
Đường Huyền Tông hoặc Đường Minh Hoàng là vua nhà Đường bên Tầu từ năm 713 đến năm 755 của Công Nguyên, là một ông vua tài năng, sùng đạo Phật, có năng khiếu và yêu văn chương nghệ thuật. Thời cầm quyền ông đã phái hòa thượng Đường Tam Tạng lên đường sang Tây Trúc thỉnh kinh, chuyến đi của Đường Tam Tạng và tùy tùng gian truân và sinh động, sau này trở thành dữ liệu viết thành quyển đại tiểu thuyết thứ nhất TÂY DU KÝ - một trong tứ đại tiểu thuyết của văn chương Trung Hoa xưa (gồm: Tây Du Ký, Tam Quốc Chí, Thủy Hử, Hồng Lâu Mộng). Ông còn nổi tiếng vì là vị vua sở hữu Dương Quý Phi - một trong tứ đại mỹ nhân của Trung Hoa (TÂY THI thời Chiến Quốc, CHIÊU QUÂN thời Tây Hán, ĐIÊU THUYỀN thời Tam quốc, Dương Quý Phi thời Đường) Giúp Vua trị quốc, ngoài những quân sư đa mưu túc trí, những tướng lĩnh thao lược uyên thâm và dạn dày trận mạc còn có La Công Viễn - một đạo sĩ pháp thuật cao cường, thần thông biến hóa luôn ở bên cạnh vua.
Đường Minh Hoàng từ lâu đã có một mơ ước lên thăm cung trăng. Chiều ý vua, La Công Viễn bèn chờ đúng trung thu báo vua chuẩn bị lên cung trăng. Chờ đến tối Trung thu, La Công Viễn tung một dải lụa lên trời biến thành một cây cầu bạc nối từ cung Vua ở kinh đô nhà Đường lên thẳng cung trăng. Sau khi làm phép xuất hồn cho Vua, Vua vẫn nằm ngủ trên long sàng trong cung Trường An nhưng hồn thì cùng La Công Viễn lướt trên cầu bạc.
Lên đến cung trăng thấy không gian sáng bừng rực rỡ, đến cửa một cung điện có biển đề Quảng Hàn Cung, vua bước vào thì thấy cung điện ngát hương, khoảng một trăm tiên nữ xiêm y lộng lẫy đang múa hát tưng bừng, vũ điệu uyển chuyển thanh cao, âm nhạc du dương dìu dặt, vua chưa từng thấy bao giờ nên nhìn ngắm rất say mê, mới hỏi La Công Viễn đây là điệu múa gì? La Công Viễn trả lời vua: Đây là điệu NGHÊ THƯỜNG VŨ Y:




(NGHÊ: cái cầu vồng, THƯỜNG: cái xiêm, cái váy, VŨ: lông chim, Y: cái áo)
Có nghĩa là: Khi múa các tiên nữ mặc áo mô phỏng lông chim, mặc váy mô phỏng bảy sắc cầu vồng. Lấy trang phục xiêm y để đặt tên cho điệu múa. Vua vô cùng cao hứng, tấm tắc khen rồi dùng cách bấm độn trên đốt ngón tay để ghi bản nhạc, quan sát ghi nhớ các nhạc cụ, trong dàn nhạc và vũ đạo của từng động tác múa cũng như trang phục.
Để Vua xem say sưa đến gần nửa đêm. La Công Viễn giục Vua phải về ngay vì cầu lụa bạc chỉ được hạn dùng đến nửa đêm. Sau khi về đến hạ giới, La Công Viễn làm phép nhập hồn để Vua ngủ đến sáng.
Sáng hôm sau trở dậy điều đầu tiên Vua Đường Minh Hoàng đã ban chiếu chỉ: Từ nay về sau lấy Trung thu là một ngày tết hàng năm của trần gian, tất cả các nước trong tầm ảnh hưởng của nhà Đường đều phải làm theo. Về sau do giao thoa văn hóa, những nước không phụ thuộc nhà Đường cũng đều theo phong tục này. Vua Đường Minh Hoàng còn bắt dàn nhạc cung đình phải tập điệu NGHÊ THƯỜNG VŨ Y theo đạo diễn của chính nhà vua. Từ đó điệu múa được gọi tắt là VŨ KHÚC NGHÊ THƯỜNG - một điệu múa cung đình chính thức của nhà Đường, được dùng thường xuyên trong các lễ hội hoặc tiếp các đoàn ngoại giao.
Lấy cảm hứng từ sự tích Đường Minh Hoàng du nguyệt điện, nhạc sĩ Doãn Mẫn đã sáng tác bài VŨ KHÚC NGHÊ THƯỜNG. Đây là một trong hai bài nổi tiếng nhất của nhạc sĩ Doãn Mẫn (Biệt Ly ra đời năm 1939 và Vũ Khúc Nghê Thường ra đời năm 1940).
Doãn Mẫn sinh ngày 15/10/1919 quê làng Hoàng Mai Hà Nội, là nhạc sĩ tiền bối thuộc trào lưu lãng mạn trong phong trào âm nhạc cải cách - phong trào Tân nhạc Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20, hoạt động trong nhóm nhạc TRICÉA gồm các nhạc sĩ: Văn Chung (sinh năm 1914) + Lê Yên (1917) + Doãn Mẫn (1919). Tác phẩm từ buổi đầu của Doãn Mẫn: Gió thu (sáng tác năm 1937), Tiếng hát đêm Thu (1938), Một buổi chiều mơ (1939), Biệt ly (1939), Vũ Khúc Nghê Thường (1940).
Sau Cách mạng tháng Tám nhóm TRICÉA trở thành các nhạc sĩ cách mạng, Doãn Mẫn đã có nhiều tác phẩm mới. Khi trường Âm nhạc Việt Nam thành lập năm 1956, nhạc sĩ hiệu trưởng Tạ Phước đã mời nhạc sĩ Doãn Mẫn về làm Trưởng phòng Giáo vụ của trường. Sau mấy năm ông chuyển về làm công tác nghiên cứu tại Viện Âm nhạc - Bộ văn hóa cho đến khi về hưu.
Đầu thế kỷ 20, sự tích Đường Minh Hoàng du nguyệt điện cũng đã được các gánh cải lương miền Nam Việt Nam chọn lọc dàn dựng và biểu diễn, nhưng phải đến 1950 mới có vở diễn cải lương hoàn chỉnh và nổi tiếng nhất do đoàn Phụng Hảo (của nữ nghệ sĩ Phùng Há làm đoàn trưởng), vở diễn được công chúng hoan nghênh nhiệt liệt.
Sau này công chúng Việt Nam còn được xem nhiều phim cổ trang của Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông có những trường đoạn múa hát cung đình mô phỏng hoặc phóng tác theo sự tích Vũ Khúc Nghê Thường vô cùng hấp dẫn.
Bài hát Vũ Khúc Nghê Thường của Doãn Mẫn sáng tác từ năm 1940, đã tưởng là bị thất truyền vì từ lâu tìm trên Google hoặc hỏi AI cũng đều không có, may mắn đã tìm được từ tư liệu cũ có bút tích của nhạc sĩ.
Nhân dịp Tết Trung Thu trân trọng giới thiệu cùng các bạn yêu âm nhạc:



