1. Dẫn nhập

Sau quá trình tái cấu trúc không gian phát triển vùng, Gia Lai mới không còn chỉ được nhìn nhận như một không gian cao nguyên gắn với cồng chiêng, sử thi hay văn hóa Tây Nguyên, mà đã mở rộng thành một cấu trúc liên vùng gồm núi rừng, đồng bằng và biển.
Trong cấu trúc ấy, vùng ven biển Bình Định trước sáp nhập giữ vai trò đặc biệt quan trọng như “một cửa ngõ văn hóa kết nối Tây Nguyên với biển Đông thông qua các tuyến giao thương lịch sử, đặc biệt là hành lang Đông – Tây dọc theo sông Kôn và Quốc lộ 19”. Không gian ấy không chỉ tạo nên sự liên thông về kinh tế mà còn hình thành các quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa lâu dài giữa miền thượng và miền duyên hải.
Trong hệ thống di sản ven biển ấy, các đầm phá như Thị Nại, Trà Ổ và Đề Gi nổi lên như những không gian văn hóa đặc thù, nơi hội tụ đồng thời các giá trị sinh thái, lịch sử, tín ngưỡng và sinh kế cộng đồng. Đây không chỉ là những vùng nước lợ hay hệ sinh thái thủy sinh đơn thuần, mà còn là nơi hình thành thương cảng, làng chài, bến nước, nghề cá, các tri thức khai thác tài nguyên biển và những dạng thức tín ngưỡng dân gian gắn với môi trường sông nước. Theo nhóm tác giả chuyên luận Bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa biển đảo Việt Nam, từ góc nhìn văn hóa học và nhân học sinh thái, “đầm phá có thể được xem như một không gian văn hóa sống, nơi diễn ra sự tương tác liên tục giữa con người với tự nhiên, giữa lịch sử với hiện tại và giữa ký ức cộng đồng với nhu cầu phát triển đương đại”. Đặc biệt, lịch sử khai thác và cư trú tại các vùng đầm phá vùng duyên hải Gia Lai ngày nay cho thấy sự đan xen của nhiều lớp văn hóa khác nhau.
Dấu ấn Chăm Pa còn lưu lại qua các thương cảng cổ, hệ thống địa danh và các truyền thuyết dân gian ven biển. Quá trình người Việt tiến xuống khai phá vùng duyên hải đã hình thành nên các làng ven đầm, các mô hình sinh kế dựa vào môi trường nước lợ cùng hệ thống tín ngưỡng cầu ngư, thờ cá Ông, thờ thủy thần. Bên cạnh đó, cộng đồng người Hoa trong lịch sử giao thương ven biển cũng để lại nhiều dấu vết thông qua hoạt động buôn bán, tín ngưỡng Thiên Hậu, Quan Công và mạng lưới giao lưu thương mại tại các cửa biển, đầm phá. Chính sự giao thoa Việt, Chăm và Hoa đã góp phần tạo nên chiều sâu văn hóa đa tầng cho không gian đầm phá ven biển Gia Lai ngày nay.
Tuy nhiên, trong bối cảnh đô thị hóa, phát triển du lịch và khai thác tài nguyên biển hiện nay, nhiều không gian đầm phá đang đứng trước nguy cơ bị thu hẹp, ô nhiễm hoặc bị du lịch hóa theo hướng thương mại đơn thuần. Không ít nơi chỉ được nhìn nhận như tài nguyên cảnh quan phục vụ nghỉ dưỡng, check-in hoặc khai thác thủy sản mà chưa được tiếp cận như một hệ thống di sản tổng thể. Điều này dẫn đến nguy cơ mai một tri thức bản địa, đứt gãy ký ức cộng đồng và suy giảm các hệ sinh thái tự nhiên vốn giữ vai trò nền tảng đối với đời sống cư dân ven đầm.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, nhận diện và đề xuất các định hướng bảo tồn – phát huy giá trị không gian văn hóa vùng đầm phá gắn với phát triển kinh tế di sản trở thành yêu cầu cấp thiết. Đây không chỉ là vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái mà còn là chiến lược phát triển văn hóa bền vững cho Gia Lai mới trong tương lai. Trên cơ sở khảo cứu thư tịch Hán Nôm, địa chí, tài liệu quản lý môi trường biển, tư liệu lịch sử, văn hóa và thực tiễn địa phương, bài viết hướng tới việc tiếp cận hệ thống đầm phá ven biển Gia Lai như một hệ sinh thái di sản - nơi mà các giá trị tự nhiên, lịch sử, văn hóa và cộng đồng cần được bảo tồn trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế địa phương. Theo đó, cần chuyển từ tư duy khai thác cảnh quan sang tư duy kiến tạo hệ sinh thái di sản, trong đó cộng đồng địa phương giữ vai trò trung tâm và công nghệ số đóng vai trò nền tảng trong quản trị không gian văn hóa.
2. Hệ thống đầm phá duyên hải Gia lai như một không gian văn hóa đặc thù
2.1. Không gian đầm phá trong tiến trình hình thành văn hóa vùng duyên hải Gia Lai ngày nay
Đầm phá ven biển miền Trung là “dạng địa hình chuyển tiếp giữa lục địa và biển, nơi diễn ra sự giao thoa giữa nước ngọt từ hệ thống sông ngòi nội địa với nước mặn từ biển khơi, qua đó hình thành nên hệ sinh thái nước lợ đặc trưng”. Tuy nhiên, nếu chỉ tiếp cận từ góc độ tự nhiên học hay sinh thái học thì chưa thể lý giải đầy đủ vai trò của đầm phá trong tiến trình hình thành và phát triển cộng đồng cư dân vùng duyên hải. Trên thực tế, đầm phá không đơn thuần là một thực thể địa lý mà còn là một không gian văn hóa sống, nơi con người kiến tạo nên các mô hình sinh kế, tín ngưỡng, ký ức cộng đồng và các hình thức tổ chức xã hội đặc thù gắn với môi trường nước lợ. Chính vì vậy, trong nhiều nghiên cứu hiện nay, đầm phá thường được nhìn nhận như một hệ sinh thái nhân văn, nơi tự nhiên và văn hóa cùng tồn tại trong quan hệ cộng sinh lâu dài.
Trong lịch sử cư trú của người Việt ở miền Trung, các vùng đầm phá thường là nơi hình thành làng chài, làng ven nước, bến cá, thương cảng và các tuyến giao thương đường thủy quan trọng. Không gian ấy đồng thời sản sinh nhiều dạng thức tín ngưỡng dân gian đặc thù như thờ cá Ông, thờ Nam Hải đại tướng quân, thờ thủy thần, thờ Hà Bá hay tín ngưỡng Thiên Hậu của cộng đồng người Hoa ven biển. Bên cạnh đó là hệ thống tri thức bản địa phong phú liên quan đến mùa nước, con nước, dòng chảy, thủy triều, kỹ thuật đánh bắt, chế biến và trao đổi thủy sản. Có thể nói, đầm phá chính là nơi hình thành văn hóa vùng thủy canh nước lợ – một dạng thức văn hóa đặc thù của cư dân duyên hải miền Trung.

Trong cấu trúc không gian ven biển Bình Định trước sáp nhập, hệ thống đầm phá gồm Thị Nại, Trà Ổ và Đề Gi tạo thành tam giác sinh thái – văn hóa quan trọng ở vùng duyên hải Nam Trung bộ. Đây không chỉ là ba vùng nước lớn có ý nghĩa sinh thái mà còn là những không gian lưu giữ các lớp trầm tích văn hóa kéo dài từ thời Chăm Pa đến thời Đại Việt và hiện đại. Theo nghiên cứu của các cơ quan chức năng tỉnh Bình Định (trước sáp nhập) về quản lý tổng hợp tài nguyên biển, địa phương đã triển khai nhiều nhiệm vụ điều tra, đánh giá hiện trạng và xây dựng giải pháp quản lý tổng hợp đối với đầm Thị Nại và đầm Đề Gi nhằm hướng đến phát triển bền vững, cho thấy vai trò đặc biệt của các đầm phá trong chiến lược phát triển kinh tế biển địa phương.
Trong ba không gian ấy, Thị Nại mang dáng dấp rõ nét nhất của một vùng thương cảng lịch sử. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tên gọi Thị Nại có liên hệ với Cri-Banoi, một thương cảng quan trọng của vương quốc Chăm Pa xưa. Không gian đầm Thị Nại vì thế không chỉ gắn với lịch sử giao thương đường biển mà còn phản ánh quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa Việt, Chăm và Hoa trong suốt nhiều thế kỷ. Từ thời Chăm Pa, đây đã là cửa ngõ giao thương nối miền duyên hải với vùng thượng đạo Tây Sơn thông qua hệ thống sông Kôn. “Đến thời Đại Việt, cùng với sự hình thành của cảng Quy Nhơn, không gian Thị Nại tiếp tục phát triển như một trung tâm trao đổi hàng hóa quan trọng của vùng Nam Trung Bộ”. Các cộng đồng cư dân Việt, Hoa sinh sống ven đầm đã hình thành hệ thống làng chài, miếu thờ thủy thần, lễ cầu ngư và các hoạt động thương hồ đặc trưng. Không gian này ngày nay vẫn còn lưu giữ dấu vết của các làng chài truyền thống, hệ sinh thái rừng ngập mặn, Cồn Chim và nhiều lớp ký ức văn hóa gắn với biển.
Khác với Thị Nại, đầm Trà Ổ lại mang sắc thái của một không gian đầm nội địa giàu tính ký ức. Các tài liệu địa chí cho biết, có thể Trà Ổ vốn là một vịnh biển cổ thông với biển qua cửa Hà Ra, về sau bị bồi lấp dần thành đầm nước lợ. Chính quá trình chuyển hóa địa chất ấy đã tạo nên một “hệ sinh thái đặc biệt với nhiều loại thủy sản đặc hữu như cá chình mun, cá chình bông”. Không gian Trà Ổ đồng thời còn lưu giữ nhịp sống điền dã ven đầm với nghề đánh bắt thủ công, chèo thuyền, nuôi cá và các hình thức sinh hoạt cộng đồng đặc trưng của cư dân vùng nước lợ.
Trong khi đó, đầm Đề Gi phản ánh rõ nét hơn mô hình cộng đồng sinh kế ven đầm gắn với nuôi trồng thủy sản và quản trị tài nguyên vùng bờ. Theo kết quả nghiên cứu của cho thấy từ giai đoạn 2009 – 2010, địa phương đã triển khai nhiệm vụ “điều tra, đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý tổng hợp đầm Đề Gi theo hướng phát triển bền vững”, qua đó xây dựng hệ thống dữ liệu về tài nguyên và môi trường của khu vực này. Không gian Đề Gi hiện nay không chỉ gắn với nghề cá, nuôi trồng thủy sản mà còn là nơi tồn tại các mô hình đồng quản lý cộng đồng trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Theo báo cáo trên, nhiều xã ven đầm Thị Nại, Trà Ổ, Đề Gi đã tham gia các mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản, góp phần tăng cường vai trò cộng đồng trong bảo vệ hệ sinh thái vùng bờ. Điều này cho thấy đầm phá không chỉ là “không gian sinh thái mà còn là không gian xã hội, nơi hình thành các phương thức quản trị cộng đồng đặc thù của cư dân ven biển”.
Từ những đặc điểm trên có thể thấy, hệ thống đầm phá ven biển Gia Lai không chỉ mang giá trị tự nhiên mà còn là nơi kết tinh các lớp văn hóa Việt, Chăm và Hoa, phản ánh lịch sử giao thương biển, quá trình thích ứng sinh thái và sự hình thành bản sắc cư dân duyên hải. Đây chính là nền tảng quan trọng để tiếp cận đầm phá như một không gian văn hóa đặc thù trong chiến lược bảo tồn và phát triển kinh tế di sản của Gia Lai mới hiện nay.
2.2. Dấu ấn văn hóa Việt – Chăm – Hoa trong lịch sử khai thác đầm phá
Từ thời Champa, vùng đầm Thị Nại đã giữ vai trò như một cửa ngõ giao thương quan trọng của khu vực duyên hải miền Trung. Nhiều nghiên cứu cho rằng “tên gọi Thị Nại có liên hệ với Cri-Banoi – một cảng thị cổ của vương quốc Chăm Pa, từng giữ vị trí trung chuyển hàng hóa giữa miền duyên hải với vùng cao nguyên phía Tây. Không gian này nằm ở vị trí đặc biệt thuận lợi, phía Nam tiếp giáp vịnh Quy Nhơn, phía Đông được bán đảo Phương Mai che chắn, đồng thời liên thông với hệ thống sông Kôn – tuyến giao thông thủy quan trọng dẫn lên vùng Tây Sơn thượng đạo. Chính điều kiện địa lý ấy đã giúp Thị Nại từ rất sớm trở thành một cửa ngõ văn hóa kết nối biển Đông với nội địa Tây Nguyên”. Các tài liệu địa phương cho biết đầm Thị Nại có diện tích khoảng 5.000 ha, là đầm nước mặn – lợ lớn nhất Bình Định, kéo dài hơn 10 km và thông ra biển qua cửa Giã (cửa Thị Nại). Trong lịch sử, cửa Giã không chỉ là nơi tàu thuyền ra vào mà còn là đầu mối giao lưu hàng hóa của cư dân miền biển với vùng thượng đạo. Dân gian Bình Định còn lưu truyền câu ca:
Ai về cửa Giã chiều hôm,
Măng le gửi xuống, cá chuồn gửi lên.
Câu ca dao ngắn gọn nhưng phản ánh rất rõ tính chất liên vùng, xuyên vùng của không gian đầm phá Thị Nại. Nếu măng le là sản vật của miền núi Tây Nguyên thì cá chuồn lại là đặc sản biển, cho thấy từ rất sớm nơi đây đã hình thành mạng lưới trao đổi hàng hóa giữa miền núi và miền biển. Điều đó cũng lý giải vì sao Thị Nại không chỉ là một không gian sinh thái mà còn là một trung tâm giao lưu kinh tế, văn hóa quan trọng trong lịch sử miền Trung nói chung và vùng duyên hải của Gia Lai mới nói riêng.
Sau quá trình Nam tiến, người Việt tiếp tục khai thác và tái cấu trúc không gian đầm phá theo mô hình cư trú ven nước. Các làng/vạn chài, bến nước, nghề cá và hệ thống tín ngưỡng dân gian dần hình thành quanh vùng đầm phá. Trong các thư tịch Hán Nôm, hệ thống đầm phá ven biển Gia Lai không chỉ được mô tả như danh thắng tự nhiên mà còn được ghi nhận như những vùng sinh kế quan trọng của cư dân địa phương. Các ghi chép về chu vi đầm, dòng chảy, cửa biển, ghe thuyền và hoạt động đánh bắt cho thấy triều Nguyễn đã nhìn nhận đầm phá như những không gian kinh tế có vai trò đặc biệt đối với vùng duyên hải. Đặc biệt, đầm Trà Ổ phản ánh rất rõ sự đan xen giữa địa danh hành chính, lịch sử môi trường và ký ức cộng đồng cư dân ven đầm. Trong Đại Nam nhất thống chí (bản thời Tự Đức), tên gọi của đầm từng được ghi nhận là Hoa Ổ đàm 花塢潭, nhưng đến các bản hiệu đính thời Duy Tân và Đồng Khánh địa dư chí thì tên gọi được chuẩn hóa thành Trà Ổ đàm 茶塢潭. Sự chuyển đổi từ Hoa Ổ sang Trà Ổ không chỉ là thay đổi tự dạng chữ Hán mà còn phản ánh quá trình chuẩn hóa địa danh trong hệ thống hành chính triều Nguyễn. Song song với tên gọi chính thức ấy, cư dân địa phương lại quen gọi đầm là Châu Trúc – tên ghép từ hai thôn Châu Giang và Trúc Cương/Võng ven đầm. Điều đó cho thấy địa danh ở đây không chỉ mang chức năng hành chính mà còn phản ánh cấu trúc cộng đồng cư trú và quyền làm chủ không gian sinh tồn của cư dân ven nước.
Các tư liệu hiện nay cho biết Trà Ổ vốn là một vịnh nước mặn thông với biển qua cửa Hà Ra, từng có tàu bè giao thương và đến nửa cuối thế kỷ XIX vẫn được triều Nguyễn xem là một hải tấn có đặt trạm thu thuế. Về sau, do quá trình bồi lấp tự nhiên, vùng vịnh cổ dần chuyển thành đầm nước lợ nội địa. Chính sự chuyển hóa địa chất ấy đã tạo nên một hệ sinh thái đặc thù với nhiều loại thủy sản riêng như cá chình mun, cá chình bông. Không gian Trà Ổ ngày nay vẫn lưu giữ nhịp sống điền dã ven đầm với những chiếc thuyền nhỏ, nghề đánh bắt thủ công, đồng ruộng ven nước và các làng cư trú mang sắc thái rất riêng của văn hóa nước lợ miền Trung.
Bên cạnh giá trị sinh thái và lịch sử giao thương, không gian đầm phá ven biển Gia Lai ngày nay còn là nơi hội tụ nhiều lớp tín ngưỡng dân gian đặc thù. Tại Thị Nại, các địa danh như Tháp Thầy Bói, Cồn Chim hay cửa Giã đều gắn với truyền thuyết, tín ngưỡng và ký ức cộng đồng. Theo tư liệu điền dã tại địa phương, Tháp Thầy Bói nằm giữa đầm, nổi lên như một ngọn núi nhỏ giữa sóng nước, là nơi cư dân ven biển đến thắp hương cầu bình an và mùa cá thuận lợi. Truyền thuyết về ông thầy bói, về chim bói cá hay về thủy thần quanh khu vực này cho thấy cư dân ven đầm không chỉ khai thác tự nhiên mà còn kiến tạo nên không gian vũ trụ tâm linh gắn với môi trường sông nước. Trong khi đó, Cồn Chim giữa đầm Thị Nại lại phản ánh rõ nét mối quan hệ cộng sinh giữa con người với hệ sinh thái nước lợ. Tư liệu hiện nay ghi nhận khu vực này có hệ động thực vật rất phong phú, gồm hàng chục loài chim di cư, rừng ngập mặn và nhiều loài thủy sản quý. Không gian ấy vừa là nơi mưu sinh của cư dân ven đầm, vừa là một cảnh quan ký ức, nơi lưu giữ nhịp sống truyền thống của các làng chài của Bình Định trước sáp nhập.
Ngoài yếu tố Việt và Chăm, cộng đồng người Hoa trong lịch sử giao thương ven biển cũng để lại nhiều dấu ấn tại vùng đầm phá ở khu vực này. Các hoạt động buôn bán qua cảng Thị Nại, cửa Giã và hệ thống thương hồ ven biển đã tạo nên môi trường giao lưu kinh tế, văn hóa rộng lớn. Cùng với đó là “sự hiện diện của tín ngưỡng Thiên Hậu, các miếu thờ thủy thần và những dạng thức văn hóa thương hồ mang màu sắc Hoa kiều. Chính sự giao thoa Việt – Chăm – Hoa qua nhiều thế kỷ đã tạo nên một cấu trúc văn hóa đa tầng cho không gian đầm phá ven biển Bình Định, nơi mỗi cửa nước, mỗi làng chài hay mỗi địa danh đều chứa đựng những lớp ký ức lịch sử khác nhau”.
Từ những dẫn liệu trên có thể thấy, các đầm phá như Thị Nại, Trà Ổ và Đề Gi không chỉ là không gian sinh thái tự nhiên mà còn là không gian ký ức - sinh thái của cư dân ven biển. Ở đó, lịch sử giao thương, tín ngưỡng dân gian, tri thức bản địa và sinh kế cộng đồng đã hòa quyện để hình thành một dạng thức văn hóa đặc thù của vùng duyên hải Gia Lai sau sáp nhập.
2.3. Hệ sinh thái sinh kế, tín ngưỡng và ký ức cộng đồng vùng đầm phá
Không gian đầm phá vùng duyên hải Gia Lai không chỉ là môi trường sinh thái tự nhiên mà còn là nơi sản sinh các mô hình sinh kế và cấu trúc văn hóa cộng đồng đặc thù của cư dân duyên hải miền Trung. Trong lịch sử, cư dân sống quanh các đầm Thị Nại, Trà Ổ và Đề Gi đã tích lũy một hệ thống tri thức bản địa phong phú liên quan đến con nước, thủy triều, dòng chảy, mùa cá, kỹ thuật đánh bắt và phương thức khai thác nguồn lợi thủy sản. Những tri thức ấy không tồn tại như kinh nghiệm sản xuất đơn lẻ mà đã trở thành một phần của cấu trúc văn hóa cộng đồng, gắn chặt với nhịp sống, tập quán cư trú và tín ngưỡng ven nước. Đối với cư dân vùng đầm phá, việc nhận biết nước lớn – nước ròng, hướng gió, độ mặn, dòng chảy hay chu kỳ di cư của các loài thủy sản là điều kiện quan trọng để tổ chức hoạt động sinh kế. Chính từ quá trình thích ứng lâu dài với môi trường nước lợ, cư dân ven đầm đã hình thành nên các phương thức đánh bắt mang tính đặc thù như kéo lưới, đặt rập, giăng câu, đan đó, chèo thuyền thúng hay nuôi thủy sản theo mùa nước. Các hoạt động ấy không chỉ phản ánh khả năng thích nghi với tự nhiên mà còn cho thấy sự hình thành của một dạng thức văn hóa thủy canh nước lợ riêng biệt trong cấu trúc văn hóa miền Trung.
Ở Thị Nại, hệ sinh thái rừng ngập mặn, Cồn Chim, cửa Giã và các làng chài ven đầm đã tạo nên một không gian cộng sinh đặc biệt giữa con người với tự nhiên. Theo các tài liệu khảo cứu, đầm Thị Nại có diện tích hơn 5.000 ha, là đầm nước mặn – lợ lớn nhất Gia Lai, nơi hội tụ của hệ thống sông Kôn và sông Hà Thanh trước khi đổ ra biển. Không gian này từ lâu đã trở thành nguồn mưu sinh quan trọng của cư dân ven đầm với các hoạt động đánh bắt, nuôi hàu, nuôi tôm, khai thác cua, cá và các loài thủy sản nước lợ. Những hình ảnh ghe thuyền, lồng nuôi thủy sản, người dân kéo lưới hay chèo thuyền thúng trên mặt đầm không chỉ là sinh kế mà còn là biểu hiện sinh động của đời sống văn hóa vùng nước lợ. Bên cạnh đó, hệ thống rừng ngập mặn và Cồn Chim tại Thị Nại cho thấy rõ tính chất cộng sinh sinh thái của cư dân ven đầm. Theo nhóm tác giả công trình Tuy Phước – Lịch sử và văn hóa, khu vực này là nơi cư trú của hàng chục loài chim nước và chim di cư, đồng thời có nhiều loài thủy sinh quý giá như hàu, cua, cá mú, tôm sú. Chính sự phong phú ấy đã tạo nên một môi trường sống đặc biệt, nơi cư dân không chỉ khai thác tài nguyên mà còn học cách thích nghi và bảo vệ môi trường sinh thái để duy trì nguồn sống lâu dài.
Không gian Thị Nại đồng thời còn gắn với đời sống tín ngưỡng và ký ức cộng đồng ven biển. Các lễ cầu ngư, tục thờ cá Ông, thờ thủy thần hay các truyền thuyết dân gian quanh Tháp Thầy Bói phản ánh nhu cầu tìm kiếm sự che chở tinh thần của cư dân trước môi trường sông nước nhiều bất trắc. Những truyền thuyết về ông thầy bói, chim bói cá hay thủy thần không chỉ là yếu tố dân gian mà còn phản ánh cách cư dân kiến tạo nên những ý thức tâm linh của mình trong mối quan hệ với môi trường nước lợ.
Trong khi đó, Trà Ổ lại mang sắc thái của một không gian ký ức nhiều hơn là một trung tâm giao thương sôi động. Theo các tư liệu hiện nay, Trà Ổ vốn là một vịnh nước mặn cổ từng thông với biển qua cửa Hà Ra, về sau bị bồi lấp dần và chuyển thành đầm nước lợ nội địa. Chính quá trình biến đổi địa chất ấy đã tạo nên một hệ sinh thái đặc biệt với nhiều những sản vật nổi tiếng của vùng đầm nước lợ. Không gian Trà Ổ ngày nay vẫn lưu giữ vẻ tĩnh lặng của các làng ven đầm với những chiếc thuyền nhỏ, những cánh đồng ven nước và nhịp sống điền dã đặc trưng. Không gian Trà Ổ vì thế vừa là môi trường sinh thái vừa là nơi lưu giữ ký ức văn hóa của cư dân địa phương. Những hoạt động đánh bắt thủ công, nuôi cá nước lợ, chèo thuyền hay các sinh hoạt cộng đồng ven đầm đã tạo nên một cảnh quan nhân văn đặc trưng khó tìm thấy ở các vùng đô thị biển hiện đại.
Đối với Đề Gi, không gian đầm gắn chặt với mô hình kinh tế cộng đồng và quản trị tài nguyên vùng bờ. Khác với Thị Nại mang tính thương cảng hay Trà Ổ mang sắc thái ký ức làng đầm, Đề Gi nổi bật ở mô hình sinh kế cộng đồng dựa vào nuôi trồng thủy sản và khai thác vùng nước lợ. Báo cáo của UBND tỉnh Bình Định (trước sáp nhập) cho biết từ giai đoạn 2009 – 2010, địa phương đã triển khai các nhiệm vụ điều tra, đánh giá hiện trạng và xây dựng giải pháp quản lý tổng hợp đầm Đề Gi theo hướng phát triển bền vững. Điều này cho thấy đầm Đề Gi không chỉ được nhìn nhận như vùng khai thác tài nguyên mà còn là một không gian cần được quản trị theo hướng sinh thái và cộng đồng. Các hoạt động nuôi trồng thủy sản, sản xuất nước mắm, chế biến hải sản và tổ chức đánh bắt cộng đồng tại Đề Gi đã tạo nên một không gian văn hóa đặc trưng của cư dân ven biển. Đặc biệt, mô hình đồng quản lý cộng đồng tại các đầm Thị Nại, Trà Ổ và Đề Gi mà tỉnh Gia Lai mới đã va đang triển khai trong thời gian qua cho thấy vai trò ngày càng lớn của cộng đồng cư dân trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường vùng bờ. Đây là một hướng tiếp cận đáng chú ý bởi nó cho thấy sự kết hợp giữa tri thức bản địa với quản trị hiện đại trong bảo tồn hệ sinh thái đầm phá.
Nhin chung, hệ thống đầm phá ven biển Gia Lai có thể được xem như những không gian ký ức sinh thái, nơi lưu giữ đồng thời các lớp giá trị tự nhiên, lịch sử, tín ngưỡng và tri thức cộng đồng. Đó không chỉ là nơi diễn ra hoạt động sinh kế mà còn là không gian hình thành bản sắc cư dân ven biển, nơi mỗi con nước, mỗi cửa đầm hay mỗi làng chài đều mang theo những lớp ký ức văn hóa được tích lũy qua nhiều thế hệ.
3. Định hướng bảo tồn và phát huy giá trị không gian văn hóa đầm phá vùng duyên hải tỉnh Gia Lai sau sáp nhập
3.1. Định hướng bảo tồn không gian văn hóa đầm phá tại Gia Lai
3.1.1. Đầm Thị Nại - Không gian thương cảng, sinh thái và ký ức biển
Trong hệ thống đầm phá ven biển Gia Lai, đầm Thị Nại là không gian thể hiện rõ nhất tính chất đa tầng của một di sản vùng nước lợ. Đây không chỉ là một đầm nước mặn – lợ có giá trị sinh thái, mà còn là không gian lịch sử, thương cảng, chiến trận, tín ngưỡng và cảnh quan đặc biệt của vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Theo thống kê và mô tả, đầm Thị Nại nằm ở phía Đông Bắc thành phố Quy Nhơn, rộng khoảng 4 km, trải dài trên 10 km, diện tích mặt nước hơn 5.000 ha; là nơi hợp lưu của sông Côn và sông Hà Thanh, được bán đảo Phương Mai ngăn cách với biển Đông, còn chỗ thông ra biển của đầm chính là cảng Quy Nhơn hiện nay. Từ những đặc điểm này, chúng ta có thể bảo tồn không gia văn hóa của Đầm Thị Nại theo một số hướng như sau:
Một là, cần phát triển Thị Nại với tư cách không gian thương cảng – lịch sử có vị trí chiến lược đặc biệt. Tên gọi Thị Nại tự thân đã chứa đựng nhiều lớp ký ức văn hóa. Tư liệu cho biết đầm Thị Nại có tên chữ Hán là Hải Hạc đàm, nghĩa là đầm có nhiều chim hạc biển; Thị Nại là địa danh Chăm, có nguồn gốc từ CriVinaya, phiên âm Hán Việt là Thị-lị-bì-nại, sau biến âm thành Thị Nại, người Hoa gọi đầm là Tân Châu. Trong quá khứ, đây là một hải cảng nổi tiếng của vương quốc Chiêm Thành. Như vậy, chỉ riêng hệ thống tên gọi Hải Hạc đàm – CriVinaya/Thị Nại – Tân Châu đã cho thấy sự chồng lớp Việt, Chăm, Hoa trong lịch sử khai thác không gian đầm phá. Với vị trí là cửa ngõ dẫn vào vùng nội địa, Thị Nại từng là điểm tiếp nhận và trung chuyển hàng hóa, đồng thời là nơi diễn ra các cuộc giao tranh quan trọng. Trong lịch sử, địa danh Thị Nại gắn với nhiều trận thủy chiến lớn, từ cuộc tấn công của quân Nguyên vào cửa Thị Nại năm 1284 đến các trận chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh đầu thế kỷ XIX. Điều này cho thấy Thị Nại không chỉ là không gian giao thương, mà còn là địa bàn chiến lược trong lịch sử quân sự và chính trị vùng duyên hải.
Hai là, cần kích thích và kiến tạo Thị Nại trở thành hệ sinh thái nước lợ đặc thù và là nền tảng sinh kế của cư dân ven đầm. Đầm Thị Nại tiếp nhận nước từ các nhánh sông Côn, sông Hà Thanh rồi thoát ra biển qua cửa Giã, còn gọi là cửa Thị Nại. Chính cấu trúc thủy văn này tạo nên môi trường nước mặn – lợ giàu nguồn lợi, thích hợp cho nhiều loài thủy sản và hệ sinh thái rừng ngập mặn. Tư liệu cho biết nơi đây có hệ động thực vật phong phú với rừng ngập mặn, các loài sú, vẹt, đước, bần, rong, cỏ biển; cùng nhiều loài chim nước, chim di cư, cá và phù du. Từ góc nhìn văn hóa học, nguồn lợi sinh thái ấy chính là nền tảng hình thành vùng văn hóa thủy canh nước lợ của cư dân Thị Nại. Các hoạt động như đánh bắt cá, nuôi hàu, bắt cua, khai thác tôm, chèo thuyền thúng, kéo lưới, đi rập… không chỉ nhằm duy trì sinh kế mà còn tạo nên nhịp sống, kỹ năng và tri thức bản địa của cộng đồng ven đầm. Cư dân nơi đây không chỉ sống nhờ đầm mà còn sống cùng đầm, nghĩa là điều chỉnh phương thức sản xuất theo con nước, mùa gió, dòng chảy và sự vận động của hệ sinh thái.
Ba là, cần xây dựng Cồn Chim trở thành biểu tượng của quan hệ cộng sinh giữa con người và thiên nhiên. Trong không gian Thị Nại, Cồn Chim có ý nghĩa đặc biệt. Đây không chỉ là một đảo xanh giữa đầm mà còn là nơi hội tụ các giá trị sinh thái, cảnh quan và sinh kế. Tư liệu du lịch địa phương mô tả Cồn Chim là khu vực có hệ sinh thái rừng ngập mặn đa dạng, nơi cư trú của nhiều loài chim quý, đồng thời là điểm trải nghiệm đời sống cư dân vùng nước lợ như chèo thuyền, giở lưới, câu cá, thăm lộp. Ý nghĩa của không gian Cồn Chim không chỉ nằm ở cảnh quan thiên nhiên mà còn ở khả năng biểu đạt một mô hình phát triển hài hòa, con người khai thác nhưng không tách rời tự nhiên, sinh kế gắn với phục hồi sinh thái, du lịch gắn với trải nghiệm cộng đồng. Nếu được quy hoạch đúng, khong gian Cồn Chim có thể trở thành hạt nhân của mô hình kinh tế di sản sinh thái Thị Nại, nơi du khách không chỉ ngắm cảnh mà còn hiểu được cách cư dân ven đầm tổ chức đời sống trên nền tảng môi trường nước lợ.
Bốn là, cần quan tâm phát triển Thị Nại trở thành không gian tín ngưỡng dân gian và ký ức tâm linh của cư dân vùng đầm. Đời sống cư dân ven đầm luôn gắn với những rủi ro của sóng nước, bão gió và nghề biển. Vì vậy, các hình thức tín ngưỡng như thờ thủy thần, cầu ngư, thờ cá Ông, thờ Nam Hải hay các truyền thuyết dân gian về những địa điểm linh thiêng trở thành một phần quan trọng trong cấu trúc văn hóa cộng đồng. Trường hợp Tháp Thầy Bói là một minh chứng tiêu biểu. Đây vừa là điểm du lịch tâm linh, vừa là chốn linh thiêng gắn với truyền thuyết cổ của cư dân địa phương. Các lớp truyền thuyết ấy cho thấy cư dân Thị Nại đã nhân hóa không gian tự nhiên bằng ký ức và niềm tin tâm linh. Một khóm đá, một gò nổi hay một địa điểm giữa đầm không còn là thực thể địa lý thuần túy mà trở thành “điểm neo ký ức” của cộng đồng. Nhờ đó, đầm Thị Nại được cảm nhận như một không gian có linh hồn, nơi con người ứng xử với tự nhiên bằng cả kinh nghiệm sinh kế lẫn sự kính ngưỡng.
Năm là, phát triển hệ cảnh quan của Thị Nại có giá trị gắn liền với cấu trúc đầm – cát – núi – biển. Không gian Thị Nại có tính mở và tính liên kết cảnh quan rất cao. Phía Đông là bán đảo Phương Mai với núi đá, đồi cát và các làng chài, phía Nam nối với vịnh Quy Nhơn; phía Tây gắn với đô thị Quy Nhơn và các làng ven đầm, giữa đầm là Cồn Chim, Tháp Thầy Bói và các vùng bãi bồi. Cầu Thị Nại được khánh thành năm 2006, bắc qua đầm nối bán đảo Phương Mai với thành phố Quy Nhơn, dài 2.475 m với 54 nhịp, trở thành một biểu tượng của Bình Định trước đây và Gia Lai hôm nay. Chính cấu trúc đầm – cát – núi – biển này tạo cho Thị Nại lợi thế rất lớn trong phát triển du lịch văn hóa – sinh thái. Tuy nhiên, tiềm năng ấy chỉ có thể trở thành kinh tế di sản bền vững nếu được khai thác trên nền tảng bảo tồn. Hiện nay, địa phương đã triển khai nhiệm vụ điều tra, đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý tổng hợp đầm Thị Nại theo hướng phát triển bền vững, đồng thời có hoạt động tuyên truyền về quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đầm Thị Nại. Ngoài ra, phong trào Toàn dân tham gia bảo vệ nguồn lợi thủy sản và các mô hình đồng quản lý tại Thị Nại, Trà Ổ, Đề Gi cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của cộng đồng trong bảo vệ hệ sinh thái vùng đầm phá.
Như vậy, nhìn từ nhiều phương diện khác nhau, đầm Thị Nại là một không gian di sản tổng hợp, nơi hội tụ đồng thời giá trị lịch sử – thương cảng, sinh thái – môi trường, tín ngưỡng – ký ức và cảnh quan – du lịch. Trong chiến lược phát triển kinh tế di sản của Gia Lai mới, Thị Nại không nên chỉ được định vị như một điểm đến du lịch ven đô, mà cần được nhìn nhận như một trung tâm ký ức biển của vùng duyên hải, nơi lịch sử Chăm Pa, dấu ấn Việt – Hoa, đời sống làng chài, hệ sinh thái rừng ngập mặn và cảnh quan đô thị biển cùng hòa quyện trong một cấu trúc văn hóa đặc thù.
3.1.2. Đầm Trà Ổ - Không gian ký ức và văn hóa làng đầm
Nếu Thị Nại mang dáng dấp của một không gian thương cảng rộng mở và năng động, thì Trà Ổ lại gợi cảm giác tĩnh tại, sâu lắng và giàu tính ký ức hơn. Đây không phải là không gian của những dòng thương thuyền lớn hay các cuộc giao tranh lịch sử quy mô như Thị Nại, mà là một không gian sinh thái, nơi cảnh quan tự nhiên, đời sống cư dân và những lớp trầm tích văn hóa cộng đồng hòa quyện trong nhịp điệu chậm rãi của vùng nước lợ ven biển. Trà Ổ vốn là một vịnh nước mặn cổ từng ăn thông với biển qua cửa Hà Ra. Về sau, do quá trình bồi lấp tự nhiên kéo dài qua nhiều thế kỷ, vùng vịnh này dần khép kín và chuyển hóa thành đầm nước lợ nội địa như hiện nay. Chính sự chuyển đổi địa chất ấy đã tạo nên một không gian sinh thái đặc biệt, vừa mang tính chất của đầm phá ven biển, vừa có sắc thái của một hồ nước nội địa rộng lớn. Có thể nói, Trà Ổ là một “di sản địa chất – sinh thái sống”, nơi dấu vết của biển cổ vẫn còn lưu lại trong cấu trúc môi trường và hệ sinh thái nước lợ.
Theo Đồng Khánh địa dư chí (triều Nguyễn), “đầm Trà Ổ có chu vi hàng nghìn trượng, nằm về phía Đông Bắc huyện lị hơn 46 dặm, tiếp nhận nước từ nhiều khe suối rồi thoát ra biển qua cửa Hà Ra. Tại miệng đầm có gò cát chắn ngang khiến ghe thuyền khó qua lại quanh năm; chỉ vào mùa nước lũ, dòng chảy mạnh mới giúp tàu thuyền lưu thông thuận lợi”. Những ghi chép này cho thấy môi trường tự nhiên đã chi phối rất mạnh đến nhịp sống và hoạt động giao thương của cư dân ven đầm. Đồng thời, nó cũng phản ánh trình độ quan sát và hiểu biết khá sâu sắc của người xưa về hệ thủy văn vùng nước lợ. Khác với Thị Nại mang tính mở của một cửa biển giao thương, Trà Ổ lại mang tính khép của một không gian làng đầm. Đến hôm nay, nơi đây vẫn còn lưu giữ khá rõ nhịp sống truyền thống của cư dân vùng thủy canh nước lợ miền Trung. Những chiếc thuyền nhỏ lặng lẽ trên mặt đầm, nghề đánh bắt thủ công, cảnh chăn vịt ven nước, trồng lúa ở các bãi đất thấp quanh đầm hay những làng cư trú nép mình bên mặt nước đã tạo nên một cảnh quan nhân văn rất riêng của Trà Ổ hôm nay. Điều đáng chú ý là ở đầm Trà Ổ, sinh kế không tách rời cảnh quan mà hòa vào cảnh quan để tạo thành một chỉnh thể văn hóa. Những hoạt động như chèo ghe, giăng lưới, thả câu, đan đó hay nuôi cá nước lợ không chỉ đơn thuần là lao động mưu sinh mà còn là một phần của nhịp sống cộng đồng. Chính vì vậy, Trà Ổ không chỉ là không gian tự nhiên mà còn là không gian sống của ký ức làng quê ven đầm.
Một trong những giá trị nổi bật nhất của Trà Ổ là hệ thủy sản đặc trưng của môi trường nước lợ. Các tư liệu hiện nay cho biết nơi đây nổi tiếng với các loài cá chình mun, chình bông và nhiều sản vật đặc hữu khác. Chính sự giao thoa giữa nước ngọt và nước mặn đã tạo nên điều kiện sinh thái thích hợp cho các loài thủy sản quý phát triển. Không chỉ mang giá trị kinh tế, các sản vật ấy còn gắn với tri thức khai thác truyền thống của cư dân địa phương. Những kinh nghiệm liên quan đến mùa nước, độ mặn, dòng chảy hay phương thức đánh bắt đã được tích lũy và truyền lại qua nhiều thế hệ, tạo thành một dạng tri thức bản địa quý giá của cư dân vùng đầm phá. Từ góc nhìn kinh tế di sản, đây là nguồn tài nguyên văn hóa – sinh thái có giá trị đặc biệt. Các sản phẩm như cá chình, ẩm thực vùng nước lợ hay các mô hình trải nghiệm nghề cá truyền thống hoàn toàn có thể trở thành thương hiệu đặc trưng của địa phương nếu được tổ chức và định vị phù hợp. Tuy nhiên, giá trị của Trà Ổ không nằm ở việc phát triển các mô hình du lịch đại trà hay thương mại hóa không gian đầm phá bằng các công trình bê tông hóa quy mô lớn. Ngược lại, điều làm nên sức hấp dẫn của đầm chính là sự tĩnh lặng, nguyên sơ và nhịp sống chậm của một không gian làng đầm truyền thống.
Do vậy, Trà Ổ phù hợp hơn với mô hình du lịch chậm, du lịch trải nghiệm và giáo dục sinh thái. Đây là nơi du khách có thể chèo thuyền trên mặt đầm lúc bình minh, nghe kể câu chuyện về Hoa Ổ đàm – Trà Ổ đàm – Châu Trúc, tìm hiểu quá trình biến đổi từ vịnh biển cổ thành đầm nước lợ hay trải nghiệm đời sống cư dân ven đầm qua các hoạt động đánh bắt thủ công, chế biến thủy sản và sinh hoạt cộng đồng. Giá trị lớn nhất của không gian này không nằm ở sự náo nhiệt mà ở khả năng giúp con người sống chậm, cảm nhận nhịp điệu tự nhiên và chiều sâu ký ức văn hóa của làng quê ven nước. Bên cạnh đó, Trà Ổ còn có ý nghĩa như một kho lưu trữ ký ức sinh thái của vùng duyên hải. Quá trình chuyển hóa từ vịnh biển thành đầm nước lợ, sự thay đổi địa danh qua các thời kỳ, nhịp sống làng đầm và hệ tri thức bản địa của cư dân đã tạo nên một cấu trúc văn hóa đặc thù khó thay thế. Trong bối cảnh hiện nay, khi nhiều không gian ven biển đang bị đô thị hóa và thương mại hóa mạnh mẽ, việc bảo tồn Trà Ổ không chỉ là bảo vệ một vùng nước lợ, mà còn là gìn giữ một dạng thức văn hóa làng ven đầm đặc sắc của miền Trung Việt Nam
3.1.3. Đầm Đề Gi - Không gian sinh kế cộng đồng và quản trị vùng bờ
Nếu Thị Nại nổi bật ở tính chất thương cảng – lịch sử, Trà Ổ mang chiều sâu ký ức làng đầm, thì Đề Gi lại phản ánh rõ nét nhất mối quan hệ giữa sinh kế cộng đồng với quản trị tài nguyên vùng bờ. Đây là không gian đầm phá thể hiện khá điển hình quá trình cư dân ven biển thích ứng với môi trường nước lợ để hình thành các mô hình kinh tế cộng đồng dựa vào khai thác và nuôi trồng thủy sản. Đầm Đề Gi nằm ở phía Bắc tỉnh Gia Lai mới, trải dài qua khu vực Phù Mỹ và Phù Cát, thông ra biển Đông qua cửa Đề Gi. Với cấu trúc nửa kín, môi trường nước lợ nơi đây tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài thủy sản và các hệ sinh thái ven bờ. Chính vì vậy, từ lâu Đề Gi đã trở thành một trong những vùng nuôi trồng và khai thác thủy sản quan trọng của địa phương.
Theo các báo cáo chuyên đề của các cơ quan quản lý, Đề Gi không chỉ có giá trị sinh thái mà còn đóng vai trò quan trọng đối với sinh kế cư dân ven biển. Điều này cho thấy Đề Gi đã sớm được nhìn nhận như một không gian sinh thái cần quản trị tổng hợp thay vì chỉ khai thác đơn thuần. Giá trị trội bật của Đề Gi nằm ở khả năng hình thành một hệ sinh thái nhân văn dựa trên cộng đồng cư dân ven đầm. Khác với những vùng đô thị biển phát triển mạnh theo hướng thương mại dịch vụ, cư dân Đề Gi vẫn duy trì khá rõ cấu trúc làng chài truyền thống với nghề đánh bắt ven bờ, nuôi trồng thủy sản, chế biến hải sản và sản xuất nước mắm. Những chiếc ghe nhỏ neo đậu dọc cửa biển, những sân phơi cá, phơi mực, các cơ sở chế biến nước mắm gia truyền hay hoạt động mua bán thủy sản tại bến cá đã tạo nên diện mạo rất riêng của vùng đầm phá này. Sinh kế ở Đề Gi không chỉ mang tính kinh tế mà còn phản ánh hệ thống tri thức bản địa phong phú của cư dân vùng nước lợ. Người dân nơi đây tích lũy kinh nghiệm về con nước, độ mặn, hướng gió, dòng chảy và mùa vụ thủy sản để tổ chức hoạt động đánh bắt và nuôi trồng. Những kinh nghiệm ấy được “truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành một phần của văn hóa cộng đồng ven biển. Chính sự gắn bó lâu dài với môi trường đầm phá đã hình thành nên ý thức cộng đồng khá rõ trong việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản và duy trì hệ sinh thái vùng bờ”.
Trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản tự nhiên ngày càng suy giảm, Đề Gi cũng là nơi phản ánh rõ những thách thức của quá trình khai thác tài nguyên ven biển hiện nay. Áp lực nuôi trồng thủy sản, ô nhiễm môi trường nước, khai thác quá mức và biến đổi khí hậu đang tác động mạnh đến hệ sinh thái đầm phá. Tuy nhiên, chính trong bối cảnh ấy, mô hình đồng quản lý cộng đồng tại Đề Gi đã từng bước được triển khai như một hướng tiếp cận đáng chú ý. Theo các cơ quan chức năng, nhiều xã ven đầm Thị Nại, Trà Ổ, Đề Gi đã tham gia các mô hình Toàn dân tham gia bảo vệ nguồn lợi thủy sản và đồng quản lý cộng đồng nhằm tăng cường vai trò của người dân trong bảo vệ hệ sinh thái vùng bờ. Đây là một chuyển biến quan trọng bởi nó cho thấy quá trình kết hợp giữa quản trị hiện đại với tri thức bản địa và sự tham gia của cộng đồng cư dân địa phương. Từ góc độ phát triển bền vững, mô hình đồng quản lý ở Đề Gi không chỉ có ý nghĩa môi trường mà còn mang giá trị văn hóa – xã hội sâu sắc. Nó giúp tái khẳng định vai trò chủ thể của cư dân ven đầm trong quản trị không gian sinh tồn của mình. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để hình thành các mô hình kinh tế di sản dựa vào cộng đồng, nơi người dân không chỉ là đối tượng hưởng lợi mà còn là người gìn giữ và kể câu chuyện di sản của địa phương.
Bên cạnh sinh kế và quản trị môi trường, Đề Gi còn là không gian giàu giá trị văn hóa dân gian. Các làng chài ven đầm vẫn lưu giữ nhiều lễ tục gắn với biển như cầu ngư, cúng thủy thần, thờ cá Ông hay các nghi lễ trước mùa đánh bắt. Cùng với đó là nghề làm nước mắm, chế biến hải sản khô và các hình thức trao đổi thủy sản truyền thống. Những hoạt động ấy không chỉ phản ánh đời sống kinh tế mà còn thể hiện cấu trúc văn hóa cộng đồng ven biển được hình thành qua nhiều thế hệ, tiêu biểu như vạn chài Vĩnh Lợi (Mỹ Thành, Phù Mỹ trước sáp nhập)
Như vậy, Đề Gi không chỉ là một đầm nước lợ có giá trị sinh thái mà còn là không gian phản ánh rõ mối quan hệ giữa cộng đồng cư dân với quản trị tài nguyên vùng bờ. Đây là nơi có thể triển khai các mô hình kinh tế di sản theo hướng cộng đồng – sinh thái – trải nghiệm, kết hợp giữa bảo vệ môi trường, gìn giữ văn hóa làng chài và phát triển sinh kế bền vững. Trong chiến lược phát triển không gian văn hóa đầm phá ven biển Gia Lai, Đề Gi vì thế cần được nhìn nhận như một mô hình di sản cộng đồng vùng nước lợ, nơi tri thức bản địa, sinh kế truyền thống và quản trị môi trường cùng tồn tại trong một cấu trúc văn hóa đặc thù.
3.2. Định hướng phát huy không gian văn hóa đầm phá tại Gia Lai trong thời gian tới
Trong bối cảnh phát triển hiện nay, không gian đầm phá ven biển Gia Lai đang đứng trước nhiều thách thức như đô thị hóa, ô nhiễm môi trường nước, khai thác tài nguyên quá mức và xu hướng thương mại hóa du lịch. Nhiều khu vực ven đầm bị thu hẹp bởi các hoạt động xây dựng, nuôi trồng thủy sản thiếu kiểm soát hoặc phát triển du lịch theo hướng đại trà. Điều đó không chỉ làm suy giảm hệ sinh thái nước lợ mà còn kéo theo nguy cơ mai một tri thức bản địa, đứt gãy ký ức cộng đồng và biến đổi cấu trúc văn hóa truyền thống của cư dân ven đầm. Theo đó, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị không gian đầm phá không thể chỉ tiếp cận từ góc độ môi trường hay du lịch đơn thuần, mà cần được nhìn nhận như một chiến lược phát triển văn hóa bền vững. Điều đó đòi hỏi phải xây dựng một mô hình tích hợp giữa sinh thái, văn hóa và phát triển cộng đồng, trong đó đầm phá được xem là hệ sinh thái di sản thay vì chỉ là tài nguyên khai thác kinh tế. Qua nghiên cứu, chúng tôi cho rằng cần quan tâm một số định hướng sau:
3.2.1. Chuyển từ tư duy khai thác sang kiến tạo hệ sinh thái di sản
Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là thay đổi tư duy phát triển đối với không gian đầm phá. Trong nhiều năm, các đầm phá ven biển chủ yếu được nhìn nhận như nguồn tài nguyên phục vụ nuôi trồng thủy sản, khai thác hải sản hoặc phát triển du lịch cảnh quan. Cách tiếp cận này tuy mang lại giá trị kinh tế trước mắt nhưng dễ dẫn đến tình trạng khai thác quá mức, làm mất cân bằng sinh thái và suy giảm các giá trị văn hóa truyền thống. Trong khi đó, từ góc nhìn văn hóa học, đầm phá cần được tiếp cận như một hệ sinh thái di sản, nơi các yếu tố tự nhiên và nhân văn tồn tại trong mối liên kết hữu cơ. Trong hệ sinh thái ấy, “cảnh quan đầm nước, rừng ngập mặn, làng chài, tín ngưỡng thủy thần, lễ cầu ngư, tri thức bản địa, ẩm thực nước lợ và các mô hình sinh kế truyền thống đều là những thành tố không thể tách rời. Nếu một yếu tố bị phá vỡ, toàn bộ cấu trúc văn hóa đầm phá cũng sẽ bị ảnh hưởng”. Do đó, bảo tồn đầm phá không chỉ là bảo vệ mặt nước hay nguồn lợi thủy sản, mà còn là bảo vệ cấu trúc văn hóa cộng đồng đã hình thành qua nhiều thế hệ cư dân. Điều này đòi hỏi phải chuyển từ tư duy khai thác cảnh quan sang tư duy kiến tạo hệ sinh thái di sản, trong đó yếu tố văn hóa giữ vai trò trung tâm định hướng phát triển.
3.2.2. Xây dựng mô hình kinh tế di sản đặc thù cho từng đầm phá
Một trong những định hướng quan trọng là xây dựng mô hình kinh tế di sản phù hợp với đặc điểm riêng của từng không gian đầm phá. Thay vì phát triển đồng loạt theo cùng một mô hình du lịch biển, cần xác định rõ bản sắc chức năng của từng đầm nhằm tránh trùng lặp sản phẩm và tạo nên cấu trúc liên kết vùng.
Đối với Thị Nại, cần định vị đây là không gian thương cảng – sinh thái – du lịch cộng đồng. Giá trị nổi bật của Thị Nại nằm ở sự giao thoa giữa lịch sử Chăm Pa, ký ức thương cảng, hệ sinh thái rừng ngập mặn và cảnh quan đầm – cát – núi – biển. Vì vậy, cần ưu tiên phát triển các mô hình trải nghiệm cộng đồng gắn với Cồn Chim, làng chài ven đầm, hoạt động đánh bắt thủy sản, du lịch sinh thái rừng ngập mặn và các sản phẩm kể chuyện di sản liên quan đến cửa Thị Nại, Tháp Thầy Bói hay các trận thủy chiến lịch sử.
Đối với Trà Ổ, định hướng phù hợp hơn là phát triển du lịch chậm, giáo dục sinh thái và trải nghiệm ký ức làng đầm. Giá trị của Trà Ổ không nằm ở sự sôi động mà ở tính tĩnh tại và chiều sâu văn hóa. Không gian này cần được bảo tồn như một “bảo tàng sinh thái sống”, nơi du khách có thể trải nghiệm nhịp sống làng quê ven đầm, chèo thuyền, đánh bắt thủ công, tìm hiểu thư tịch Hán Nôm về Hoa Ổ đàm – Trà Ổ đàm và khám phá các giá trị ẩm thực gắn với cá chình, thủy sản nước lợ.
Trong khi đó, Đề Gi nên được phát triển theo hướng đồng quản lý tài nguyên và kinh tế cộng đồng ven đầm. Không gian này phù hợp với các mô hình du lịch cộng đồng gắn với nghề cá, chế biến nước mắm, nuôi trồng thủy sản và giáo dục bảo vệ môi trường vùng bờ. Các mô hình đồng quản lý cộng đồng hiện nay tại Đề Gi có thể trở thành nền tảng để phát triển kinh tế di sản theo hướng người dân vừa là chủ thể bảo tồn vừa là chủ thể hưởng lợi từ di sản.
3.2.3. Đặt cộng đồng vào vị trí trung tâm của quá trình bảo tồn
Không gian đầm phá là kết quả của quá trình cộng đồng cư dân ven biển thích nghi với môi trường nước lợ trong suốt nhiều thế kỷ. Vì vậy, “người dân địa phương không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà phải được xem là chủ thể trung tâm của di sản”. Trong nhiều trường hợp hiện nay, hoạt động du lịch và khai thác đầm phá vẫn chủ yếu do doanh nghiệp hoặc các đơn vị bên ngoài tổ chức, trong khi cộng đồng cư dân địa phương chỉ tham gia ở vai trò cung cấp dịch vụ đơn giản. Điều này dễ dẫn đến tình trạng cộng đồng bị tách khỏi chính không gian văn hóa của mình. Để khắc phục vấn đề đó, cần xây dựng các mô hình bảo tồn dựa vào cộng đồng. Người dân ven đầm phải được tham gia vào quá trình quản trị, kể chuyện di sản, tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng dẫn du lịch và hưởng lợi trực tiếp từ các hoạt động kinh tế di sản. Những tri thức bản địa về con nước, mùa cá, nghề đánh bắt hay tín ngưỡng ven biển cần được xem là một dạng di sản tri thức cộng đồng có giá trị đặc biệt. Ngoài ra, mô hình đồng quản lý cộng đồng tại Thị Nại và Đề Gi trong thời gian qua cần được xem là cơ sở quan trọng để mở rộng hướng tiếp cận này. Đây không chỉ là giải pháp quản lý môi trường mà còn là cách tái khẳng định vai trò chủ thể văn hóa của cư dân ven đầm.
3.2.4. Ứng dụng công nghệ số trong quản trị không gian di sản
Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, việc xây dựng cơ sở dữ liệu số cho hệ thống đầm phá ven biển Gia Lai là yêu cầu cần thiết. Đây không chỉ là công cụ quản lý mà còn là nền tảng để kết nối nghiên cứu, giáo dục, du lịch và bảo tồn cộng đồng. Cơ sở dữ liệu này cần bao gồm: bản đồ GIS đầm phá; dữ liệu về hệ sinh thái, nguồn lợi thủy sản; hệ thống địa danh, di tích, tín ngưỡng; tư liệu hình ảnh, video, ký ức cộng đồng; cùng các tuyến trải nghiệm văn hóa – sinh thái. Việc số hóa dữ liệu không chỉ giúp quản lý hiệu quả mà còn tạo điều kiện để quảng bá di sản theo hướng hiện đại và bền vững. Đặc biệt, đối với các không gian như Trà Ổ hay Thị Nại, việc xây dựng bản đồ ký ức số tích hợp thư tịch Hán Nôm, truyền thuyết dân gian, địa danh cổ và tư liệu cộng đồng sẽ giúp làm nổi bật chiều sâu văn hóa của đầm phá thay vì chỉ khai thác cảnh quan bề mặt.
3.2.5. Liên kết đầm phá với không gian văn hóa Gia Lai mới
Một định hướng quan trọng khác là kết nối hệ thống đầm phá ven biển với không gian văn hóa cao nguyên phía Tây để hình thành cấu trúc di sản liên vùng của Gia Lai mới. Điều này không chỉ tạo ra các tuyến du lịch liên kết mà còn khẳng định bản sắc “núi – đồng bằng – biển” của không gian văn hóa Gia Lai hiện nay. Các sản phẩm trải nghiệm có thể kết nối không gian cồng chiêng – sử thi Tây Nguyên với lễ hội cầu ngư ven biển, kết nối tuyến Tây Sơn thượng đạo với cửa Thị Nại hay xây dựng hành trình ẩm thực từ đại ngàn xuống biển. Qua đó, hệ thống đầm phá không còn là những điểm đến rời rạc mà trở thành mắt xích quan trọng trong cấu trúc văn hóa liên vùng của Gia Lai mới.
4. Kết luận
Không gian đầm phá ven biển Bình Định trước sáp nhập là một bộ phận quan trọng trong cấu trúc văn hóa Gia Lai mới. Thị Nại, Trà Ổ và Đề Gi không chỉ mang giá trị sinh thái mà còn là nơi lưu giữ ký ức lịch sử, tri thức bản địa và bản sắc cộng đồng. Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo tồn các đầm phá không thể chỉ dừng lại ở bảo vệ môi trường tự nhiên, mà cần tiếp cận theo hướng bảo tồn không gian văn hóa sống. Điều đó đòi hỏi sự kết hợp giữa quản trị sinh thái, phát triển cộng đồng, ứng dụng công nghệ số và xây dựng mô hình kinh tế di sản bền vững. Nếu được quy hoạch đúng hướng, hệ thống đầm phá ven biển có thể trở thành một trong những nền tảng quan trọng để định vị bản sắc Gia Lai mới – một không gian văn hóa liên kết giữa đại ngàn và biển cả, giữa ký ức lịch sử và khát vọng phát triển bền vững.
Trong thực tiễn hiện nay, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị không gian văn hóa đầm phá ven biển Gia Lai không chỉ nhằm gìn giữ cảnh quan tự nhiên mà còn hướng đến bảo vệ ký ức cộng đồng, tri thức bản địa và cấu trúc văn hóa vùng thủy canh nước lợ. Đây chính là nền tảng để hình thành mô hình kinh tế di sản bền vững, nơi phát triển kinh tế gắn chặt với bảo tồn sinh thái và gìn giữ bản sắc văn hóa địa phương.