Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Chuyển hóa giá trị văn hóa thành động lực phát triển

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hoàn thiện Dự thảo 1.0 Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, hướng tới xây dựng hành lang pháp lý chuyên biệt, tạo động lực phát triển một lĩnh vực giàu tiềm năng, đồng thời góp phần phát huy giá trị văn hóa Việt Nam trong nền kinh tế hiện đại.
cong-nghiep-van-hoa-1786095243.png
Công nghiệp văn hóa kết nối nguồn lực sáng tạo, tài nguyên văn hóa, công nghệ và thị trường để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế và xã hội

Dự thảo được xây dựng theo hướng hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa đồng bộ, phát huy nguồn lực sáng tạo, tài sản trí tuệ, khoa học, công nghệ và bản sắc văn hóa Việt Nam.Công nghiệp văn hóa được nhìn nhận là hệ thống các hoạt động kinh tế dựa trên việc khai thác tài nguyên văn hóa, kết hợp với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và tài sản trí tuệ để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế và xã hội. Qua đó, công nghiệp văn hóa không chỉ góp phần phát triển con người, bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc mà còn hướng tới nâng cao năng lực cạnh tranh và sức mạnh mềm quốc gia.

Các lĩnh vực  được xác định như điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm, nghệ thuật biểu diễn, phần mềm và trò chơi giải trí, quảng cáo, thủ công mỹ nghệ, du lịch văn hóa, thiết kế sáng tạo, truyền hình và phát thanh, xuất bản... là những thành tố quan trọng của công nghiệp văn hóa. Đây là những lĩnh vực có khả năng khai thác nguồn tài nguyên văn hóa, tạo ra sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội và tham gia ngày càng sâu vào thị trường trong nước, quốc tế.

Một trong những định hướng đáng chú ý của Dự thảo là chuyển từ cách tiếp cận hỗ trợ riêng lẻ từng lĩnh vực sang xây dựng một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa có tính liên kết. Trong hệ sinh thái đó, các chủ thể sáng tạo, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã, cơ sở giáo dục, tổ chức nghiên cứu, tổ chức nghề nghiệp, quỹ đầu tư và các thiết chế văn hóa có thể cùng tham gia, bổ trợ và tạo giá trị trong một chuỗi thống nhất.

Theo đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và tạo môi trường thuận lợi để các chủ thể tham gia vào toàn bộ chuỗi giá trị, từ sáng tạo, phát triển, sản xuất, phân phối, phổ biến, thương mại hóa đến tiêu dùng và tái đầu tư. Dự thảo đồng thời nhấn mạnh việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn bộ chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa, qua đó nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh.

Một nội dung được Dự thảo dành sự quan tâm đáng kể là tài sản trí tuệ trong công nghiệp văn hóa. Tài sản trí tuệ không chỉ được coi là kết quả của hoạt động sáng tạo mà còn được định hướng trở thành nguồn lực có thể nhận diện, quản lý, định giá, bảo hộ và khai thác hiệu quả hơn trên thị trường.

cnvh-1786095424.jpg
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa xác định nhiều lĩnh vực như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, thiết kế sáng tạo, du lịch văn hóa, xuất bản... là những thành tố quan trọng của công nghiệp văn hóa.

Dự thảo đề xuất xây dựng các công cụ số hỗ trợ chủ thể sáng tạo quản lý quá trình sáng tạo, đăng ký quyền sở hữu trí tuệ và hình thành hồ sơ tài sản trí tuệ. Đây là cách tiếp cận nhằm từng bước biến những giá trị sáng tạo vốn khó định lượng thành tài sản có thể quản lý, giao dịch và khai thác, tạo thêm nguồn lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực văn hóa.

Cùng với tài sản trí tuệ, nguồn nhân lực được xác định là một trong những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của công nghiệp văn hóa. Dự thảo định hướng phát triển nguồn nhân lực theo hướng liên ngành, gắn đào tạo với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường, đồng thời chú trọng phát hiện, đào tạo tài năng và thu hút nhân lực chất lượng cao.

Việc thu hút chuyên gia, nghệ sĩ, nghệ nhân và các nhà sáng tạo cũng được đặt ra nhằm tạo nền tảng nhân lực cho sự phát triển lâu dài của các ngành công nghiệp văn hóa. Đây là yêu cầu có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh công nghiệp văn hóa ngày càng phụ thuộc vào năng lực sáng tạo, trình độ công nghệ và khả năng tổ chức sản xuất chuyên nghiệp.

Để công nghiệp văn hóa phát triển theo hướng thị trường, Dự thảo 1.0 đặt ra các cơ chế đa dạng hóa nguồn lực đầu tư. Bên cạnh ngân sách nhà nước, nguồn lực từ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các quỹ và các hình thức đầu tư hợp pháp khác được khuyến khích huy động.

Dự thảo cũng định hướng tạo thuận lợi cho đầu tư vào hạ tầng, sản xuất và cung cấp sản phẩm công nghiệp văn hóa, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, cá nhân và nhóm sáng tạo tiếp cận nguồn lực, thị trường và các chương trình xúc tiến. Một số lĩnh vực, sản phẩm có tính chất trọng điểm, có khả năng tạo giá trị kinh tế, xã hội và quảng bá bản sắc Việt Nam được định hướng hưởng mức hỗ trợ, ưu đãi phù hợp.

Ở chiều ngược lại, mở rộng thị trường quốc tế, xúc tiến xuất khẩu và xây dựng thương hiệu quốc gia được xác định là những hướng đi quan trọng. Dự thảo khuyến khích thu hút các dự án đầu tư nước ngoài có khả năng khai thác, phát triển và đưa tài sản trí tuệ văn hóa Việt Nam ra thị trường toàn cầu, qua đó mở rộng không gian phát triển cho các sản phẩm và dịch vụ văn hóa.

Công nghiệp văn hóa vì thế không chỉ được kỳ vọng đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn trở thành một kênh quảng bá hình ảnh, văn hóa và con người Việt Nam ra thế giới. Khi sản phẩm văn hóa có khả năng tham gia thị trường quốc tế, giá trị kinh tế được tạo ra đồng thời có thể góp phần lan tỏa bản sắc và sức hấp dẫn của văn hóa Việt Nam.

Chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo cũng là những nội dung được Dự thảo Luật đặt ra. Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát được định hướng nhằm tạo điều kiện để các mô hình kinh doanh, sản phẩm và giải pháp công nghệ mới trong công nghiệp văn hóa được thử nghiệm trong phạm vi, thời gian và điều kiện xác định, qua đó khuyến khích sáng tạo nhưng vẫn kiểm soát các rủi ro có thể phát sinh.

Một điểm mới có ý nghĩa nền tảng là định hướng xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về phát triển công nghiệp văn hóa, kết nối dữ liệu từ Trung ương tới địa phương. Hệ thống này được kỳ vọng tạo cơ sở để thống kê, đánh giá quy mô, cơ cấu, tốc độ tăng trưởng và mức đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa, đồng thời hỗ trợ hoạch định và điều chỉnh chính sách dựa trên dữ liệu thực tế.

Dự thảo cũng đặt ra việc xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực sáng tạo, hiệu quả kinh tế, tác động xã hội, mức độ thụ hưởng văn hóa của người dân và sức lan tỏa của giá trị văn hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế. Việc lượng hóa những chỉ số này được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tạo cơ sở đánh giá thực chất quá trình phát triển của công nghiệp văn hóa.

Với cách tiếp cận tổng thể, Dự thảo 1.0 Luật Phát triển công nghiệp văn hóa hướng tới xây dựng một nền tảng pháp lý thống nhất cho lĩnh vực có vai trò ngày càng rõ trong đời sống kinh tế, xã hội. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo môi trường và chính sách, doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo phát huy vai trò trong chuỗi giá trị, còn thị trường trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy phát triển.

Mục tiêu của Dự thảo không chỉ dừng ở việc gia tăng số lượng sản phẩm văn hóa mà hướng tới hình thành những sản phẩm có chất lượng, có khả năng thương mại hóa và xuất khẩu, tạo giá trị kinh tế đồng thời bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam. Nếu được hoàn thiện và triển khai hiệu quả, hành lang pháp lý mới sẽ tạo thêm cơ sở để nguồn lực văn hóa được khai thác bài bản hơn, chuyển hóa thành giá trị kinh tế, xã hội và sức mạnh mềm của đất nước.