Để Lam Hạ trở thành cõi thiêng của lòng biết ơn

Nếu quý vị và các bạn là người Hà Nam cũ, nay thuộc tỉnh Ninh Bình, đã bao giờ tự hỏi: Vì sao 10 nữ dân quân pháo phòng không Lam Hạ đã trực tiếp chiến đấu và anh dũng hy sinh từ những năm 1966–1967, trước sự kiện 10 nữ thanh niên xung phong Ngã ba Đồng Lộc, nhưng trong ký ức cộng đồng hôm nay, Đồng Lộc đã trở thành một biểu tượng được cả nước biết đến rộng rãi, còn Lam Hạ vẫn chưa có sức lan tỏa tương xứng? Câu hỏi ấy không phải để so sánh những hy sinh, càng không phải làm vơi đi sự linh thiêng của Đồng Lộc. Đó là câu hỏi về trách nhiệm của những người đang sống: Chúng ta đã làm gì và còn phải làm gì để một trang sử bi tráng của quê hương được trao truyền xứng đáng cho các thế hệ mai sau?
777395678-1064200969845458-4936588017667267661-n-1787183775.jpg

(Nhân Hội thảo khoa học “60 năm Ngày hy sinh của Mười nữ dân quân pháo phòng không Lam Hạ (1966–2026) – giá trị lịch sử và sức sống thời đại”)

1- Lam Hạ đã có một câu chuyện đủ lớn để trở thành biểu tượng quốc gia

Ngày 21/8/2026, Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình tổ chức Hội thảo khoa học cấp tỉnh với chủ đề “60 năm Ngày hy sinh của Mười nữ dân quân pháo phòng không Lam Hạ (1966–2026) – giá trị lịch sử và sức sống thời đại”. Đây là hoạt động thực hiện Kế hoạch số 64-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình về tổ chức các hoạt động tuyên truyền, kỷ niệm 60 năm ngày hy sinh của các chị.

Theo tôi, ý nghĩa sâu xa của một hội thảo như thế không chỉ là nhìn lại quá khứ, xác minh những sự kiện đã diễn ra hay khẳng định thêm công lao của những người đã khuất. Điều quan trọng hơn là phải trả lời một câu hỏi của hiện tại: Làm thế nào để câu chuyện Lam Hạ thực sự sống trong đời sống tinh thần của nhân dân? Lịch sử Lam Hạ đủ lớn để chúng ta đặt câu hỏi ấy.

Trong chiến tranh phá hoại miền Bắc, Phủ Lý là nút giao thông chiến lược, nằm trên những tuyến đường huyết mạch nối hậu phương với tiền tuyến. Không quân Mỹ tập trung đánh phá dữ dội khu vực này; Lam Hạ từng trở thành một trong những “tọa độ lửa”. Đại đội dân quân pháo phòng không Lam Hạ được thành lập tháng 8/1965 với 87 cán bộ, chiến sĩ, trong đó có một trung đội nữ gồm 24 người. Các nữ dân quân không chỉ tải đạn, cứu thương hay phục vụ trận địa mà được huấn luyện sử dụng súng máy và các loại pháo phòng không 37mm, 57mm, 100mm, trực tiếp cùng bộ đội chiến đấu bảo vệ cầu đường sắt, cầu đường bộ và những tuyến giao thông trọng yếu.

Ngày 1/10/1966, giữa những đợt oanh kích dữ dội, sáu nữ dân quân Đinh Thị Tâm, Phan Thị Tuyết, Phạm Thị Lan, Vũ Thị Phương, Nguyễn Thị Thu và Nguyễn Thị Thi đã hy sinh. Chị Nguyễn Thị Thi khi ấy chưa tròn 16 tuổi. Tám ngày sau, ngày 9/10/1966, ba nữ dân quân

Nguyễn Thị Thuận, Trần Thị Thẹp và Nguyễn Thị Oánh tiếp tục ngã xuống tại trận địa Đường Ấm. Ngày 7/7/1967, Đặng Thị Chung – người nữ dân quân thứ mười – hy sinh trong lúc chiến đấu tại trận địa pháo 57mm.

779728320-2391306814731611-3739952458977369252-n-1787184012.jpg
778935659-1033673839295527-9051379825385630238-n-1787184027.jpg
778380329-2141246386603438-7268907465463360239-n-1787184042.jpg
776553095-1069438152720810-9104783777416313552-n-1787184056.jpg
777003599-2542624049576692-522554825275576982-n-1787184083.jpg
775844528-948959171563711-701463919406723746-n-1787184097.jpg
778793538-1050318381298161-2435435385987648088-n-1787184109.jpg
776290777-1804873170677529-5951172112776569053-n-1787184122.jpg
777259774-2357887351285829-4139122087900323228-n-1787184137.jpg
775844529-1937195003905602-505054171031110842-n-1787184151.jpg
Chùm di ảnh chân dung của 10 nữ AHLS dân quân Lam Hạ do nhóm họa sĩ trẻ của "trái tim người lính" phục dựng lại năm 2026↵

Như vậy, cả 10 nữ dân quân Lam Hạ đều đã ngã xuống trước ngày 24/7/1968 – ngày 10 nữ thanh niên xung phong Tiểu đội 4 hy sinh tại Ngã ba Đồng Lộc. Đồng Lộc là một huyền thoại lớn và mãi mãi phải là một địa chỉ thiêng liêng của dân tộc. Mười cô gái tuổi từ 17 đến 24 đã hy sinh trong một trận bom chiều 24/7/1968 khi đang làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông, giữ mạch máu chi viện cho chiến trường miền Nam.

Nhưng chính vì trân trọng Đồng Lộc, chúng ta càng có quyền tự hỏi: Tại sao Lam Hạ chưa trở thành một biểu tượng có sức lay động rộng lớn như thế?

Theo tôi, không thể giải thích chỉ bằng giá trị của sự hy sinh. Máu của người liệt sĩ ở đâu cũng đỏ như nhau. Tuổi trẻ nào đã hiến dâng cho Tổ quốc cũng đáng được đời sau cúi đầu. Có lẽ một nguyên nhân nằm ở cách lịch sử được chuyển hóa thành ký ức cộng đồng.

Mười cô gái Đồng Lộc cùng hy sinh trong một buổi chiều, tại một địa điểm, trong cùng một đơn vị. Câu chuyện có một điểm tụ rất mạnh về thời gian, không gian và số phận. Trong khi đó, 10 nữ dân quân Lam Hạ hy sinh qua ba trận đánh, trong hai năm 1966 và 1967, tại các trận địa khác nhau. Sự thật lịch sử ấy tạo nên một bản anh hùng ca dài hơn, nhưng cũng khó “cô đọng” thành một câu chuyện biểu tượng nếu chúng ta không chủ động kiến tạo ký ức.

Mặt khác, quá trình tôn vinh Lam Hạ ở tầm quốc gia diễn ra khá muộn. Năm 2010, Đại đội dân quân pháo phòng không Lam Hạ được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND và liệt sĩ Nguyễn Thị Thi được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND. Đến năm 2018, chín nữ liệt sĩ còn lại mới được truy tặng danh hiệu này. Địa điểm trận địa pháo phòng không Lam Hạ được xếp hạng Di tích quốc gia vào năm 2016. Trong khi đó, Ngã ba Đồng Lộc được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia từ năm 1989 và trở thành Di tích quốc gia đặc biệt năm 2013.

Những mốc thời gian ấy phần nào cho thấy: để một sự kiện lịch sử trở thành ký ức chung của quốc gia, sự hy sinh lớn lao thôi chưa đủ. Còn cần một quá trình lâu dài của bảo tồn, truyền thông, văn học nghệ thuật, giáo dục, nghi lễ tưởng niệm và sự tham gia tự giác của cộng đồng.

2- Từ Võ Thị Sáu nghĩ về sự “linh thiêng hóa” ký ức Lam Hạ

Tôi từng có vinh dự tham gia tổ chức lễ giỗ Nữ Anh hùng LLVTND Võ Thị Sáu tại Côn Đảo. Mỗi lần đứng trước câu chuyện về chị Sáu, tôi lại suy nghĩ rất nhiều về một hiện tượng đặc biệt: từ một nhân vật lịch sử có thật, bằng sự hy sinh anh dũng và tình cảm của nhiều thế hệ nhân dân, Võ Thị Sáu đã đi vào đời sống tâm linh của người Việt như một biểu tượng thiêng liêng.

Ở Côn Đảo có biết bao người đã ngã xuống. Nghĩa trang Hàng Dương là nơi yên nghỉ của những người tù yêu nước, những chiến sĩ cách mạng thuộc nhiều thế hệ. Nhưng trong đời sống tinh thần của người dân và du khách, mộ chị Võ Thị Sáu lại trở thành một điểm hội tụ rất đặc biệt. Trang thông tin chính thức về du lịch Côn Đảo cũng ghi nhận tập quán nhiều người đến Nghĩa trang Hàng Dương vào ban đêm và niềm tin dân gian gắn với thời điểm nửa đêm; ngày nay Côn Đảo đồng thời đã trở thành một địa chỉ du lịch tâm linh lớn. Lễ giỗ Võ Thị Sáu hằng năm được tổ chức chính thức với các hoạt động tưởng niệm, sân khấu hóa, dâng hương tại mộ và Đền thờ Côn Đảo.

Điều đáng chú ý là sự linh thiêng ấy không phải chỉ được tạo nên bằng một ngôi mộ hay một pho tượng. Nó được bồi đắp bởi câu chuyện.

Bởi những bài hát, những trang sách, những bộ phim, những lời kể của các thế hệ tù Côn Đảo. Bởi nghi lễ được lặp lại qua năm tháng. Bởi việc cha kể cho con, mẹ kể cho cháu. Bởi người dân địa phương coi chị như một thành viên trong đời sống tinh thần của cộng đồng. Lịch sử dần chuyển thành ký ức; ký ức trở thành văn hóa; văn hóa lâu ngày tạo nên sự thiêng liêng.

615739821-2786397955085608-3255069351737826715-n-1787184526.jpg

Ngay giữa Hà Nội, Nhà tưởng niệm Anh hùng LLVTND Võ Thị Sáu tại Công viên Võ Thị Sáu được khánh thành ngày 10/1/2026 và đang trở thành một không gian tri ân, giáo dục truyền thống giữa đô thị. Qua những lần tôi có mặt ở đây, tôi càng nhận ra một điều: khi nhân dân thật sự coi một địa chỉ tưởng niệm là một phần đời sống của mình, họ sẽ tự tìm đến mà không cần ai phát động.

Vì vậy, khi nói đến việc “tâm linh hóa” Lam Hạ, theo tôi cần hiểu thật đúng. Không phải thần bí hóa lịch sử. Không phải dựng nên những câu chuyện về phép màu. Càng không nên biến sự hy sinh của liệt sĩ thành nơi cầu tài, cầu lộc theo kiểu vụ lợi. Điều cần làm là thiêng hóa ký ức.

Để người dân đến với 10 nữ Anh hùng liệt sĩ Lam Hạ trước hết vì lòng biết ơn. Người sắp lập gia đình có thể đến thắp một nén hương, tự nhắc mình sống thủy chung. Người bắt đầu một công việc mới đến dâng hoa, nguyện làm ăn chân chính. Người lính trước ngày lên đường đến cúi đầu trước những người đi trước. Một em học sinh trước kỳ thi có thể đến đây không phải để xin điểm cao, mà để học nghị lực của cô gái chưa tròn 16 tuổi Nguyễn Thị Thi. Một đôi bạn trẻ đến Lam Hạ không chỉ chụp ảnh, mà có thể đọc tên từng người con gái đã vĩnh viễn dừng lại ở tuổi thanh xuân. Nếu làm được như vậy, lịch sử đã bước ra khỏi tủ kính.

3- Đừng chỉ xây thêm công trình – hãy xây dựng một đời sống văn hóa quanh Lam Hạ

Lam Hạ không phải bắt đầu từ con số không. Trên nền trận địa năm xưa, khu đền tưởng niệm được xây dựng từ năm 2009; toàn khu di tích rộng hơn 18ha, có hệ thống công trình tưởng niệm, cảnh quan và hồ nước, và từ năm 2016 đã là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Đây là một nền tảng rất quý.

Năm 2026, tỉnh Ninh Bình cũng đang triển khai một chương trình kỷ niệm khá toàn diện. Ngoài lễ kỷ niệm 60 năm dự kiến tổ chức ngày 1/10/2026 còn có lễ dâng hương, thăm hỏi thân nhân các nữ liệt sĩ, cuộc thi tìm hiểu lịch sử, dàn dựng vở chèo về 10 nữ Anh hùng liệt sĩ, lễ cầu siêu, thả hoa đăng và các hoạt động giáo dục truyền thống hướng mạnh vào thanh thiếu niên. Đó là một khởi đầu rất đáng trân trọng.

Nhưng nếu muốn Lam Hạ thực sự có “sức sống thời đại”, theo tôi cần đi thêm một bước nữa: từ tổ chức những hoạt động vào dịp kỷ niệm sang kiến tạo một đời sống văn hóa thường xuyên quanh di tích.

Trước hết, cả hệ thống chính trị cần cùng vào cuộc, nhưng mỗi tổ chức nên đảm nhận một phần việc cụ thể. Mặt trận Tổ quốc có thể kết nối các tầng lớp nhân dân và các tổ chức xã hội; Hội Liên hiệp Phụ nữ nên coi Lam Hạ là một địa chỉ giáo dục truyền thống đặc biệt của phụ nữ Việt Nam; Đoàn Thanh niên có thể xây dựng những chương trình “Tuổi trẻ về với Lam Hạ”, lễ kết nạp Đoàn, hành trình nguồn, trại hè lịch sử. Các trường học trong tỉnh có thể đưa Lam Hạ thành điểm đến ngoại khóa thường xuyên, thay vì chỉ đến vào ngày 27/7.

Mỗi học sinh Ninh Bình trước khi trưởng thành nên ít nhất một lần được đứng bên mâm pháo Lam Hạ và biết tên 10 người con gái ấy.

Thứ hai, cần tiếp tục hoàn thiện giao thông, bãi đỗ xe, biển chỉ dẫn và hệ thống dịch vụ kết nối để việc đến Lam Hạ thực sự thuận tiện. Muốn trở thành một địa chỉ văn hóa – tâm linh hấp dẫn, du khách phải có thể dành ở đây vài giờ hoặc nửa ngày chứ không chỉ xuống xe, thắp ba nén hương rồi đi.

Nhưng dịch vụ phải được quy hoạch bên ngoài không gian tưởng niệm cốt lõi. Có thể hình thành khu giới thiệu sách, ảnh, phim tư liệu; các sản phẩm văn hóa mang biểu tượng Lam Hạ; sản phẩm thủ công và đặc sản địa phương; không gian nghỉ chân, ẩm thực; tuyến tham quan kết nối các di tích lịch sử – văn hóa khác. Có thứ để xem, có câu chuyện để nghe, có vật lưu niệm có ý nghĩa để mang về – nhưng tuyệt đối không biến nơi thờ liệt sĩ thành một khu buôn bán xô bồ.

Thứ ba, cần làm mạnh văn học nghệ thuật. Một biểu tượng lịch sử muốn đi xa phải có tác phẩm đi cùng. Đồng Lộc sống trong lòng công chúng không chỉ bằng khu mộ mà còn qua thơ, nhạc, điện ảnh, sân khấu và hàng nghìn bài báo, cuốn sách. Lam Hạ cũng cần những tác phẩm có khả năng vượt khỏi phạm vi một tỉnh: một bộ phim truyện hoặc phim tài liệu lớn; một vở chèo có đời sống lâu dài; một ca khúc dễ nhớ; truyện tranh lịch sử cho thiếu nhi; sách ảnh; podcast; bảo tàng số; những đoạn phim ngắn để giới trẻ có thể gặp 10 cô gái trên chính chiếc điện thoại của mình.

Đặc biệt, hãy kể các chị như những con người, trước khi kể họ như những anh hùng. Các chị từng yêu ai? Thích hát bài gì? Ai khéo tay nhất? Ai hay cười? Buổi sáng cuối cùng trước khi ra trận, người mẹ đã nói gì với con? Cô gái 16 tuổi đã nghĩ gì khi nhìn lên bầu trời đầy máy bay? Những câu chuyện rất đời ấy mới khiến một người trẻ sáu mươi năm sau cảm thấy các chị gần gũi với mình.

Và cuối cùng, cần hình thành những nghi lễ cộng đồng có sức sống tự nhiên: lễ giỗ chung; đêm hoa đăng; ngày hội phụ nữ Lam Hạ; chương trình nghệ thuật vào đêm 1/10; những lễ dâng hương đầu xuân; hoạt động tri ân vào ngày rằm, mùng Một; lễ báo công của học sinh, chiến sĩ trẻ, đoàn viên, hội viên phụ nữ...

Nghi lễ được duy trì đều đặn sẽ tạo thành tập quán. Tập quán tốt đẹp lâu ngày trở thành văn hóa. Rồi sẽ đến một ngày, không cần một văn bản vận động nào, trước khi con gái về nhà chồng, một người mẹ ở vùng đất Hà Nam cũ có thể bảo con: “Mai về Lam Hạ thắp cho các cô một nén hương đã con nhé.”

Một người thanh niên bắt đầu lập nghiệp có thể tự tìm đến đây, cúi đầu trước 10 người con gái trẻ và nguyện rằng mình sẽ sống tử tế, làm ăn chân chính, không phụ sự hy sinh của những người đi trước.

Khi ấy Lam Hạ đã không còn chỉ là một di tích. Lam Hạ đã trở thành một phần của đời sống tinh thần cộng đồng.

4- Một địa chỉ linh thiêng không tự nhiên mà có

Tôi nghĩ đó cũng chính là vấn đề lớn mà Hội thảo khoa học lần này cần gợi mở. Chúng ta đã có lịch sử. Đã có những nhân vật anh hùng. Đã có trận địa thật. Đã có máu của những người con gái tuổi mười sáu, mười tám, đôi mươi hòa vào đất. Đã có danh hiệu Anh hùng. Đã có di tích cấp quốc gia. Đã có đền thờ, tượng đài và một không gian rộng lớn để tưởng niệm. Điều còn thiếu chính là làm sao để tất cả những giá trị ấy đi vào trái tim con người hôm nay.

Năm 2026 là 60 năm kể từ ngày sáu nữ dân quân đầu tiên của Lam Hạ ngã xuống. Sáu mươi năm đủ dài để chiến tranh trở thành lịch sử, nhưng chưa dài đến mức những ký ức sống hoàn toàn biến mất. Đây có lẽ là thời điểm rất quan trọng để Ninh Bình sưu tầm toàn bộ lời kể nhân chứng, kỷ vật gia đình, thư từ, ảnh, hồ sơ; số hóa và dựng lại một cách khoa học cuộc đời từng nữ liệt sĩ.

Và từ nền tảng sự thật lịch sử ấy, hãy để văn hóa làm phần việc tiếp theo của mình. Đồng Lộc không hề nhỏ đi khi Lam Hạ được tôn vinh lớn hơn. Võ Thị Sáu không hề bớt linh thiêng khi chúng ta xây dựng thêm những địa chỉ thiêng khác của lòng yêu nước. Trái lại, mỗi địa chỉ được đánh thức sẽ làm bản đồ ký ức của dân tộc thêm đầy đặn.

Tôi mong một ngày, khi nhắc đến những người con gái anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh 10 cô gái Đồng Lộc, 11 cô gái Truông Bồn, người Việt Nam ở bất cứ miền quê nào cũng có thể nói ngay: Có 10 nữ Anh hùng liệt sĩ dân quân pháo phòng không Lam Hạ.

Và tôi còn mong hơn thế: Vào một sáng mùng Một hay một chiều ngày rằm, giữa khói hương bảng lảng bên trận địa năm xưa, sẽ có những gia đình tự đưa con cháu mình về Lam Hạ. Không ai phát động. Không có đoàn xe nghi thức. Không cần loa phóng thanh nhắc nhở.

Họ đến đơn giản bởi trong lòng họ thấy cần phải đến. Bởi mảnh đất ấy đã trở thành một cõi thiêng của lòng biết ơn.

Và có lẽ, đó mới chính là sự tri ân bền vững nhất mà những người đang sống có thể dành cho 10 người con gái đã gửi lại tuổi hai mươi của mình giữa bầu trời Lam Hạ.

Ninh Bình, 20/8/2026
Đặng Vương Hưng
(Chủ tịch Tổ chức cộng đồng "Trái tim người lính Việt Nam")