Lốc xoáy - Một góc nhìn riêng mới về lịch sử cận hiện đại Việt Nam

vo-minh-1651055230.jpg
 

            Những ngày tháng Tám mùa thu 2021, Sài Gòn căng thẳng trong lệnh lockdown phòng chống Covid biến thể mới Delta, tôi có vinh hạnh được đọc bản thảo cuốn tiểu thuyết “Lốc xoáy” của tác giả Võ Minh. Vẫn là đề tài cải cách ruộng đất, nhưng khác với những tác giả đi trước, Võ Minh không sa đà kể lể chuyện xưa cũ, tập trung khai thác sâu về những hệ lụy của nó đối với lịch sử đất nước trong suốt chiều dài hơn nửa thế kỷ qua. Bối cảnh của tiểu thuyết là cuộc cải cách ruộng đất ở xóm Lộc Thọ, xã Đức Lộc thuộc vùng quê miền Trung, nhưng hệ lụy của nó thông qua số phận các nhân vật là nạn nhân hoặc thủ phạm đã bén rễ, len lỏi sâu vào các lĩnh vực kinh tế, chính trị, đạo đức, văn hóa, quan hệ xã hội trên bình diện cả nước từ Bắc vào Nam. Đó là cách tiếp cận khôn ngoan đầy bản lĩnh của người cầm bút, khiến tôi hào hứng đọc liền mạch mấy trăm trang sách để rồi không thể không viết đôi dòng về cuốn “Lốc xoáy”.

Cấu trúc cuốn sách chia ba phần: “Trời long đất lở”, “Ma quỷ cõi người”, “Luật đời nhân quả”. Đó cũng là ba cột mốc lịch sử trong diễn biến thời cuộc nước nhà: cải cách ruộng đất và bài phong, phản đế; hợp tác hóa nông thôn và chiến tranh, đổi mới và hội nhập. Làng quê Lộc Thọ yên bình thơ mộng bỗng dưng ập đến một biến cố long trời lở đất. Ngô Kiểm là cán bộ miền Nam tập kết, gốc gác nông dân tỉnh Khánh Hòa, văn hóa thấp, được bồi dưỡng cấp tốc dăm ngày về lý luận đấu tranh giai cấp, khẩu hiệu bài phong phản đế rồi về Lộc Thọ làm Đội trưởng cải cách, nắm quyền sinh quyền sát. Anh là mẫu người “Thiên Lôi chỉ đâu đánh đấy”, trung thành với tổ chức, tuân lệnh và mù quáng làm theo chỉ bảo của cấp trên là ông Đoàn trưởng máu lạnh, hám thành tích, luôn miệng nhắc nhở anh phải tìm cho ra số địa chủ vượt chỉ tiêu năm phần trăm, sẵn sàng dừng xe đạp giữa đường ký án tử hình trong vài chục giây mà không thèm đọc báo cáo của cấp dưới. Ngô Kiểm thuộc lòng kịch bản được học, về xóm Lộc Thọ “ba cùng” với nông dân, tìm một số người nghèo kiết không tấc đất cắm dùi như Du “him”, Xuân “lắc”, Xoan “trầu”, mụ Mận… làm nòng cốt phát động phong trào đấu tố địa chủ. Anh đâu biết, họ chỉ là tầng lớp vô sản lưu manh nông thôn theo chính định nghĩa của ông tổ học thuyết đấu tranh giai cấp Các Mác. Và như thế, Ngô Kiểm đã dần tự biến mình thành kẻ bất lương hòa nhập với đám vô sản lưu manh ấy, gieo bao oan ức, tang tóc cho những người dám từ bỏ cuộc sống giàu sang tham gia cách mạng hoặc cưu mang giúp đỡ cán bộ trong cuộc kháng chiến chống Pháp chỉ vì một tội duy nhất là giàu hơn người khác. Đỉnh điểm của tấn bi kịch đẫm máu mà cũng rất hài là phiên tòa đấu tố, xét xử, tử hình các địa chủ Toàn, Hàm, Mùi, Năm… diễn ra ở cồn Ma, trước sự chứng kiến của những người nông dân tử tế, thuần phác nhưng khiếp nhược như hoe Quýnh, Tạo, Hoàng, Dung…

Bằng những trải nghiệm tuổi thơ đau đớn ở chính quê hương Lộc Thọ, hơn ai hết nhân vật Minh Quang đã thấm thía tận thẳm sâu trong anh sự thật phũ phàng ấy. Và đó cũng là chủ đích của tác giả tập trung miêu tả trong phần hai - “Ma quỷ cõi người”. Đám vô sản lưu manh Du “him”, Xuân “lắc”, Xoan “trầu”, mụ Mận sau khi phởn chí vì cướp đoạt tài sản của địa chủ, lại được trao quyền lực đã hình thành bộ tứ lãnh đạo ở xóm Lộc Thọ, nhanh chóng biến thành ma quỷ đội lốt người, trổ hết ngón nghề điêu toa đĩ bợm, mưu hèn, kế bẩn để củng cố, mở rộng uy quyền ra toàn xã Đức Lộc. Bắt đầu là chiến dịch bài trừ mê tín dị đoan, văn hóa phản động dẫn đến những vụ đốt sách, điên cuồng đập phá đền, chùa, đình, miếu. Tiếp đến là phong trào hợp tác hóa nông thôn được bọn chúng lợi dụng kẽ hở quản lý của nền kinh tế tập trung để vơ vét tài sản chung làm của riêng, thẳng tay đàn đàn áp những người làm ăn chân chính như hoe Quýnh, hay trù úm, ngăn cản việc học hành của con em những nhà bị quy oan như Tạo, Chí, Hoa... thậm chí hành hạ tàn nhẫn cả những người vợ địa chủ xinh đẹp, phúc hậu như bà Nga. Mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân ngày thêm sâu sắc, nhưng chiến tranh lan ra miền Bắc làm tạm lắng sự căng thẳng nội bộ, dồn hết nhân tài, vật lực cho chiến trường với khẩu hiệu “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Vài người trong đám yêu tinh ma quỷ hồi cải cách ruộng đất, điển hình là Du “him” đã khôn khéo nịnh bợ, dối trên lừa dưới tạo ra những thành tích giả hiệu để leo dần từng nấc thang quyền lực từ xóm lên xã rồi lên huyện, lên tỉnh…

Chiến tranh kết thúc. Cuộc sống hòa bình nảy sinh những mâu thuẫn xã hội và thử thách mới trong từng cảnh ngộ, trong mỗi phận người. Đi theo đó là nỗi ám ảnh chiến tranh khôn nguôi trong lòng các nhân vật ở miền quê Lộc Thọ, mà thời gian và cuộc tái thiết thời hậu chiến du đẩy họ tỏa đi khắp nơi trong nước, ra tận nước ngoài. Không gian và nội dung phản ánh hiện thực đời sống của phần ba cuốn tiểu thuyết vì thế cũng mở rộng. Ở phần ba này, tác giả dành nhiều tâm huyết, công phu miêu tả số phận của nhiều nhân vật ở cả hai phía nạn nhân và thủ phạm trong cuộc cải cách ruộng đất lần lượt khép lại theo luật nhân quả ở hiền gặp lành, ác giả ác báo. Tác giả mừng cho sự thành đạt và hạnh phúc của Minh Quang con địa chủ Năm, Phúc con nhân vật Tạo… Nhưng với tấm lòng nhân hậu, ông vừa giận lại vừa thương cho bất hạnh cuối đời của Xuân “lắc”, Xoan “trầu” và cả Mưu què, đứa con trai đã một thời là niềm tự hào, hy vọng nhất của bà ta. Cuộc tái ngộ bất ngờ giữa Minh Quang với ông Đội trưởng cải cách năm xưa đã dẫn dắt chúng ta đến với các mối quan hệ phức tạp trong gia đình giữa bố con, vợ chồng, anh em ruột thịt trong tình cảnh éo le của nỗi đau chiến tranh được tác giả mô tả chi tiết trong nhiều trang sách. Qua đó cho ta thấy đầy đủ bi kịch chung của các gia đình bị chia lìa Nam – Bắc, có người thân hay con cái ở hai bờ chiến tuyến, giữa thời tao loạn huynh đệ tương tàn. Những tình tiết éo le nhưng thú vị này gợi cho ta hy vọng về sự hòa giải dân tộc sớm muộn sẽ thành hiện thực.

Cái cao tay, nét độc đáo, sự thâm thúy của tác giả ở chỗ ông để cho nhân vật Du “him” trong bộ tứ ma quỷ của chính quyền xóm Thọ Lộc năm xưa sống dai và leo cao nhất để làm bệ phóng kéo dài hệ lụy cuộc cải cách ruộng đất sang thế hệ thứ hai là thằng Lãng con trai ông ta, thằng Hùng “lì” con trai Xuân “lắc”. Hai đứa, một là doanh nhân bất lương, một là trùm băng đảng xã hội đen kết hợp với nhau tha hóa cán bộ như Lãng đã làm với ông Hoàng Kiền, Bí thư tỉnh ủy Tĩnh An hay uy hiếp Khoa “khàn”, Giám đốc công ty sân sau của ông Bình, Chủ tịch tỉnh để giành giật khu đất vàng cho nhóm lợi ích Hoàng Kiền - Lãng như Hùng “lì” đã cùng đám đệ tử ra oai. Sự kết hợp ấy không chỉ dừng ở tỉnh Tĩnh An, còn vươn xa vào tận thành phố Hồ Chí Minh, dưới bàn tay đạo diễn của kẻ giấu mặt là gã người Hoa họ Lý. Chúng hình thành một thế lực đáng gờm để buôn lậu, gian lận thương mại và làm hư hỏng cán bộ, phá hoại kinh tế, kỷ cương pháp luật của thành phố đông dân, có nguồn thu ngân sách lớn nhất cả nước. Yếu tố nước ngoài của vụ việc này cảnh báo nguy cơ bất ổn chính trị, kinh tế trong cuộc đổi mới và hội nhập cũng như cái giá phải trả cho nó. Cho dù cái chết lãng xẹt của ông Du vì tai nạn tàu hỏa, nhưng vẫn còn đó thằng Lãng con của ông ta, Hùng “lì” con của Xuân “lắc”. Chúng đại diện cho cho thế hệ thứ hai của đám vô sản lưu manh thời cải cải cách ruộng đất, nên đất nước mới nhung nhúc những bầy sâu, làm sao phát triển nếu không loại chúng ra khỏi hệ thống quản trị đất nước?!...

Nhìn chung, cuốn tiểu thuyết “Lốc xoáy” không chỉ cho tôi nhiều cảm xúc bởi nội dung tư tưởng riêng mới của tác giả. Về mặt nghệ thuật thể hiện, tác phẩm cũng có nét riêng hấp dẫn người đọc. Những chuyện bi hài thời cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông thôn hay hiện thực chiến tranh ác liệt ở hai phần “Long trời lở đất” và “Ma quỷ cõi người” được tác giả kể lại theo mô thức thời gian phi tuyến tính, phần nọ tràn lấn sang phần kia bằng những hồi ức đan xen giúp người đọc bớt đi cảm giác nặng nề. Kết cấu chặt chẽ và ém chuyện, tạo ra cái kết bất ngờ để người đọc khó suy đoán được kết cục. Các nhân vật thuộc nhóm vô sản lưu manh nông thôn được tác giả khắc họa bằng những nét chấm phá hay hình tượng văn học hài hước đậm chất dân gian: Tình tiết con Mực theo vợ chồng Du “him” đi chiếm nhà địa chủ Năm, nhưng đến gần cửa nó nằm lết đất, một mực đòi quay lại túp lều cũ nát là sự tương phản tính cách giữa chó với người. Có những tình tiết khác làm ta liên tưởng đến nhiều giai thoại về nhân vật Ba giai tú xuất lưu truyền trong dân gian thế kỷ 19 ở Hà Nội. Những pha gạ tình đổi thóc giữa Xoan “trầu” với Xuân “lắc”; việc mụ Mận mặc cả với Ngô Kiểm vòi vĩnh chức vụ cho chồng trong lúc làm tình; chi tiết thằng Lãng lừa cô gái đi nhờ chui vào gầm xe để cưỡng hiếp, còn bố mẹ cô bị lừa nhốt trên ca bin cũng đậm chất tiếu lâm hiện đại trong giới lái xe lưu manh thời bao cấp… Những tình tiết đắt giá ấy, ngoài tác dụng gây cười còn lột tả một cách sinh động, rõ nét bản chất lưu manh của nhân vật cần khắc họa nhân cách…

Đọc hết bản thảo cuốn “Lốc xoáy” của Võ Minh, tôi bồi hồi xúc động. Dù tác phẩm có đôi chỗ khô cứng trong câu chữ, nhưng “Lốc xoáy” vẫn là một cuốn tiểu thuyết hay, cuốn hút độc giả bởi tính chân thực, góc nhìn riêng mới về cải cách ruộng đất. Nó xứng đáng tìm được chỗ đứng sang trọng trên kệ sách các thư viện và trong tủ sách gia đình những người yêu sách, quan tâm đến lịch sử cận hiện đại nước nhà.

 Sài Gòn mùa Covid 8/2021 VNT