Thước đo của người ăn khoẻ tính bằng số lượng bát cơm B52. Ăn khoẻ hồi ý chóng đói (do thức ăn mà Chuyên gia Liên Xô hỏi Lính Tăng chúng tôi "Chúng mày ăn cỏ à"?) nghĩa là cơm thì độn ngô khoai sắn, thức ăn tuyền rau mí "Tương cà là Gia bản". Thịt gà thịt lợn giỗ tết mới được sơi. Số người beo béo ta gặp trên đường đời, hồi đó hiếm như là Mỳ chính cánh, không điêu tẹo nào.
Chợt nhớ sau nhà tôi ở, có một gia đình 12 đứa con+bố mẹ và ông bà =16 khẩu, nấu nồi đồng 10 chừng gần 2,5Kg gạo, sới 1 lượt là vừa khoẳm. Lại thương Bà ngoại tôi con gái địa chủ Đông Triều về làm dâu làng Cót. Cháu nội ngoại nhớn tướng ra, 18-20 tuổi chứ ít đâu ăn cỗ thấy Cụ vét nồi ăn cháy ngay từ bát đầu tiên. Chúng tôi ngăn lại, Cụ cười tươi "Bà quen ăn thế rồi". Hoá ra nhà chồng nghèo, đông anh em. Cụ là chị dâu cả ngồi đầu nồi xới cơm. Lũ em luân phiên chìa bát cho chị sới tiếp... Cụ chỉ còn cháy đáy nồi ăn, bao nhiêu năm như thế thành "quen". Không chỉ bà ngoại của Tôi đâu nhá, ối các bà mẹ Việt Nam ta hay gặp "ca" này cái thời chưa xa. Tôi không bịa tý nào.
Cả nghĩ nông dân thời chiến tranh và bao cấp; ối nhà đổi gạo mới thu hoạch lấy gạo "mậu dịch" lâu niên, nấu nở dôi cơm cho lũ tàu há mồm, lau nhau lít nhít... Quả thật cái thời bao cấp, nhớ nấu cơm bằng gạo mới, nấu cơm đổ gạo vào nồi không ngoáy ngay là đóng bánh, các cụ bảo gạo mới nhiều nhựa. Giờ nấu tinh gạo mới mà sao chả thấy nhựa đâu cả? Nhớ Mẹ chịu chơi đổi 1,3kg gạo tẻ lấy 1kg gạo dự dài hạt, nấu không nở. Để cho Tôi nhớ tận giờ hương vị gạo mới và quý, cái deo dẻo cái săn săn của các hạt cơm nom như ngọc. Chợt nghĩ các Cụ nói chí phải "Của Ngọc thực ai từ". Gạo Dự, gạo Tám thơm nay chỉ còn trong ký ức? Cái sự ăn kể cũng ối chuyện, trong làng có thằng em không ăn được các món ăn màu đen (chè đỗ đen, xôi đậu đen... các cái) cô em họ bên ngoại cả đời không ăn một cọng rau nào sất, ăn là nôn ra tắp lự, đói kém cũng mặc, chỉ chan nước canh thôi. Bởi nhẽ quý cái tướng tinh sau dồi lấy chồng là con nhà giàu "cứt cá còn hơn lá rau" hà hà (giời bắt thế, mất cái sướng, may chả táo bón với trĩ lòi).
Nhà văn lính, đồng môn Đại học Cơ điện, đồng đội cùng ngày nhập ngũ, cùng D76F304B (9/1972) Nguyễn Trọng Luân đã viết tiểu thuyết nổi tiếng "Rừng đói". Chúng tôi cùng thời đã cảm nhận sâu sắc cái đói, qua từng câu Hắn viết. Chắc là thế hệ sau này đọc ngỡ ngàng, như đọc chuyện Cổ tích?. Than ôi nửa thế kỷ trôi qua, mà ối người che dấu tung tích "nhà quê" của mình. Bây giờ người ta thèm đủ thứ... Chứ ai lại "Thèm cơm lắm" như bà vợ Tôi và ối người khác. Ông anh ngoài phố cổ, nay ba nhăm nhát có dư vẫn quen lệ từ bé cho tới giờ: sới bát cơm to với đủ thức ăn, đứng tựa cửa nhà nhìn người xe qua lại thì mới xơi ngon lành và hết được. Có người cả đời không ăn hành các kiểu.
Thôi thì đủ kiểu ăn. Con người ta lạ lắm nhé, nom món nào mà dợm cổ họng, bụng nhộn nhạo là biết... à mà thôi. Chả bù cho cái thằng tôi: Phàm cái gì con người ta xơi được, tôi đều chén tuốt luốt.
Tháng Lính - nhớ thời làm Lính
Theo Chuyện quê