
Hồ sơ CDEC F034603152305, số nhật ký 02-1733-68, do các nhà nghiên cứu và biên tập Tạ Thu Phong – Lê Đăng Quang thực hiện. Đây là tài liệu của phía Mặt trận, bị quân đội Hoa Kỳ thu giữ ngày 05/02/1968 tại khu vực An Mỹ, Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương trong bối cảnh cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Hồ sơ gồm hai tài liệu: một danh sách quân nhân lập vào khoảng tháng 7/1967 và một báo cáo thương vong của Đoàn V7 qua các trận đánh tại Lộc Ninh và Bù Đốp cuối năm 1967.
Điều đáng chú ý là báo cáo thương vong trong hồ sơ này trùng với tài liệu thuộc hồ sơ CDEC F034603242244 đã được nghiên cứu và bàn giao cho Ban Chỉ đạo Quốc gia 515 vào tháng 4/2026. Chính vì vậy, giá trị nổi bật nhất của hồ sơ F034603152305 nằm ở bản danh sách quân nhân viết tay, ghi khá rõ họ tên, quê quán, năm sinh, người thân và một số thông tin chính trị của 11 quân nhân thuộc đơn vị chưa xác định phiên hiệu.
Qua đối chiếu với các tài liệu liên quan đến Đoàn V7, các nhà nghiên cứu nhận định nhiều khả năng đây là lực lượng thuộc Trung đoàn 3 (Q.763), Sư đoàn 9 Bộ binh chủ lực Miền. Đơn vị này từng tham gia chiến dịch Lộc Ninh – Đường 13 cuối năm 1967 và liên tục giao tranh với các đơn vị Hoa Kỳ trên địa bàn Bình Long, Phước Long và Bình Dương. Do vậy, có thể coi đây là một hồ sơ nhỏ, nhưng lại chứa đựng và mở ra nhiều manh mối lớn…
DANH SÁCH 11 QUÂN NHÂN CẦN TÌM THÂN NHÂN VÀ ĐỒNG ĐỘI
1. Nguyễn Văn Hoan (hoặc Loan): Sinh năm 1944, quê xã Mỹ Hạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (nay thuộc tỉnh Tây Ninh). Nhập ngũ ngày 15/10/1965, là chiến sĩ. Vào Đoàn ngày 26/06/1965. Cha là Nguyễn Văn Móc (hoặc Mói), mẹ là Trương Thị Liễu.
2. Lê Tấn Sĩ: Sinh năm 1936, quê xã An Ninh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (nay thuộc tỉnh Tây Ninh). Nhập ngũ ngày 15/10/1965, chiến sĩ. Hồ sơ ghi cha mẹ đều đã mất, không có thêm thông tin thân nhân.
3. Phạm Văn Ù (hoặc Phan Văn Ù): Sinh năm 1941, quê xã Mỹ An Hưng, huyện Lấp Vò, tỉnh Vĩnh Long cũ (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Nhập ngũ ngày 05/06/1962. Đảng viên dự bị từ ngày 03/09/1966. Cha là Phạm (hoặc Phan) Văn Khi, Khôi hoặc Khó; mẹ là Lê Thị Hương.
4. Mai Công Trước: Sinh năm 1938, quê xã Mỹ Lương, huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho cũ (nay thuộc xã An Hữu, tỉnh Đồng Tháp). Nhập ngũ ngày 15/10/1965. Cha là Mai Công Bính, mẹ là Trần Thị Sáu (hoặc Sái), vợ là Đỗ Thị Tám.
5. Trương Quốc Thanh: Sinh năm 1945, quê Hưng Thuận, huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho. Nhập ngũ ngày 15/10/1965. Đảng viên dự bị từ ngày 03/09/1966. Cha là Nguyễn Ngọc Long (hoặc Lung), mẹ là Tăng Thị Được.
6. Trần Xuân Dương: Sinh năm 1944, quê xã Trường Sơn, huyện An Lão, Hải Phòng. Nhập ngũ ngày 28/04/1966. Đảng viên dự bị ngày 28/04/1966, chính thức ngày 17/05/1967. Cha là Trần Văn Gia, mẹ là Phạm Thị Sinh, vợ là Mai Thị Đào.
7. Vũ Văn Dân: Sinh năm 1942, quê xã Quốc Tuấn, huyện An Lão, Hải Phòng (nay thuộc xã An Quang, Hải Phòng). Nhập ngũ ngày 28/04/1966. Vào Đoàn ngày 20/10/1963. Cha là Đỗ Văn Đức (hoặc Được), mẹ là Nguyễn Thị Thuận, vợ là Đỗ Thị Hải.
8. Trần Văn Cu: Sinh năm 1948, quê xã Kế An, huyện Kế Sách, tỉnh Cần Thơ cũ (nay thuộc thành phố Cần Thơ). Nhập ngũ ngày 26/10/1965. Giữ chức vụ A phó (Tiểu đội phó). Cha là Trần Văn Ngọc; mẹ đã mất.
9. Danh Hai (bí danh Chuột): Sinh năm 1943, quê xã Lộc Ninh, huyện Hồng Dân, tỉnh Sóc Trăng. Nhập ngũ ngày 15/03/1963. Giữ chức vụ B phó (Trung đội phó). Đảng viên chính thức từ ngày 08/08/1966. Cha là Danh Hiếu, mẹ là Danh La.
10. Dương Ngôn Luận: Sinh năm 1945, quê xã An Phú, huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Nhập ngũ ngày 11/04/1962. Giữ chức vụ C trưởng (Đại đội trưởng). Cha là Dương Văn Tin.
11. Huỳnh Văn Mai (bí danh Đấu): Sinh năm 1943, quê xã Phú Nhuận, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre cũ. Nhập ngũ ngày 03/03/1962. Cha là Huỳnh Văn Bộ (hoặc Bệ), mẹ là Nguyễn Thị Bé.

Danh sách 10 thương binh:
Theo ghi chép ở mặt sau tài liệu, ngày 04/07/1967 đơn vị có 10 quân nhân bị thương gồm:
1.Huỳnh Thanh Cần – Chiến sĩ cứu thương.
2.Huỳnh Văn Chiểu – Chiến sĩ.
3.Bùi Văn Phúc – Chiến sĩ.
4.Huỳnh Văn Công – Tiểu đội phó.
5.Nguyễn Văn Đức – Chiến sĩ.
6.Lâm Văn Bé – Tiểu đội phó.
7.Trần Văn Giàu – Chiến sĩ.
8.Nguyễn Văn Tiến – Tiểu đội phó.
9.Lâm Hiên Lý – Tiểu đội phó.
10.Trương Văn Đông – Tiểu đội phó.
Ngoài ra, tài liệu còn nhắc tới nhiều cán bộ, chiến sĩ khác thuộc các bộ phận B1, B2, trinh sát, công binh và một số đơn vị chưa xác định, như Hoàng, Chỉnh, Bắc, Hùng, Linh, Ước, Liêm, Cậy, Chiến, Trịnh Xuân Ký, Trương Văn Bính, Ninh Văn Ngần, Cao Văn Xinh, Trương Văn Viên... Đây đều là những đầu mối có thể giúp xác định chính xác hơn phiên hiệu và biên chế của đơn vị.
Mong cộng đồng cùng chung tay tìm kiếm
Gần sáu thập kỷ đã trôi qua kể từ ngày bản danh sách được viết vào tháng 7/1967. Những thanh niên tuổi đôi mươi năm ấy, nếu còn sống, hôm nay đều đã bước qua tuổi tám mươi. Nhiều người có thể đã ngã xuống trên chiến trường, một số đã được Nhà nước công nhận là liệt sĩ, nhưng cũng không loại trừ khả năng vẫn còn những trường hợp chưa được xác minh đầy đủ hoặc thân nhân chưa từng biết đến sự tồn tại của những tư liệu lịch sử quý giá này.
Trong bối cảnh cả nước đang hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), mỗi hồ sơ chiến tranh được giải mã không chỉ mang ý nghĩa nghiên cứu lịch sử mà còn là một hành động tri ân thiết thực đối với những người đã cống hiến tuổi thanh xuân, xương máu cho độc lập, tự do của dân tộc. Danh sách 11 quân nhân và 10 thương binh của đơn vị V7 trong hồ sơ CDEC F034603152305 vì thế không đơn thuần là những dòng chữ trên giấy đã ngả màu thời gian. Đó là những số phận có thật, những cuộc đời có thật, từng sống, chiến đấu, yêu thương và hy sinh giữa những năm tháng khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Nhóm nghiên cứu hồ sơ chiến tranh tha thiết đề nghị các cựu chiến binh từng công tác tại Trung đoàn 3, Sư đoàn 9 Bộ binh chủ lực Miền; các gia đình liệt sĩ, thương binh; cùng nhân dân các địa phương Tây Ninh, Đồng Tháp, Hải Phòng, Cần Thơ, Sóc Trăng, Thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Long và các tỉnh, thành liên quan quan tâm rà soát thông tin. Nếu quý vị từng nghe cha ông kể lại, từng lưu giữ một tấm ảnh cũ, một cuốn sổ tay, một lá thư thời chiến hay đơn giản chỉ là một ký ức về những người lính từng chiến đấu tại Lộc Ninh, Bù Đốp, Bình Long, Phước Long hoặc Thủ Dầu Một trong các năm 1967–1968, xin hãy chia sẻ với nhóm nghiên cứu.

Mỗi thông tin dù rất nhỏ cũng có thể trở thành mắt xích quan trọng giúp kết nối một gia đình với người thân đã mất liên lạc từ nhiều thập kỷ trước. Một cái tên được xác nhận, một quê quán được đối chiếu chính xác hay một nhân chứng còn nhớ được một trận đánh cũng có thể góp phần làm sáng tỏ số phận của một con người. Đó chính là giá trị nhân văn sâu sắc của công tác tìm kiếm thông tin liệt sĩ và cựu chiến binh trong thời bình.
Hưởng ứng Chiến dịch “500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin”, việc công bố các hồ sơ CDEC không chỉ nhằm phục vụ hoạt động tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ mà còn hướng tới mục tiêu lớn hơn: khôi phục ký ức lịch sử, kết nối cộng đồng và lan tỏa văn hóa tri ân trong xã hội. Bởi đằng sau mỗi cái tên trong danh sách ấy không chỉ là một quân nhân. Đó là một gia đình đã nhiều năm chờ đợi. Là một người mẹ từng khóc cạn nước mắt. Là một người vợ đã đi hết tuổi xuân trong nỗi nhớ. Là những người con lớn lên với khát vọng được biết cha mình đã sống, chiến đấu và hy sinh như thế nào.
Nếu tìm được thêm một đồng đội, xác định thêm một thân nhân hay làm rõ thêm một số phận còn bỏ ngỏ, đó không chỉ là niềm vui của riêng một gia đình. Đó còn là sự tiếp nối đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, là biểu hiện sinh động của văn hóa tri ân dân tộc Việt Nam và là món quà ý nghĩa nhất dành cho những người đã ngã xuống vì Tổ quốc trong dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ năm nay.
Hà Nội, 6/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên của TTU-VWAI)