Ngôn ngữ mang bản sắc dân tộc trong tập thơ Hồn núi

Những năm gần đây, đóng góp thêm cho sự phong phú và đa dạng đó có nhà thơ Lương Định, ông là người dân tộc Tày của quê hương xứ Lạng.

                     

nui-doi-1626793734.jpg
 

         Trong dòng chảy của nền thi ca đương đại nước nhà, có rất nhiều nhà thơ người dân tộc thiểu số tài hoa, mỗi người có một phong cách riêng đến với thơ ca, dùng ngôn ngữ thơ để nói lên tình cảm của mình đối với quê hương, đất nước, ngôn ngữ thơ của họ có sắc thái riêng  không lẫn vào đâu được, đó là các nhà thơ khá nổi tiếng như Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Cầm Vĩnh Ủi, Mai Văn Phấn, Y Phương, Từ Ngàn Phố…Những tác phẩm của họ đã đóng góp cho sự đa dạng, phong phú của thi ca Việt Nam. Những năm  gần đây, đóng góp thêm cho sự phong phú và đa dạng đó có nhà thơ Lương Định, ông là người dân tộc Tày của quê hương xứ Lạng, ông là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1997), Hội viên Hội Nhà văn TP. HCM (2000), Hội viên Hội Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (2000). Là thế hệ nhà văn trưởng thành trong thời kỳ sau đổi mới, ông đã xuất bản 4 tập thơ và sáng tác hàng trăm bài thơ in trên các báo, tạp chí Trung ương và địa phương  và giành khá nhiều giải thưởng của Hội Văn học các dân tộc Thiểu số Việt Nam, Hội Nhà  văn Việt Nam, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh. Cũng như bao nhà thơ khác, chủ đề trong thơ ông đều hướng về một ý chủ đạo lớn là về đề tài tình yêu quê hương, đất nước, chứa chan nỗi niềm nhân thế, nhân sinh, cảm thông, chia sẻ trước bao nỗi vất vả của những người lao động, nỗi nhớ quê hương bản quán hoặc những vùng quê yên bình trên mọi miền đất nước…Năm 2020, Hội Nhà văn Việt Nam đã xuất bản tập thơ HỒN NÚI của ông và đã được bạn đọc và công chúng yêu thơ ghi nhận.  Tập thơ HỒN NÚI dày gần 200 trang gồm 159 bài thơ. Với một lợi thế là nhà báo, đi nhiều, trải nghiệm nhiều , Lương Định đã khắc họa khá thành công hiện thực cuộc sống và dũng cảm đi tìm những thủ pháp mới cho thi ca. Trong số 159 bài trong tập thơ HỒN NÚI thì có tới gần 30 bài viết về tâm tư, tình cảm, đời sống, những khát vọng vươn lên hoặc ca ngợi những cảnh đẹp mà thiên nhiên ban tặng cho người người miền núi chất phác, đôn hậu. Quá nửa đời phiêu bạt trên mảnh đất phương Nam, nhưng những vần thơ ông viết về quê hương đau đáu một nỗi niềm với tình yêu quặn thắt :( Quê tôi xứ Lạng núi non/ Thờ chồng Tô Thị hóa hòn vọng phu/ Mẫu Sơn dáng mẹ ưu tư/Chùa tiên cõi phật tịnh ru gữa trần), để rồi : (Bây giờ đào thắm xa xôi/ Mai vàng xứ lạ bên tôi hững hờ…) ( Lục bát núi đồi).

Là người con của núi rừng nên trong thơ, ông thường sử dụng nhưng ngôn ngữ rất giản dị để thể hiện ngôn ngữ đặc tả: (Bỏ con dao vào bao/Nhớ mài thật sắc/Khi cần rút ra/Tự mở một con đường…). Để tìm tòi một thủ pháp góp phần cách tân trong thơ ca, ông diễn đạt điều này bằng hình ảnh như người dân miền núi tự mở lối đi trong rừng : (Lối đi trong rừng/ Không ai mở sẵn/ Con tự mở lối đi/ Bằng con dao của mình…). (Lời người cha Lũng Núi)

Sinh sống và làm việc ở một thành phố đông đúc và hiện đại nhất nước, nhà thơ tự ví mình như con chim núi, ấy là tâm sự nỗi niềm của người con xa quê, luôn hướng về những cánh rừng bạt ngàn hoa dẻ, hoa hồi và những dãy núi vòng cung  bốn mùa bảng lảng mây trắng :( Con chim núi/ Một lần bay khỏi núi/Đậu bơ vơ trên những tòa nhà…) để rồi ( Chim bây giờ/Thành một con chim khác/Xa lạ núi non mình? Sợ hãi cả cành con). (Chim núi).

Trong bài thơ Về với núi ông gửi gắm tâm sự nỗi niềm của đứa con xa quê hương, tình yêu cháy bỏng đối với quê nhà xứ Lạng bằng những vần thơ ngậm ngùi, đắng chát : ( Về với núi/ Hành  trang trong tôi chẳng có gì đáng giá/ Ngoài những tập thơ mỏng tang/Trĩu nặng ưu tư/Dâng lên bàn thờ tổ tiên cấn cáo ).Trong chiều sâu thẳm của thơ Lương Định, người con của núi rừng , từ tuổi ấu thơ đến lúc trưởng thành, những suy nghĩ, cảm nhận cuộc sống, luôn suy nghĩ, khát khao, mơ ước bằng lối so sánh đậm chất núi rừng : (Ta hòn đá lẻ/ Mơ nay về trời/ Em là con chim ưng/ Đại bàng trong thơ anh). Cũng như bao người miền núi khác, ông rất yêu thích loài chim đại diện cho những loài chim dũng cảm, mạnh mẽ như chim ưng, chim đại bàng và lấy hình ảnh bay lượn tự do của chúng để nói lên những khát vọng tự do thoát khỏi cuộc sống tù túng, đơn điệu, nhàm chán kể cả trong văn chương nghệ thuật. Trong bài thơ Chim ưng ông  viết : ( Ta như chim ưng/ Ngày kia rời núi/ Tự do giữa trời xanh lồng lộng/ Lượn bay…/ Vời vợi/ Đơn côi.) Một lần về với Tây Nguyên, nơi có những mái nhà rông ẩn hiện giữa núi rừng hùng vĩ gắn với bao truyền thuyết , sử thi , ông phát hiện những điều khác thường để ca ngợi mảnh đất, con người Tây Nguyên bằng thứ ngôn ngữ so sánh rất chính xác: ( Cõng mặt trời lên lưng bỏng rát/ Uống đến cạn nguồn sông/ Suốt đời không hết khát/ Những mái nhà rông sắc lẹm lưỡi rìu/ Chém ngược vào trời xanh truyền thuyết…). ( Tây Nguyên khác thường).

Đôi khi, có những mạch cảm xúc vừa sâu lắng, vừa da diết trữ tình nhớ về quê nhà xa ngái, ngôn ngữ thơ rất trong trẻo, hiện đại như nhớ về mối tình đầu : (Thương nhớ lắm miền quê Lũng Núi/ Ngày anh xa sơn nữ vẫn còn son/ Da diết quá Kỳ Lừa phiên chợ hát/ Câu Sli nào sơn nữ tặng riêng anh…). (Chân quê miền Lũng núi).

Là một nhà báo nhưng với tình yêu văn chương nghệ thuật sâu sắc, nhất là lĩnh vực thơ, Lương Định đã dành bao tâm huyết cho những sáng tác của mình, ông làm việc như một phu chữ  thực thụ, gần bốn mươi năm làm thơ, viết báo ông đã gặt hái khá thành công trong văn học nghệ thuật. Tuy vẫn còn có một số hạn chế nhất định,  nhưng tập thơ Hồn Núi đã vinh dự được trao giải tại giải thưởng hằng năm của Hội Văn học các Dân tộc Thiểu số Việt Nam năm 2020 và những đóng góp của ông khẳng định thêm sự đa, dạng phong phú của nền văn học nghệ thuật nước nhà.

Đào Văn Hùng

Đào Văn Hùng

03:34 16/08/2021

Bình luận thơ không dễ, mong được đọc nhiều bài bình thơ thú vị như thế này.