôn ngắn mà rợn người. Nó cho thấy quy trình bị vô hiệu hóa trắng trợn vì lợi ích của một số cán bộ tha hóa. Vì lợi ích của người nhà lãnh đạo (và cũng là lợi ích của mình), họ bất chấp quy định của Đảng về quy trình kết nạp Đảng hay bộ máy chính quyền bị tê liệt, bị thâu tóm dưới quyền hành của bí thư huyện ủy? Có lẽ là cả hai. Chỉ đến khi Bí thư tỉnh ủy mới chỉ đạo thì sự việc mới được sáng tỏ. Đây cũng là điểm “sáng” thắp lên niềm tin của nhân dân vào sự nghiêm minh của pháp luật đối với những sai phạm cần được giải quyết dứt điểm, tránh tạo dư luận xấu, mất niềm tin của nhân dân.
Với một vài cảm nhận nêu trên, tôi nhận thấy thành công nổi bật của Nhà báo Vũ Xuân Bân là để nhân vật tự lột mặt nạ bằng ngôn ngữ. Từ Trương Tồn, Hoàng Trương Cù, Ngô Quyên đến Phụng Thiên, mỗi người có một giọng điệu riêng nhưng cùng gặp nhau ở điểm chung: quyền lực bị vật chất hóa, đạo đức bị công cụ hóa, con người bị tha hóa. Cùng với đó, ngôn ngữ trong tác phẩm giàu tính khẩu ngữ, dân gian, tục ngữ, thành ngữ, tiếng lóng chính trị và cả lời ăn tiếng nói đường phố. Chính sự pha trộn ấy tạo nên độ chân thực cao, khiến thế giới quan chức hiện lên không bóng bẩy mà trần trụi, nhếch nhác, đầy toan tính.
Qua ngôn ngữ, người đọc nhận ra sự tha hóa của quyền lực, nỗi đau của con người, sự phức tạp của đời sống hiện đại. Ở đó, lời nói không còn vô tội. Mỗi câu chữ đều mang dấu vết của lợi ích, đạo đức và cả sự giằng xé nội tâm. Có thể nói, bằng việc tổ chức một hệ thống ngôn ngữ đa tầng, đa giọng điệu, Nhà báo Vũ Xuân Bân đã biến “Tơ vò” thành một bản đồ ngôn ngữ của xã hội đương đại – nơi con người không chỉ hành động trong các mối quan hệ chằng chịt, mà còn bị “mắc kẹt” trong chính những lời nói của mình.
Có thể thấy rằng, qua hệ thống ngôn ngữ sắc lạnh ấy, tiểu thuyết “Tơ Vò” không chỉ phê phán cá nhân mà còn cảnh báo về nguy cơ tha hóa quyền lực khi thiếu kiểm soát, thiếu minh bạch và thiếu nền tảng đạo đức công vụ. Đây chính là giá trị hiện thực và sức nặng tư tưởng nổi bật của tác phẩm, tái hiện được “hơi thở thời sự” trong từng lời thoại mà còn là chìa khóa để hiểu toàn bộ thế giới tác phẩm.