Phận người, kiếp lá (Nhân đọc tập thơ “Nhặt lại thời gian” của Nguyễn Xuân Hùng, NXB Văn học, 2026)

Thơ ca như một thói quen vần điệu luôn ám ảnh tâm hồn ta. Người không làm thơ cũng thuộc đôi ba câu còn với người đam mê văn chương thì gặp hoàn cảnh nào gợi nhớ lại ngâm nga bài thơ này, câu thơ kia và không quên viết những câu thơ của lòng mình. Cho dù cất cao giọng đọc chỉ thầm thĩ trong lòng như thế cũng đủ thấy rằng chẳng ai giấu được đời mình trong thơ cả.
kiep-la-1793331829.jpg
Nhà thơ, Thạc sĩ Bùi Việt Phương, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Phú Thọ.

Tôi quen với nhà thơ đàn anh Nguyễn Xuân Hùng – Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam - Hiện đang làm biên tập viên văn nghệ của Báo và Phát thanh, truyền hình Phú Thọ - một người đã lặn lội gian khó và khi anh được thảnh thơi khi chúng tôi còn đang lặn lội học hành và mưu sinh. Dĩ nhiên, anh cũng viết trước tôi cả thập kỉ, đi nhiều và đầy suy cảm về cuộc sống. Tôi đọc thơ và nghe anh kể về những kỉ niệm mới thấy rằng: người đi sau có thể thể không bao giờ chạm chân tới những giới hạn mà người đi  trước đã đặt dấu chân. Dĩ nhiên, đó không phải là những khoảng cách về tiền bạc, địa vị, danh hiệu… mà chính là sự va vấp, day dứt, khổ đau và từ đó trân quý giá trị con người. Thế mới hay, gian nan và khó nhọc cũng là một thứ “kỉ vật” mà người cầm bút nào cũng mang theo suốt cuộc đời mình. Và, khi đưa những điều ấy vào sáng tác nó trở thành

Trước khi in tập thơ Nhặt lại thời gian (Nxb Văn học 2026) anh Nguyễn Xuân Hùng đã có 4 tập thơ, một tập truyện ngắn, và chắc hẳn còn nhiều bài thơ, nhiều bài báo đã công bố…tiếc là tôi chưa được đọc hết hoặc đã đọc nhưng chưa hệ thống được thành một mạch cảm xúc mà chỉ có những ấn tượng đơn lẻ.

kiep-la2-1793331829.jpg
Bìa tập thơ “Nhặt lại thời gian” của nhà thơ Nguyễn Xuân Hùng”

Tự nhận ra điều đáng tiếc ấy nên khi cầm tập thơ này trên tay phải đọc kĩ và quyết tìm ra một ấn tượng nào đó của Nguyễn Xuân Hùng. Ngoài bìa sách rất đẹp, giấy in, thiết kế trang nhã thì còn hơn 50 bài thơ và các bài viết của bạn văn yêu quý, trân trọng sáng tác của anh. Từ ấn tượng của con người xã hội đến sự hình dung về một chủ thể trữ tình trong sáng tác chưa bao giờ là việc dễ dàng. Tôi đã đọc hết một lượt rồi lại thấy người quen ấy bỗng trở nên “xa lạ”. Xuân Hùng là như thế nào nhỉ?

Khi đã thật sự dấn thân vào miền thi ca, người cầm bút nào cũng ít nhiều kí thác những suy cảm trong thơ tự do. Nhà thơ Xuân Hùng cũng không ngoại lệ, những: Ngôi nhà của mẹ; Tháng Ba, Trở lại trường xưa; Mùa xuân thăm em… và còn nhiều bài thơ khác với biên độ câu thơ, vẫn điệu linh hoạt, hợp với từng cảm xúc và thời điểm tâm trạng. Đọc, thấy có những câu chuyện xúc động, ám ảnh nhưng có lẽ chưa phải là mạch cảm hứng chính có thể khái quát thành một Nhặt lại thời gian với sự xuyên suốt, thống nhất của hệ thống biểu tượng.

Trong hơn 50 bài thơ trong tập thơ “Nhặt lại thời gian”, thấy có hai biểu tượng xuất hiện với tần số cao là: “chiếc lá lìa cành” và “nhặt lại thời gian” như một ám dụ về phận người và kiếp lá. Những sinh thể chứa đựng mã biểu tượng của tác giả. Dĩ nhiên, có rất nhiều biến thế của sự rơi rụng và cứu vớt này. Nếu sự rơi rụng là những: “Thời gian như chiếc lá lìa cành!” hay sự vắng bóng: “Một mình tôi với dòng sông/ Với lời hẹn cũ... người không trở về” (Chiều quê). Có khi hình ảnh đang hiện hữu mà chỉ còn là hồi quang quá khứ: “Mùa xuân đã chạm tay cầm/ Con thì vắng mẹ... bần thần cầu ao” (Xuân về)...Thì sự cứu vớt là: “Nhặt khôn, nhặt dại”; “Tìm lại tâm hồn mình trên đất”. Hoặc, có khi là hình ảnh người chồng, người cha vừa vượt qua mất mát (Ông tiễn mẹ tôi về nơi bến cuối) và trở về bình thản: “Lặng lẽ âm thầm nhóm bếp nấu cơm...”.  Đôi khi, sự kiếm tìm lại chính là mở ra hy vọng, là sự kiên cường của những đôi chân trần lội bùn và ngời lên thánh thiện: “tìm một việc để làm/ tay lật nghiêng khóm lúa” (Bên cánh đồng chiều). Đôi khi, sự thủy chung, bền bỉ là điều quý giá còn níu giữ lại: “Cánh đồng vẫn giữ đất nâu bốn mùa”; “Mặc thời gian trôi ai nhớ, ai quên/ Hoa mua tím vẫn thủy chung năm tháng”...

kiep-la4-1793331829.jpg
Nhà thơ Nguyễn Xuân Hùng, tác giả tập thơ “Nhặt lại thời gian” (NXB Văn học, 2026).

Cuối cùng, đó là biến thể cầu kì nhất và cũng bình dị nhất ở hai câu chuyện mang màu sắc tâm trạng ở hai thời điểm. Khi còn trẻ:

Tháng Ba nay xanh trải đến mênh mông

Cánh đồng cũ xuân về thăm cỏ dại

Cuốc lạc bầy mòn giọng nỗi thương ai?

Em gái nhỏ thăm đồng có gì đắm say

Cứ tần ngần đứng bên ruộng lúa

Lòng tôi mơ nón trắng chung chiêng...

Bao năm xa đau đáu một niềm riêng

Trăng đầu tháng lời yêu gieo ngọn cỏ

Để bây giờ cho tôi khó bước qua…

Tôi ra phố gửi đồng quê tuổi nhỏ

Những màu đau vai mẹ đỡ tháng ngày

Để bây giờ lương mẹ thànhdấu hỏi?

(Tháng Ba)

Và, khi đã về già:

Bé im re nhìn ông

Nét mặt như cầu cứu?

Ông cười bảo: Cháu yêu

Cháu gái vẽ rất đẹp!

*

Chiều bé về thành phố

Bà đến lau lại tường

Ông thấy nhà trống vắng

Lòng nhớ cháu nhiều hơn!

                                         (Bé tập vẽ lên tường)

Không hiểu sao, tôi cứ ám ảnh cả “chàng trai” và “ông ngoại”chỉ là một Xuân Hùng. Khi nhìn cô thôn nữ ngày xưa và em bé bây giờ vẫn có điểm tương đồng: ấy là sự trìu mến, nhân ái và bao dung. Người giàu tình cảm đôi khi không nói nhiều bằng lời lẽ, họ chỉ im lặng, tự “giam cầm” mình trong trống vắng như thế chăng?

Tập thơ “Nhặt lại thời gian” của anh Nguyễn Xuân Hùng còn nhiều ý tứ mà bài viết sơ sài này chưa thể nêu hết được.