
NSND Tạ Minh Tâm và tốp múa biểu diễn ca khúc Lá cờ Đảng. Ảnh: Tư liệu
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của những điều kiện khách quan và chủ quan của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giai cấp Việt Nam trong thời đại mới; là kết quả của một quá trình lựa chọn con đường cứu nước, tích cực chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức của một tập thể chiến sĩ cách mạng mà người có công đầu là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh; là sự sàng lọc và lựa chọn nghiêm khắc của lịch sử Việt Nam qua nhiều thập kỷ tranh đấu của dân tộc Việt Nam, tính từ khi bị mất nước vào tay đế quốc thực dân cũ của người Pháp.
Thời kỳ bị thực dân Pháp xâm lược, cả đất nước ta như ở trong đêm dài nô lệ. Biết bao người con ưu tú, biết bao chiến sĩ cách mạng đã bị dẫn ra trường bắn. Những nhà tù nổi tiếng như Hỏa Lò, Sơn La, Côn Đảo… luôn chật ních những người cộng sản. Tuy nhiên, lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam vẫn hừng hực ý chí phản kháng. Những cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nông dân trên khắp mọi miền đất nước vẫn diễn ra liên tiếp và chỉ trong một thời gian ngắn, ba tổ chức Đảng Cộng sản đã được thành lập ở ba miền Trung - Nam - Bắc.
Ngày 17/6/1929, tại số nhà 312 phố Khâm Thiên, Hà Nội, đại biểu các tổ chức cơ sở cộng sản ở miền Bắc họp đại hội quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng, thông qua tuyên ngôn, điều lệ của Đảng, quyết định xuất bản tờ báo cách mạng có tên là Búa Liềm, cử ra Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng từ một số hội viên tiêu biểu trong tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Ở Nam Kỳ cũng vạch ra kế hoạch tổ chức Đảng Cộng sản. Ngày 25/7/1929, các thành viên yêu nước đang hoạt động ở Trung Quốc đã gửi Đông Dương Cộng sản Đảng một bức thư thông báo quyết định thành lập thêm một Đảng Cộng sản bí mật có tên là An Nam Cộng sản Đảng. Đảng có một chi bộ hoạt động ở Trung Quốc và lần lượt có nhiều chi bộ ra đời ở Nam Kỳ. Những đảng viên tiên tiến của Tân Việt Cách mạng Đảng tiếp tục tách ra khỏi tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội để thành lập một Đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin, lấy tên là Đông Dương Cộng sản Liên đoàn vào tháng 9/1929.
Như vậy, trong vòng không đầy bốn tháng, từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1929, đã có ba tổ chức Đảng Cộng sản ra đời ở ba miền đất nước, phản ánh xu thế tất yếu của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Song sự tồn tại ba Đảng hoạt động biệt lập có nguy cơ dẫn đến một sự chia rẽ lớn. Yêu cầu bức thiết là phải có một Đảng Cộng sản thống nhất cả nước. Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản cũng chỉ rõ: “Nhiệm vụ quan trọng nhất và vô cùng cấp bách đối với tất cả những người cộng sản Đông Dương lúc này là phải thành lập một Đảng cách mạng của giai cấp vô sản, nghĩa là một Đảng Cộng sản của quần chúng nhân dân. Đảng đó phải là Đảng Cộng sản thống nhất và duy nhất ở Đông Dương”.
Nhận được nhiệm vụ, Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Xiêm (Thái Lan) (tháng 12/1930) lập tức Người sang Quảng Đông - Trung Quốc, đến nơi vào ngày 23/12. Sau đó, Người đã triệu tập các đại biểu của hai nhóm An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Đảng. Cuối tháng Giêng năm 1930, các đồng chí đại diện đã có mặt tại Cửu Long: hai đại biểu Đông Dương Cộng sản Đảng là Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh; hai đại biểu An Nam Cộng sản Đảng là Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiện. Các ông Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu đại diện cho tổ chức Đảng ở nước ngoài; Nguyễn Ái Quốc đại diện cho Quốc tế Cộng sản. Đại biểu của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn không đến kịp. Song không thể chờ đợi được nữa.
Hòa theo không khí vui xuân, đón Tết để che mắt địch, Nguyễn Ái Quốc quyết định họp Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Đảng trong nước thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị họp vào ngày 3/2 (tức ngày mùng 5 Tết Canh Ngọ 1930). Phiên đầu tiên họp tại một căn phòng khách sạn loại 2, nơi nghỉ trọ của phần lớn các đại biểu. Mọi người ngồi chung quanh một chiếc bàn gỗ, trên bàn bày sẵn một bộ bài, để nếu ai đó có nghi ngờ thì tưởng đây là nơi tụ tập của những người ham mê cờ bạc trong dịp Tết.
Hội nghị đã thông qua Chánh cương vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ tóm tắt của Đảng và Điều lệ tóm tắt của các hội quần chúng do Hồ Chí Minh (Nguyễn Ái Quốc) soạn thảo, định kế hoạch lập Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng. Ngày 3/2/1930 được lấy làm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hai mươi mốt ngày sau, ngày 24/2/1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn cũng được tiếp nhận vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Đến đây, cả ba tổ chức cộng sản ở nước ta đã hoàn thành việc thống nhất thành một Đảng duy nhất có tên gọi là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp ở nước ta trong thời kỳ mới; là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam chứng tỏ giai cấp vô sản nước ta đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng. Đó là cột mốc đánh dấu sự chuyển biến của giai cấp công nhân Việt Nam từ trình độ tự phát sang trình độ tự giác; đồng thời là cột mốc đánh dấu bước ngoặt trọng đại của lịch sử cách mạng nước ta.
Từ đây, cách mạng Việt Nam được sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam - một Đảng kiên cường, có đường lối cách mạng khoa học và sáng tạo - đã phát triển với những bước đi vững chắc, đủ sức đương đầu với mọi kẻ thù và liên tiếp giành được những thắng lợi vĩ đại, mang tầm vóc lịch sử. Trong một cuộc hội thảo quốc tế cách nay khoảng 25 năm, nhiều đại biểu nước ngoài đã khẳng định: ở Việt Nam, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 là một trong những sự kiện quan trọng bậc nhất của thế kỷ XX.
N.A.T