Góc nhìn văn hoá: An ninh môi trường - Nền tảng phát triển bền vững

Bảo đảm an ninh môi trường không chỉ là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ cuộc sống Nhân dân mà còn là nền tảng cho đất nước phát triển nhanh, bền vững. Chỉ thị số 15-CT/TW của Bộ Chính trị do Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú ký ban hành 15/10/2026 mở ra yêu cầu mới về tư duy quản trị rủi ro, đồng thời đặt ra đòi hỏi xây dựng văn hóa trách nhiệm, ứng xử hài hòa với thiên nhiên trong kỷ nguyên phát triển mới.
dt1a-2810-1793111037.jpg
Tranh cổ động minh hoạ. Nguồn: Internet.

An ninh môi trường - Từ yêu cầu chiến lược đến trách nhiệm văn hóa

Trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, môi trường không chỉ là điều kiện tồn tại của con người mà còn là nền tảng bảo đảm ổn định xã hội, chất lượng cuộc sống và tương lai các thế hệ. Khi ô nhiễm, suy thoái tài nguyên, biến đổi khí hậu và thiên tai cực đoan ngày càng diễn biến phức tạp, bảo vệ môi trường không còn đơn thuần là nhiệm vụ quản lý tài nguyên hay xử lý chất thải, mà đã trở thành vấn đề gắn trực tiếp với an ninh quốc gia, an ninh con người và sự phát triển bền vững của đất nước.

Chỉ thị số 15-CT/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh môi trường trong thời kỳ phát triển mới của đất nước thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy lãnh đạo, chỉ đạo đối với lĩnh vực này. Theo đó, an ninh môi trường được nhìn nhận trong mối quan hệ tổng thể giữa môi trường an toàn, ổn định, bền vững với khả năng nhận diện, dự báo, phòng ngừa, kiểm soát và ứng phó hiệu quả trước các nguy cơ, rủi ro. Đây không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước mà còn là trách nhiệm thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó Nhân dân giữ vị trí trung tâm, chủ thể và động lực.

Nhìn từ góc độ văn hóa, ý nghĩa sâu xa của yêu cầu bảo đảm an ninh môi trường nằm ở sự thay đổi trong nhận thức và cách ứng xử của con người với tự nhiên. Văn hóa không chỉ thể hiện qua những giá trị tinh thần, phong tục, tập quán hay các di sản được gìn giữ, mà còn bộc lộ trong cách con người khai thác tài nguyên, sử dụng không gian sống, tiêu dùng và chịu trách nhiệm về những tác động của mình đối với môi trường.

Một xã hội văn minh không thể chỉ được đánh giá bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế, quy mô đô thị hay mức độ hiện đại của hạ tầng, mà còn phải được nhìn nhận qua chất lượng môi trường sống, sự an toàn của cộng đồng và khả năng gìn giữ các nguồn lực tự nhiên cho tương lai. Bởi vậy, phát triển mà đánh đổi môi trường, tạo ra lợi ích trước mắt nhưng để lại hậu quả lâu dài cho cộng đồng là biểu hiện của sự thiếu hụt trách nhiệm văn hóa trong tư duy phát triển.

Chỉ thị của Bộ Chính trị đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế trong tư duy quản trị, thể chế, phối hợp giữa các cơ quan cũng như năng lực nhận diện, dự báo, cảnh báo và xử lý rủi ro. Đáng chú ý, các nguy cơ môi trường ngày càng mang tính liên ngành, liên vùng, liên lưu vực, xuyên biên giới, có khả năng tích tụ, cộng hưởng và chuyển hóa thành những vấn đề an ninh phức tạp. Điều đó đòi hỏi phải vượt qua cách tiếp cận thiên về xử lý hậu quả, chuyển mạnh sang chủ động phòng ngừa, quản trị rủi ro từ sớm, từ xa.

Trong chiều sâu văn hóa, sự chuyển đổi ấy còn là yêu cầu xây dựng ý thức tôn trọng tự nhiên, đề cao lợi ích cộng đồng và coi trách nhiệm môi trường là một chuẩn mực của hành vi xã hội. Mỗi doanh nghiệp cần nhận thức rằng lợi nhuận không thể tách rời nghĩa vụ bảo vệ môi trường; mỗi cơ quan công quyền phải xem chất lượng môi trường sống của người dân là một thước đo trách nhiệm; mỗi công dân cần hiểu rằng những hành vi tưởng nhỏ như xả rác tùy tiện, lãng phí nước, tiêu dùng thiếu kiểm soát hay thờ ơ trước vi phạm môi trường đều có thể góp phần tạo nên những rủi ro lớn hơn.

Xây dựng văn hóa an ninh môi trường, vì thế, không thể chỉ dừng ở tuyên truyền, vận động, mà phải chuyển hóa thành nhận thức, thói quen và hành động cụ thể trong đời sống. Khi ý thức tự giác được củng cố bằng pháp luật nghiêm minh, trách nhiệm xã hội và cơ chế giám sát hiệu quả, bảo vệ môi trường mới thực sự trở thành nhu cầu tự thân của cộng đồng, chứ không chỉ là sự tuân thủ mang tính hình thức.

Quản trị rủi ro, kiến tạo phát triển xanh và bền vững

Một điểm nổi bật trong Chỉ thị số 15-CT/TW là yêu cầu hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực quản trị rủi ro và thi hành pháp luật về an ninh môi trường. Việc tích hợp đánh giá nguy cơ môi trường ngay từ quá trình hoạch định chính sách, chiến lược, quy hoạch, chương trình và dự án có tác động lớn là bước đi cần thiết nhằm ngăn chặn những hệ lụy có thể phát sinh ngay từ khâu lựa chọn phương án phát triển.

Đặc biệt, nguyên tắc chủ thể tạo ra rủi ro phải chịu trách nhiệm tương xứng với mức độ rủi ro và hậu quả gây ra mang ý nghĩa không chỉ về pháp lý mà còn về đạo đức. Nó khẳng định rằng không thể chuyển chi phí môi trường từ hoạt động sản xuất, kinh doanh sang cộng đồng, càng không thể để người dân phải gánh chịu những tổn thất về sức khỏe, sinh kế và chất lượng sống do sự thiếu trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khác.

Từ góc nhìn văn hóa, đây là yêu cầu xây dựng văn hóa trách nhiệm trong phát triển, khắc phục tư duy chạy theo lợi ích trước mắt, coi nhẹ lợi ích lâu dài. Cùng với việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, cần hình thành môi trường khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải, thực hành sản xuất sạch hơn và chủ động thực hiện trách nhiệm với cộng đồng. Sự phát triển bền vững chỉ có thể trở thành hiện thực khi trách nhiệm môi trường được đặt trong cấu trúc giá trị và chuẩn mực hoạt động của cả nền kinh tế.

Chỉ thị đồng thời nhấn mạnh yêu cầu chủ động quản trị những rủi ro liên quan đến tài nguyên, năng lượng, đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan và các thách thức mới nổi, xuyên biên giới. Đây là những vấn đề không thể giải quyết bằng nỗ lực riêng lẻ của từng địa phương hay từng ngành, mà đòi hỏi cơ chế phối hợp thống nhất, khả năng ứng phó liên vùng và sự hợp tác quốc tế thực chất.

Trong bối cảnh ấy, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần trở thành những công cụ quan trọng để nâng cao năng lực quản trị môi trường. Hệ thống giám sát, phân tích, dự báo, cảnh báo sớm và cơ sở dữ liệu liên thông sẽ góp phần phát hiện nguy cơ, hỗ trợ ra quyết định, hạn chế thiệt hại và nâng cao khả năng chống chịu của các đô thị, cộng đồng dân cư và công trình trọng yếu. Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy đầy đủ hiệu quả khi đi cùng thể chế phù hợp, đội ngũ có năng lực, cơ chế phối hợp rõ ràng và tinh thần trách nhiệm trong tổ chức thực hiện.

Cùng với đó, việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Người dân không chỉ là đối tượng được bảo vệ mà còn là chủ thể tham gia nhận diện, giám sát, phòng ngừa và ứng phó với các nguy cơ môi trường. Khi tiếng nói của cộng đồng được lắng nghe, thông tin được cung cấp kịp thời, chính xác và những phản ánh chính đáng được giải quyết thỏa đáng, niềm tin xã hội sẽ được củng cố, tạo nền tảng cho sự đồng thuận trong thực hiện các mục tiêu phát triển.

Đặc biệt, cần quan tâm xử lý dứt điểm những khu vực ô nhiễm nghiêm trọng, kéo dài và các vấn đề môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống Nhân dân. Đây không chỉ là yêu cầu khắc phục hậu quả mà còn là thước đo năng lực quản trị, tinh thần trách nhiệm và tính nhân văn của chính sách. Bảo đảm an ninh môi trường phải hướng tới mục tiêu thiết thực là bảo vệ sức khỏe, sinh kế, sự an toàn và quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân.

Có thể khẳng định, Chỉ thị số 15-CT/TW đặt ra yêu cầu quan trọng đối với quá trình phát triển đất nước trong giai đoạn mới: Gắn bảo vệ môi trường với bảo đảm an ninh quốc gia, an ninh con người và xây dựng nền tảng phát triển bền vững. Nhưng để những định hướng ấy đi vào cuộc sống, điều quyết định không chỉ nằm ở hệ thống chính sách hay các giải pháp kỹ thuật, mà còn ở sự chuyển biến thực chất trong văn hóa lãnh đạo, văn hóa quản trị, văn hóa doanh nghiệp và văn hóa ứng xử của mỗi người dân.

Khi tôn trọng tự nhiên trở thành chuẩn mực, trách nhiệm cộng đồng trở thành động lực và kỷ cương pháp luật được thực thi nghiêm túc, an ninh môi trường sẽ không còn là nhiệm vụ riêng của một lĩnh vực, mà trở thành nền tảng trong tư duy phát triển quốc gia. Đó cũng là con đường để Việt Nam vừa phát huy nguồn lực cho tăng trưởng, vừa bảo vệ các giá trị sống, củng cố sức chống chịu của xã hội và gìn giữ môi trường an toàn, lành mạnh cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

V.X.B