
Chúng tôi tụ họp về đây để thắp nén hương tưởng nhớ ông ngoại tôi – Cụ Vương Văn Nghệ (1904 – 1976). Với nhiều người trong vùng Yên Thế xưa, ông không chỉ là một người nông dân mẫu mực, mà còn là Chủ nhiệm hợp tác xã đầu tiên của vùng, người đã cùng bà con bước qua những năm tháng gian khó của thời kỳ xây dựng nông thôn mới sau hòa bình.
Năm nay, là ngày giỗ ông tròn 50 năm. Điều trùng hợp là cũng đúng nửa thế kỷ kể từ ngày tôi nhập ngũ, bắt đầu cuộc đời người lính và lần lượt khoác lên mình hai màu áo: Quân đội nhân dân và Công an nhân dân...
Mỗi khi nhớ lại quãng đời đã qua, hình ảnh ông ngoại lại hiện lên rất rõ trong tâm trí tôi: một con người từng trải qua nhiều bước ngoặt của lịch sử: từ người lính trong quân đội Pháp, một người buôn bán giàu có, đến một người nông dân gánh đất, cấy lúa trên cánh đồng Yên Thế; từ một địa chủ nổi tiếng đến một cán bộ hợp tác xã giản dị giữa làng quê.
Cụ Vương Văn Nghệ - Người "địa chủ kháng chiến" nổi tiếng một thời.
Cuộc đời ông ngoại tôi giống như một lát cắt của lịch sử nông thôn Việt Nam thế kỷ XX. Những ký ức về ông ngoại vì thế luôn hiện lên rất rõ trong tôi – không chỉ là hình ảnh của một người ông hiền từ, mà còn là biểu tượng của một thế hệ người Việt Nam đã đi qua những biến động lớn của lịch sử; sống trọn nghĩa với đất nước và để lại cho con cháu những giá trị bền bỉ về nhân cách và truyền thống gia đình.
Ông ngoại tôi quê ở An Vĩ, huyện Khoái Châu (cũ), tỉnh Hưng Yên. Nhà nghèo, bố mất sớm, mẹ đi bước nữa, từ nhỏ ông đã phải đi ở cho nhà giàu để kiếm sống. Tuổi thơ vất vả nhưng lại rèn cho ông ý chí tự lập và tinh thần ham học. Đến tuổi thanh niên, ông bị thực dân Pháp bắt đi lính.
Vốn thông minh và có ý chí vươn lên, ông tự học chữ quốc ngữ, tiếng Pháp và cả tiếng Quảng Đông. Nhờ đó, ông nhiều lần được cấp trên chú ý. Ông từng hai lần được cử sang Cộng hòa Pháp: lần thứ nhất để tham dự Đại hội Thể dục thể thao của quân đội các nước thuộc địa; lần thứ hai được cử đi đào tạo nghiệp vụ để trở thành Cai đội hậu cần (tương đương hạ sĩ quan ngày nay).
Thời trai trẻ, ông từng làm Cai thầu cung cấp hậu cần có uy tín cho quân đội Pháp tại Quảng Ninh. Gia đình ông ngoại tôi khi ấy còn độc quyền ty rượu ở một số thị xã, nên kinh tế khá giả, thậm chí giàu có. Người trong vùng quen gọi ông bằng cái tên thân mật: “Cụ Cai Nghệ”.
Đầu thập niên 1940, vì bất đồng chính kiến với chính quyền thực dân, ông xin giải ngũ. Gia đình ông bà ngoại tôi chuyển về xóm Đoài, làng Mật Ninh, xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (cũ) sinh sống. Với tài buôn bán và làm ăn, ông nhanh chóng trở thành một địa chủ có tiếng trong vùng.
Nhưng sự giàu có ấy không làm ông quên những người nghèo khổ quanh mình. Trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, gia đình ông bà tôi đã nhiều lần tổ chức phát chẩn cứu giúp dân nghèo. Đó là những nghĩa cử mà bà con trong vùng vẫn còn nhắc lại nhiều năm sau.
Từ trước Cách mạng Tháng Tám 1945, ông tôi đã tham gia hoạt động cách mạng. Tuy nhiên, vì từng làm “Cai” cho Pháp nên mãi đến tháng 1 năm 1946 ông mới được kết nạp vào Đảng Cộng sản.
Những năm 1946–1947, khi cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn gian nan, ông ngoại tôi đã quyết định bán ruộng, lấy tiền mua vũ khí trang bị cho cả Tiểu đoàn Á Lữ của ông Biền Sơn và nuôi bộ đội của đơn vị này nhiều tháng trời. Tài sản gia đình vì thế dần dần khánh kiệt.
Cũng chính nhờ những đóng góp đó, mà sau này trong thời kỳ "Cải cách Ruộng đất", ông tôi thoát khỏi án tử hình trong gang tấc và chỉ bị quy thành phần địa chủ trong hai tháng. Một chi tiết thú vị của lịch sử gia đình tôi là: cha tôi khi ấy làm Đội trưởng "Cải cách ruộng đất" và đã nên duyên với mẹ tôi – con gái của một “địa chủ kháng chiến”. Anh em chúng tôi sau này chính là kết quả của mối lương duyên đặc biệt ấy.
Năm 1947, ông ngoại tôi từng theo học 6 tháng tại Trường Quân chính Trần Quốc Tuấn – nơi đào tạo cán bộ chính trị cấp Tiểu đoàn cho kháng chiến. Nhưng vì gia đình đông con, hoàn cảnh khó khăn, ông xin trở về làm công tác quân sự địa phương.
Năm 1949, gia đình ông tôi tản cư lên ấp Đồng Điều, Yên Thế – nơi khi ấy là một phần của Chiến khu Việt Bắc, cũng là nơi sau này tôi đã sinh ra và lớn lên. Từ một người từng nổi tiếng giàu có ở Bắc Ninh, vì mang gần như toàn bộ gia sản ủng hộ kháng chiến, ông tôi phải chuyển sang làm ruộng và gánh thuê để nuôi gia đình.
Người Chủ nhiệm Hợp tác xã đầu tiên của vùng Yên Thế xưa.
Hòa bình lập lại, với uy tín và nhân cách của mình, ông ngoại tôi được bà con tín nhiệm bầu làm Chủ nhiệm Hợp tác xã đầu tiên của vùng Yên Thế xưa – một trong những hợp tác xã được thành lập sớm trong khu vực. Ở cương vị ấy, ông luôn quan niệm rằng người đứng đầu phải làm gương. Vì vậy ông không nề hà bất cứ công việc gì: cấy lúa, gặt hái, gánh phân, làm đồng… Ông sống đúng nghĩa như một người nông dân lao động.

Những năm đầu hòa bình lập lại ở vùng Yên Thế, việc xây dựng hợp tác xã nông nghiệp là một bước chuyển lớn của đời sống làng quê. Trước đó, người nông dân quen làm ruộng riêng lẻ, “con trâu đi trước, cái cày theo sau”, mỗi nhà một thửa ruộng, ai nấy tự lo liệu.
Khi hợp tác xã ra đời, ruộng đất được đưa vào làm chung, trâu bò được tập trung, việc cấy cày, gặt hái, thủy lợi đều tổ chức theo đội sản xuất. Đó là một thời kỳ vừa mới mẻ, vừa nhiều bỡ ngỡ đối với bà con nông dân.
Trong ký ức của những người cao tuổi trong làng, ông ngoại tôi – Chủ nhiệm hợp tác xã – luôn là người đi đầu trong mọi việc. Ông thường dậy từ rất sớm, ra đồng cùng bà con, lúc thì kiểm tra bờ vùng bờ thửa, lúc lại cùng mọi người đắp mương dẫn nước. Có những ngày mùa, ông gánh thóc, bó lúa, làm việc không khác gì những xã viên bình thường.
Người làng vẫn nói vui: “Chủ nhiệm mà tay lấm chân bùn như nông dân thì hợp tác xã mới yên.”
Thời ấy, đời sống còn nhiều thiếu thốn. Bữa cơm hợp tác xã nhiều khi chỉ có cơm độn khoai, bát canh rau tập tàng, thêm con cá đồng kho mặn. Nhưng đổi lại, không khí làng quê rất đầm ấm. Mỗi vụ mùa, tiếng mõ gọi đi làm vang lên từ đầu xóm, rồi cả cánh đồng rộn ràng tiếng cười nói, tiếng trâu kéo bừa, tiếng người gọi nhau cấy lúa.
Tư liệu về truyền thống cách mạng của thôn Đồng Điều - nơi cụ Vương Văn Nghệ từng làm
Chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp đầu tiên (phóng sự do Báo Bắc Giang cũ thực hiện).
Những đêm trăng sau ngày gặt, bà con lại tụ tập ngoài sân kho hợp tác xã để chuyện trò, uống bát nước chè xanh, nghe người biết chữ đọc báo hay kể chuyện thời sự. Ông ngoại tôi vốn thích thơ, thỉnh thoảng lại đọc vài câu thơ tự làm, khiến cả sân kho rộn lên tiếng cười.
Có lẽ chính trong không khí sinh hoạt cộng đồng giản dị ấy mà tình làng nghĩa xóm càng thêm gắn bó, và hợp tác xã – dù trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử – vẫn là một ký ức đẹp của một thời nông thôn Việt Nam.
Ông bà ngoại tôi có tới 9 người con (6 trai và 3 gái). Các cậu tôi đều đi bộ đội hoặc công tác xa. Bà ngoại tôi mất sớm vào năm Quý Sửu (1973). Vì tính tình khẳng khái và quen sống tự lập, những năm cuối đời, ông tôi thích ở một mình, không muốn phiền con cháu.
Tôi là cháu ngoại, nhưng lại được ông chọn đến ngủ cùng và chăm sóc khi ông đau ốm. Đó là những ngày từ giữa năm 1975 đến đầu năm 1976 – khi tôi vừa học xong lớp 10 và chuẩn bị nhập ngũ vào bộ đội. Ông tôi bị bệnh dạ dày nặng, thường xuyên phải uống thuốc muối.
Ông quý tôi lắm. Có một chiếc đồng hồ Poljot mỏng, mặt trắng, dây da nâu – món đồ rất sang trọng và đáng mơ ước với thanh niên thời đó – ông cũng cho tôi đeo để “diện” với bạn bè.
Ông ngoại tôi qua đời ngày 11 tháng Hai năm Bính Thìn (1976). Hôm ấy, trong lúc bối rối đạp xe đi báo tang cho họ hàng, tôi đã làm mất luôn chiếc đồng hồ quý ông vừa cho. Đó là điều khiến tôi tiếc nuối mãi về sau.
Tôi có "Gen văn chương" từ bên họ ngoại?
Trong ký ức của con cháu, ông ngoại tôi là người sống mẫu mực, liêm khiết và thanh thản. Ông đặc biệt yêu thơ và viết chữ rất đẹp. Mỗi dịp đầu xuân năm mới, ông thường tổ chức một buổi “khai bút”. Sau khi làm thơ, ông đọc cho con cháu nghe rồi nắn nót chép lên tờ giấy lớn, treo trang trọng trong nhà. Có lẽ chính từ những buổi khai bút giản dị ấy mà sau này tôi cũng yêu thơ, yêu viết lách.
Sau khi tôi nhập ngũ, theo binh nghiệp, cũng giống như ông, tôi bắt đầu làm thơ và viết báo. Có lẽ chính ông ngoại là người đã gieo vào tôi tình yêu với con chữ và ký ức gia đình. "Gen văn chương" của tôi là từ họ ngoại.

Các cậu ruột của tôi như Vương Tùng Cương và Vương Hồng Trường đều là Nhà thơ - Hội viên Hội Nhà văn. Đặc biệt, người cậu thứ 2 của tôi, Nhà báo Vương Thịnh (1934 - 2010, nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế Bộ Văn hóa - Thông tin) là người đã dịch và mang 2 tình khúc Nga nổi tiếng "Chiều Moskva" và "Đôi bờ" về Việt Nam.
Tuổi thơ của tôi gắn bó với ông ngoại nhiều hơn, bởi ông nội tôi từng theo nghĩa quân Yên Thế chống Pháp, đã mất từ khi cha tôi còn nhỏ... Vì thế, mỗi khi nhớ lại những năm tháng đầu đời, hình ảnh ông ngoại luôn hiện lên rõ ràng và ấm áp.
Bởi vậy, ngày giỗ ông ngoại tôi không chỉ là một ngày tưởng niệm, đó còn là dịp để các thế hệ trong gia đình nhắc lại câu chuyện về một con người đã trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, nhưng suốt đời sống ngay thẳng, nghĩa tình và hết lòng với quê hương.
Và có lẽ, đó cũng chính là cách để ông ngoại của tôi vẫn tiếp tục hiện diện trong đời sống của con cháu hôm nay. Thời gian trôi rất nhanh. Thấm thoát vậy mà năm nay đã tròn 50 năm ngày giỗ ông ngoại, cũng là 50 năm ngày tôi khoác áo lính và mang trong mình “Trái tim người lính”.
Dưới góc nhìn văn hóa, nửa thế kỷ đi qua, càng nghĩ tôi càng thấy rằng những gì ông ngoại tôi đã để lại cho con cháu, không phải là của cải vật chất, mà là một gia sản tinh thần quý giá: đó là lòng nhân ái với người nghèo, là nghĩa tình với đất nước, là sự liêm khiết trong cuộc sống, và là truyền thống hiếu nghĩa của một gia đình Việt Nam.
Bắc Ninh, 28/3/2026
T.T.N.L