Quảng Bình: Phát huy thế mạnh của các làng nghề truyền thống để phát triển du lịch

Hà Trương

06/12/2022 13:52

Quảng Bình là một địa phương có nhiều làng nghề truyền thống hình thành, phát triển từ xa xưa và lưu truyền cho đến ngày nay. Theo số liệu từ Sở Công thương tỉnh Quảng Bình, trên địa bàn tỉnh có 29 làng nghề, làng nghề truyền thống được công nhận.

nghe-lam-non-la-o-xa-quang-tan-thi-xa-ba-don-1670309526.jpg
 

         

           Hiện nay, tuy các sản phẩm được chế tạo theo công nghệ, kỹ thuật hiện đại đã chiếm lĩnh đa số thị trường, nhưng một số mặt hàng được sản xuất bằng thủ công do các làng nghề truyền thống làm ra vẫn được người tiêu dùng đón nhận, như các mặt hàng nón lá, chiếu cói, mây đan, các mặt hàng mỹ nghệ, các loại mặt hàng bún, bánh, rượu…

          Có thể nhận thấy rằng, nhiều đời nay, người Quảng Bình vẫn có quyền tự hào với các làng nghề truyền thống nổi tiếng của mình đã từng được cả nước biết đến. Ở khu vực giáp Đèo Ngang, Quảng Bình có các làng nghề truyền thống chế biến thuỷ hải sản ở Cảnh Dương; hai bên bờ con sông Gianh có các làng nón lá Thổ Ngoạ (ở phường Quảng Thuận), ở xã Quảng Tân, làng đan lát Thọ Đơn (ở phường Quảng Thọ), làng rèn đúc Hoà Ninh, chạm trỗ ở xã Quảng Hoà… (thị xã Ba Đồn); làng bánh đa Tân An, xã Quảng Thanh (huyện Quảng Trạch). Vào đến huyện Bố Trạch có các làng nghề đóng tàu, thuyền, chế biến thuỷ hải sản ở Lý Hoà (xã Hải Phú), nhiều làng ở xã Nhân Trạch,…Ở  thành phố Đồng Hới có các làng nghề đóng tàu, thuyền và chế biến hải sản xã Bảo Ninh,… Hai bên bờ con sông Long Đại, Nhật Lệ, ở huyện Quảng Ninh có làng nghề chổi đót Hà Kiên (xã Hàm Ninh), làng nghề khai thác chế biến hàu Phú Bình (thị trấn Quán Hàu), làng nấu rượu Võ Xá (xã Võ Ninh),... Ở vùng quê lúa An Ninh từ lâu có làng bún Đại Hữu rất phá triển, nhưng  những năm qua, do nhu cầu tiêu thụ giảm xuống, nghề này ở đây đang dần bị mai một. Nằm bên con sông Kiến Giang hiền hoà, huyện Lệ Thuỷ cũng là một vùng quê có nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng, như làng chiếu cói An Xá, làng nón lá Quy Hậu, rượu Tuy Lộc…

          Ngoài giá trị kinh tế, mang lại thu nhập cho người dân, các sản phẩm do làng nghề truyền thống làm ra còn thể hiện được tinh hoa, bản sắc văn hoá của mỗi vùng quê. Nhìn chung, từ các làng nghề gắn với những công việc, công đoạn cụ thể để làm ra những sản phẩm, một kho tàng dân ca, hò, vè và các lễ hội truyền thống cũng từ đó mà xuất hiện, bổ sung vào kho tàng văn học dân gian và những nét sinh hoạt  văn hoá phong phú của cư dân mỗi vùng.

Từ bao đời nay, cư dân làng biển Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch rất tự hào với các làn điệu hò biển khoẻ khoắn, thể hiện không khí lao động hăng say của con người nơi đây. Ngoài những câu hò thể hiện không khí lao động, những công việc liên quan đến người đi biển như buông lưới, buông câu, bắt cám… thì chính những công việc cụ thể của làng nghề, như đóng thuyền, kéo thuyền, đẩy thuyền xuống biển, hay đánh bắt cá để sản xuất nước mắm, đánh bắt ruốc để làm món mắm ruốc cũng trở thành đề tài quen thuộc đi vào nhiều bài hò biển.

Không chỉ ở làng biển Cảnh Dương, mà ở các làng biển truyền thống ở các xã Nhân Trạch (Bố Trạch), Bảo Ninh (Đồng Hới),… chính các làng nghề đóng thuyền, chế biến hải sản đã góp phần hình thành nên các lễ hội cầu ngư, lễ hội bơi trãi,… đầy tinh thần thượng võ. Theo nhiều bậc cao niên kể lại, thì lễ hội bơi trãi ở làng biển Bảo Ninh  cũng có liên quan đến nghề đóng thuyền truyền thống ở đây. Sau khi hoàn thành các công đoạn sản xuất một chiếc thuyền, các cơ sở đóng thuyền ở các thôn đều tổ chứác ccuộc đua bơi trãi thi xem thuyền của ai đóng tốt hơn, bơi nhanh hơn. Ngoài nét sinh hoạt văn hoá thể hiện tình yêu nghề nghiệp và công việc của mình, lễ hội đua bơi cũng chính là dịp để các cơ sở đóng thuyền khẳng định “thương hiệu” của mình đối với khách hàng là những gia đình ngư dân trong làng, trong xã và trong vùng. Không chỉ tồn tại và phát triển từ xa xưa, hiện nay, hàng năm, việc tổ chức hát hò biển vẫn được ngư dân các làng biển ở xã Cảnh Dương, xã Nhân Trạch, duy trì và lễ hội bơi trãi vẫn được ngư dân xã Bảo Ninh gìn giữ và tổ chức, thu hút đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước tham gia.

           Nằm phía bắc con sông Gianh, không có nhiều lợi thế về đất đai, thỗ nhưỡng và nguồn nước để phát triển các nghề trồng lúa hay đánh bắt thuỷ sản, nhưng làng Thổ Ngoạ, phường Quảng Thuận, thị xã Ba Đồn vẫn cò nền kinh tế phát triển vào loại nhất nhì ở trong vùng, chính là nhờ vào nghề làm nón truyền thống. Có lịch sử hình thành và phát triển trên 500 năm, làng Thổ Ngoạ vốn nổi tiếng khắp cả vùng vì có nhiều vị khoa bảng đỗ đạt dưới các triều đại phong kiến. Từ nghề làm nón, người Thổ Ngoạ đã có đủ tiền để chu cấp, nuôi bao thế hệ con em mình ăn học thành người và đỗ đạt cao. Và cũng chính từ các công việc quen thuộc của nghề làm nón như hái lá, phơi lá, ủi lá, xâu kim, lên khuôn, xỏ lá… từ xa xưa một kho tàng dân ca, hò vè đối đáp đã ra đời. Ngày trước, bất kể khi nào trong một ngày, cứ tụm năm, tụm ba lại với nhau để “chằm” nón, người phụ nữ Quảng Thuận lại vừa hò đối đáp nhau vừa thoăn thoắt chằm nón. Chính những câu hò, những lời đối đáp đó đã giúp họ quên đi những nỗi vất vả, mệ nhọc để làm nên những chiếc nón trắng phau, dịu dàng tô điểm thêm vẻ đẹp dịu dàng cho người phụ nữ khi đội nó trên đầu…

          Nếu như ở thị Ba Đồn, các  huyện Quảng Trạch, Bố Trạch và thành phố Đồng Hới, từ các làng nghề truyền thống, một kho tàng thơ ca, hò vè  phong phú đã ra đời, thì ở huyện Quảng Ninh, các làng nghề truyền thống chính là cái nôi để người lao động sáng tác ra nhiều câu chuyện tiếu lâm đầy giá trị, giúp cho cư dân học quên đi mệt nhọc, gian truân hơn cuộc sống, từ đó lạc quan, yêu đời hơn và hăng say hơn trong lao động sản xuất để làm ra được ngày càng nhiều những sản phẩm truyền thống có giá trị cho cuộc đời. Đến với thôn Võ Xá (xã Võ Ninh), thôn Hà Kiên (xã Hàm Ninh), thôn Đại Hữu (xã An Ninh), giời đây chúng ta cũng còn được nghe người dân trong các thôn lưu truyền được nhiều câu chuyện tiếu lâm như thế.

          Người huyện Lệ Thuỷ vốn yêu thích văn hoá, văn nghệ, nhất là những làn điệu hò khoan mượt mà, sâu lắng, cho nên ở các làng nghề truyền thống nổi tiếng như nón lá Quy Hậu, chiếu cói An Xá, hát hò khoan đã trở thành nét sinh hoạt văn hoá có từ nhiều đời nay. Vừa lao động chằm nón, dệt chiếu, các nghệ nhân ở đây vừa sáng tạo ra nhiều làn điệu hò khoan liên quan đến nghề nghiệp của mình khá hay, còn lưu truyền cho đến ngày hôm nay và được nhiều người còn thuộc, hát rất hay. Không chỉ ngày xưa, mà hiện nay khi nghề làm nón và nghề đan chiếu ở đây vẫn còn rất phát triển, thì các làn điệu hò khoan ở đây chính là những món ăn tinh thần không thể thiếu, đã và đang làm nên một “thương hiệu văn hoá” đặc sắc của người Lệ Thuỷ.

          Như vậy, có thể nhận thấy, các lành nghề truyền thống không chỉ là nơi sản xuất ra các mặt hàng, sản phẩm truyền thống bán ra thị trường giúp cư người có thêm nguồn thu nhập để duy trì cuộc sống, mà làng nghề truyền thống còn là nơi lưu giữ những nét văn hoá phong phú, độc đáo của từng vùng, miền khác nhau. Nếu chúng ta có chính sách hỗ trợ và khuyến khích phát triển hợp lý, thì các làng nghề truyền thống không chỉ tạo công ăn việc làm, thu nhập cho hàng ngàn lao động ở nông thôn, mà ở đó còn là những nơi có thể thu hút khách du lịch trong, người nước đến tham quan, tìm hiểu, góp phần đưa nền du lịch Quảng Bình ngày càng phát triển.

 “Du lịch làng nghề” không phải là cách làm mới, mà từ lâu nhiều nơi ở các tỉnh miền Bắc đã rất thành công, vừa góp phần  quảng bá được các sản phẩm truyền thống, vừa thu hút đông đảo du khách các nơi đến tham quan, tạo thêm nguồn thu nhập quan trọng cho người dân. Có nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng, nên tỉnh Quảng Bình cũng có nhiều thế mạnh để phát triển du lịch làng nghề. Tất nhiên, để thực sự khai thác được những tiềm năng to lớn này, ngoài yếu tố tự thân của các làng nghề trong việc gìn giữ, phát triển các nghề truyền thống của mình, chính quyền các địa phương liên quan cũng cần có nhiều chủ trương, chính sách đồng bộ, hợp lý để giúp các làng nghề biết khai thác những thế mạnh quan trọng này.

          Theo tôi, trước hết tỉnh Quảng Bình và các địa phương có làng nghề cần có quy hoạch, đầu tư và xây dựng các khu làng nghề truyền thống tập trung để tạo điều kiện cho các làng nghề phát triển. Ngành văn hoá cần nghiên cứu, sưu tập lại các lễ hội văn hoá, kho tàng văn học, nghệ thuật liên quan đến các làng nghề truyền thống để gìn giữ, lưu truyền và phát huy, trong điều kiện mới gắn với quảng bá để phát triển các hoạt động du lịch. Các cơ quan chức năng, cũng cần nghiên cứu, tổ chức thêm các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng phục vụ du khách cho đội ngũ những người nghệ nhân và những người trực tiếp làm việc tại các làng nghề truyền thống.

Cần tăng cường hơn nữa công tác quảng bá, tuyên truyền, giới thiệu về các làng nghề và những sản phẩm đã có chỗ đứng trên thị trường. Xây dựng được các khu nghỉ dưỡng, lưu trú ở ngay các làng nghề để phục vụ nhu cầu ăn nghỉ của du khách khi đến tham quan, trải nghiệm ở các làng nghề xa ở trung tâm.

Sau khi có đủ các điều kiện cần thiết để đưa vào khai thác các loại hình du lịch làng nghề, chúng ta có thể tổ chức thành các tour, tuyến du lịch đến các làng nghề để phục vụ du khách. Ví dụ ở khu vực gần Đèo Ngang, có thể hình thành được tour du lịch khám phá Đèo Ngang kết hợp với tìm hiểu các làng nghề truyền thống tại xã Cảnh Dương, làng Thọ Đơn, làng Thổ Ngoạ,… Để góp phần thu hút được đông đảo khách du lịch, chúng ta có thể vừa tổ chức cho du khách tìm hiểu về làng nghề, vừa tổ chức các cuộc thi cho du khách trực tiếp trải nghiệm các hoạt động của làng nghề, ví dụ như cho du khách thi nhau làm nón, thi đan lát hay thi hát hò biển,… Đến địa phương có làng nghề đóng tàu, thuyền, chúng ta cũng có thể tổ chức cho du khách tham gia cuộc thi bơi trãi trên song,… Đối với các làng nghề ở các huyện Quảng Ninh, Lệ Thuỷ, nếu biết khai thác hợp lý và hiệu quả, chúng ta cũng có thể thu hút được khách du lịch gần xa tìm đến theo những cách làm  tương tự.

          Những năm gần đây, du lịch Quảng Bình có thêm nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển sau khi Phong Nha - Kẻ Bàng được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, cùng với đó là nhiều hang động nổi tiếng thế giới đã được phát hiện. Nếu biết khai thác có hiệu quả các yếu tố văn hoá từ các làng nghề truyền thống kết hợp với di sản quần thể Phong Nha - Kẻ Bàng, các danh thắng, các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh để hình thành các tour, tuyến du lịch, thì chắc chắn rằng tỉnh Quảng Bình sẽ ngày càng thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước tìm đến để du lịch và khám phá. Vì khi đó tỉnh Quảng Bình không chỉ hấp dẫn du khách bởi có Phong Nha – Kẻ Bàng, cùng nhiều di tích, danh thắng nổi tiếng khác, mà Quảng Bình còn hấp dẫn bởi các làng nghề truyền thống độc đáo.                                                              

         

Bạn đang đọc bài viết "Quảng Bình: Phát huy thế mạnh của các làng nghề truyền thống để phát triển du lịch" tại chuyên mục Phát triển. | Hotline: 08.4646.0404 | Email: toasoan@vanhoavaphattrien.vn