Trận tập kích Chi khu Kiến Đức (*) của Trung đoàn Đặc công 429 (Phần 2)

(Chiến thắng Tây Quảng Đức) – Trận tập kích Chi khu Kiến Đức tháng 12/1973 là một mốc son chói lọi trong lịch sử chiến đấu của Trung đoàn Đặc công 429. Thực hiện chủ trương tiêu diệt Chiến đoàn 53 quân Ngụy, bẻ gãy âm mưu phản kích lấn chiếm vùng mới giải phóng, cán bộ, chiến sĩ các Tiểu đoàn 13, 14, 78 đã vượt qua muôn vàn gian khổ để thực hiện nhiệm vụ bám nắm chiến trường, điều nghiên sâu sắc từng cứ điểm. Ký sự lịch sử Phần 2 dưới đây tái hiện chi tiết toàn bộ công tác chuẩn bị chiến đấu nghiêm mật, sa bàn phân bổ lực lượng dũng mãnh và nhiệm vụ cốt tử của các hướng mũi tấn công kết hợp cùng bộ phận hỏa lực tăng cường – quyết tâm làm chủ hoàn toàn Chi khu Kiến Đức

II. TỔ CHỨC CHUẨN BỊ CHIẾN ĐẤU

1. Chủ trương, ý định của cấp trên

Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương tiếp tục mở đợt hoạt động cao điểm nhằm tiêu diệt phần lớn lực lượng của Chiến đoàn 53 thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh Ngụy, làm thất bại hoàn toàn âm mưu phản kích lấn chiếm khu vực Bù Bông, quyết tâm bảo vệ và giữ vững vùng mới giải phóng. Mặt khác, thông qua thực tế chiến đấu để rèn luyện các đơn vị tham gia chiến dịch về trình độ tổ chức chỉ huy và thực hành tác chiến binh chủng hợp thành.

Về lực lượng của ta: Huy động toàn bộ đội hình Trung đoàn Đặc công 429 (bao gồm Tiểu đoàn 13, Tiểu đoàn 14, Tiểu đoàn 78 và các đơn vị trực thuộc), phối thuộc cùng 1 đại đội bộ binh, 2 đại đội cơ giới (trang bị 8 xe tăng và xe thiết giáp), 1 đại đội súng máy cao xạ 12,8mm cùng một số binh khí kỹ thuật khác để tiến công tiêu diệt Chi khu Kiến Đức. Ngay sau khi hoàn thành nhiệm vụ bước một, các đơn vị nhanh chóng phát triển mũi tiến công xuống Nhân Cơ, cầu Đắk Tình, Đại Nghĩa; đồng thời tổ chức lực lượng kiềm chế, nghi binh địch ở Đắk Song, kiên quyết ngăn chặn không cho chúng điều quân chi viện ứng cứu cho Kiến Đức.

 

72707344-1229677367228009-316928780687900672-n-1793283672.jpg
Bản đồ chi khu Kiến Đức – Bù Bông trong Chiến dịch Quảng Đức năm 1973.

2. Nhiệm vụ của đơn vị

  • Tập trung toàn bộ lực lượng trong biên chế và các đơn vị tăng cường để tiến công tiêu diệt Chi khu Kiến Đức, chiếm giữ và làm chủ mục tiêu dài ngày.
  • Sử dụng một lực lượng tinh gọn luồn sâu xuống Nhân Cơ để đánh phá Sở chỉ huy và cụm trận địa pháo binh của Sư đoàn 23 Bộ binh Ngụy; nếu điều kiện thuận lợi thì tiếp tục phát triển mũi tấn công xuống cầu Đắk Tình.
  • Tổ chức hướng dẫn cho các đơn vị bạn xuống khu vực tác chiến. Đặc biệt, phải bố trí lực lượng đón và dẫn đường cho xe tăng tiến vào tham gia chiến đấu tại Kiến Đức khi lực lượng Đặc công gặp khó khăn hoặc khi phát triển mũi đánh xuống Nhân Cơ.
  • Phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương làm tốt công tác vận động quần chúng nhân dân sau khi giải phóng.
  • Tổ chức quản lý, thu dọn toàn bộ chiến lợi phẩm, bảo quản và hướng dẫn đưa về tuyến sau. Thiết lập trận địa bảo vệ vững chắc vùng giải phóng.

3. Công tác chuẩn bị chiến đấu

Ngay sau khi nhận nhiệm vụ cấp trên giao, trung đoàn đã khẩn trương tiến hành công tác chuẩn bị chiến đấu. Về công tác bám nắm tình hình địch, trung đoàn tuyển chọn những cán bộ, chiến sĩ có trình độ kỹ chiến thuật điêu luyện, ý chí quyết tâm chiến đấu cao để tổ chức thành 2 bộ phận trinh sát mũi nhọn:

A. Bộ phận trinh sát Chi khu Kiến Đức (chia làm 5 mũi tiếp cận)

  • Mũi 1 (Hướng Tây Nam): Do Tiểu đoàn 13 đảm nhiệm. Qua 2 đêm kiên trì bám trụ, trinh sát ta đã vượt qua hệ thống vật cản, lọt vào qua chiến hào địch 7 mét. Tiếp tục mật tập thêm 2 đêm nữa, ta nắm chắc được sơ đồ bố phòng của 2 dãy nhà bên trong. Từ đó, mũi đã dự kiến chính xác vị trí mở cửa mở, đường hướng tiếp cận, vị trí triển khai đội hình và hạ quyết tâm chiến đấu.
  • Mũi 2 (Hướng Tây): Do đồng chí Chay trực tiếp đảm nhiệm. Qua hai đêm (ngày 20 và 22 tháng 11), trinh sát mới chỉ tiếp cận được đến sát chân tường cứ điểm. Đến đêm ngày 23 và 24 tháng 11, ta đã xuất sắc đột nhập được vào bên trong, nắm vững quy luật hoạt động của các mục tiêu được phân công.
  • Mũi 3 (Hướng Bắc): Do Tiểu đoàn 21 đảm nhiệm. Qua 2 đêm trinh sát trên hướng Bắc, ta đã phát hiện chính xác trận địa pháo binh của địch nằm cách lớp hàng rào lõi trong cùng chỉ 20 mét.
  • Mũi 4 (Hướng Đông Bắc): Do một đồng chí thuộc Tiểu đoàn 21 đảm nhiệm thọc sâu vào. Đêm đầu tiên, trinh sát đã lọt vào đến khu vực nhà thông tin. Đến đêm thứ hai, do quân địch tổ chức canh gác nghiêm ngặt nên ta chỉ tiếp cận và bám nắm được ở lớp hàng rào trong cùng.
  • Mũi 5 (Hướng Đông Nam): Do một đồng chí của Tiểu đoàn 21 đảm nhiệm. Chỉ trong vòng một đêm hành quân, trinh sát đã luồn sâu vào đến tận lớp hàng rào trong cùng của cứ điểm.

B. Bộ phận trinh sát luồn sâu xuống Nhân Cơ

  • Đơn vị đảm nhiệm: Do Tiểu đoàn 14 đảm nhiệm.
  • Kết quả: Anh em trinh sát đã nắm chắc được toàn bộ sơ đồ bố phòng của khu vực sân bay, nhưng chưa điều nghiên kỹ được trận địa pháo binh và cơ cấu Sở chỉ huy đầu não của địch.

4. Quyết tâm chiến đấu

Ý định tác chiến

  • Hướng tiến công chủ yếu: Hướng Tây Bắc.
  • Hướng tiến công quan trọng: Hướng phía Đông.
  • Hướng tiến công phối hợp: Hướng phía Bắc.

Mục tiêu tiến công

  • Mục tiêu tiến công chủ yếu: Toàn bộ Chi khu Kiến Đức.
  • Mục tiêu cốt tử, quan trọng nhất: Tòa nhà làm việc của tên Quận trưởng.

Tổ chức đội hình và sử dụng lực lượng

  • Bộ phận tiến công trên hướng chủ yếu: Tiểu đoàn 13 tăng cường.
  • Bộ phận tiến công trên hướng quan trọng: Tiểu đoàn 78 tăng cường.
  • Bộ phận luồn sâu đánh phá Sở chỉ huy và trận địa pháo binh của Sư đoàn 23 Bộ binh Ngụy: Đại đội 2 thuộc Tiểu đoàn 14 tăng cường.
  • Bộ phận dự bị chiến dịch: Các đơn vị còn lại của Tiểu đoàn 14.
  • Bộ phận hỏa lực trung đoàn: Đại đội súng máy cao xạ 12,7mm, phân đội tên lửa phòng không vác vai A72, tổ hỏa lực tên lửa chống tăng B72, súng không giật DKZ và súng cối 82mm.
  • Bộ phận bảo đảm: Bộ phận hậu cần kỹ thuật và Sở chỉ huy trung đoàn.

Tư tưởng chỉ đạo: Đánh tiêu diệt triệt để, chiếm giữ và làm chủ hoàn toàn, giải quyết chiến trường nhanh chóng, gọn gàng, nghiêm chỉnh chấp hành các chính sách chiến trường.

Cách đánh: Tập kích bí mật.

Sử dụng hỏa lực và Đặc công

Bí mật cơ động lực lượng chiếm lĩnh các vị trí để chuẩn bị mở cửa mở, hình thành nhiều hướng, nhiều mũi. Khéo léo khắc phục hệ thống vật cản, gỡ mìn, cắt hàng rào để mở cửa, luồn sâu, lót sẵn sát các mục tiêu và đồng loạt nổ súng đánh chiếm mục tiêu.

Kết hợp chặt chẽ giữa thủ pháp luồn sâu bí mật với các mũi táo bạo thọc sâu, thực hiện chiến thuật trong đánh ra, ngoài đánh vào, hình thành thế bao vây, chia cắt, chủ động hiệp đồng nhanh chóng đánh chiếm Sở chỉ huy, hầm ngầm, tiêu diệt địch và làm chủ mục tiêu. Sau khi làm chủ trận địa, nhanh chóng tổ chức thu dọn chiến trường, chuyển sang trạng thái chốt giữ và làm thủ tục bàn giao mục tiêu cho đơn vị bạn xong trước 8 giờ sáng.

Sử dụng lực lượng Đặc công đánh chiếm đầu cầu và một số mục tiêu then chốt, tạo bàn đạp vững chắc cho bộ binh và xe tăng phát triển chiến đấu. Đặc công sau khi đã làm chủ được các vị trí then chốt và đầu cầu, dùng bộc phá mở cửa cho bộ binh, xe tăng xung phong, hiệp đồng chặt chẽ với bạn đánh chiếm làm chủ hoàn toàn mục tiêu, bàn giao trận địa cho đơn vị bạn rồi nhanh chóng ổn định lại đội hình, hiệp đồng cùng bộ binh, xe tăng phát triển mũi tiến công xuống Nhân Cơ.

PHÂN BỔ LỰC LƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA CÁC BỘ PHẬN:

843493720-1590708988822201-9107588156733907586-n-1793283704.jpg
Các cựu chiến binh Đặc công 429 tham gia trực tiếp và gián tiếp trận Kiến Đức gồm: Dương Long, Nguyễn Minh, Du Quốc Hùng, Cao Mẫn, Nguyễn Thế Bình (Chụp lưu niệm tại Tượng đài lịch sử Núi Bà Đen, Tây Ninh).- Ảnh : Nguyễn Minh

A. Tiểu đoàn Đặc công 13

Quân số và trang bị vũ khí:

  • Quân số: 64 người.
  • Trang bị vũ khí: 9 khẩu súng ngắn K54 (kèm 145 viên đạn); 23 khẩu súng tiểu liên AK (kèm 1.830 viên đạn); 10 khẩu súng diệt tăng B40 (kèm 44 quả đạn); 458 khối thủ pháo dã chiến (trọng lượng từ 0,5 đến 2 kg); 10 khối bộc phá đòn phá rào; 6 quả mìn lõm; 111 quả lựu đạn; 6 kéo cắt rào chuyên dụng; 3 đồng hồ bấm giờ và 3 máy thông tin hữu tuyến điện.

Lực lượng tăng cường: Được tăng cường hai đại đội (bao gồm Đại đội bộ binh 3 và Đại đội trinh sát 12); 1 khẩu súng không giật ĐKZ 82mm; 2 bảng hỏa lực với 4 bộ tên lửa chống tăng B72; một đại đội súng máy cao xạ 12,8mm (trang bị 3 khẩu); một trung đội thông tin cùng các binh khí kỹ thuật khác.

Nhiệm vụ: Tổ chức lực lượng thành 4 mũi tiến công, đảm nhiệm tiến công trên hướng chủ yếu. Có nhiệm vụ tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch ở hướng Tây dẫn vào chi khu, sẵn sàng hiệp đồng tác chiến cùng lực lượng bộ binh, xe tăng chủ lực và Tiểu đoàn Đặc công 78 để đánh chiếm mục tiêu khi có lệnh. Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, sử dụng 3 đại đội tổ chức chốt giữ mục tiêu; toàn bộ lực lượng còn lại của tiểu đoàn lui quân về Sở chỉ huy trung đoàn làm lực lượng dự bị chiến dịch, sẵn sàng cơ động đánh địch phản kích.

Nhiệm vụ cụ thể của các mũi:

  • Mũi 1: Do Đại đội bộ binh 3 đảm nhiệm, quân số gồm 19 người, chia thành 6 tổ chiến đấu (trong đó có 1 tổ làm nhiệm vụ dự bị và 1 tổ làm nhiệm vụ thọc sâu). Đồng chí Giản (Đại đội phó) trực tiếp làm Mũi trưởng, đồng chí Thắng làm Chính trị viên. Mũi có nhiệm vụ tiến công tiêu diệt lực lượng địch từ phía Tây con đường dẫn vào chi khu; từ khu vực trung tâm sẵn sàng phát triển mũi đánh sang phía Đông con đường, tổ chức chi viện và bắt liên lạc với mũi 5 của Tiểu đoàn 78 và mũi 2 ở phía bên trái.
  • Mũi 2: Do Đại đội Đặc công 2 đảm nhiệm, quân số gồm 25 đồng chí, tổ chức thành 5 tổ chiến đấu (gồm 1 tổ thọc sâu và 1 tổ dự bị). Đồng chí Chay (Đại đội phó) trực tiếp làm Mũi trưởng, đồng chí Thiệp làm Chính trị viên. Đây là mũi tiến công chủ yếu của chiến dịch, đánh thẳng vào hướng Tây Bắc. Nhiệm vụ cốt tử là đánh chiếm tòa nhà làm việc của tên Quận trưởng và khu trung tâm thông tin; sẵn sàng phát triển mũi đánh sang phía Đông để chi viện cho Tiểu đoàn 78, đồng thời bắt liên lạc với mũi 4 ở phía bên trái tại vị trí cây độc lập, nhanh chóng nối đường dây thông tin hữu tuyến điện để trung đoàn trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn Đặc công 78.
  • Mũi 3: Do Đại đội bộ binh 4 đảm nhiệm, quân số gồm 19 đồng chí, chia làm 6 tổ chiến đấu (gồm 1 tổ thọc sâu và 1 tổ dự bị). Đồng chí Dưỡng (Đại đội trưởng) làm Mũi trưởng cùng đồng chí Duyệt làm Chính trị viên, tiến công vào hướng Bắc. Nhiệm vụ tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch ở hướng Bắc (phía bên phải giáp mũi 2, phía bên trái giáp mũi 4), phát triển chiều sâu trận đánh tiến tới vị trí cây độc lập; luôn trong tư thế sẵn sàng nổ súng chi viện cho mũi 2 và mũi 4 chiến đấu.
  • Mũi dự bị tiểu đoàn: Quân số gồm 25 đồng chí, được trang bị tăng cường 6 quả mìn lõm và 6 quả bộc phá đòn phá rào. Mũi hành quân đi phía sau mũi 2, có nhiệm vụ sẵn sàng nổ súng tiêu diệt các toán địch phục hồi cố thủ trong hệ thống hầm ngầm, cơ động đánh địch ở vòng ngoài hoặc sẵn sàng phát triển mũi tiến công xuống khu vực Nhân Cơ, Đắk Tình để hiệp đồng cùng đơn vị bạn đánh chiếm địa bàn.

B. Tiểu đoàn Đặc công 78

Quân số và trang bị vũ khí:

  • Quân số: 47 đồng chí.
  • Trang bị vũ khí: 5 khẩu súng ngắn K54 (kèm 75 viên đạn); 16 khẩu súng tiểu liên AK (kèm 800 viên đạn); 4 khẩu súng diệt tăng B40 (kèm 20 quả đạn); 302 khối thủ pháo dã chiến (trọng lượng từ 0,5 đến 1 kg); 9 quả bộc phá đòn phá rào; 4 quả mìn lõm; 138 quả lựu đạn; 4 kéo cắt rào và 2 máy thông tin hữu tuyến điện.

Lực lượng tăng cường: Được tăng cường 1 đại đội súng máy cao xạ 12,8mm, 1 cơ cấu tên lửa phòng không vác vai A72, một bộ phận lực lượng thuộc Tiểu đoàn 21 và 1 tổ phẫu y tế chiến trường.

Nhiệm vụ tổng thể: Mũi đảm nhiệm hướng tiến công trên hướng quan trọng của chiến dịch, có nhiệm vụ tiêu diệt sạch lực lượng địch ở phía Đông con đường dẫn vào bên trong chi khu. Luôn giữ thế chủ động để sẵn sàng thay thế cho mũi 2 đánh chiếm tòa nhà Quận trưởng, khu trung tâm thông tin và chi viện đắc lực cho Tiểu đoàn Đặc công 13 chiến đấu.

Kế hoạch sau khi hoàn thành nhiệm vụ:

  • Chốt chặn hành lang: Ngay khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiểu đoàn lập tức cơ động xây dựng trận địa chốt chặn kiên cố tại điểm cao 700 nằm trên trục đường đi xuống Nhân Cơ (cách Chi khu Kiến Đức 2,7 km), sẵn sàng nổ súng đánh chặn tàn quân địch tháo chạy và ngăn chặn viện binh địch ứng cứu.
  • Bàn giao địa bàn: Tiến hành bàn giao lại mục tiêu cho Tiểu đoàn Đặc công 13 rồi lui quân ra đứng chân ở phía Đông Bắc chi khu khoảng 1 km để nhanh chóng củng cố lại đội hình, sẵn sàng bắt liên lạc với xe tăng ta tại chốt của Đại đội 54.
  • Điều động lực lượng: Sau khi lực lượng bộ binh và xe tăng ta đánh chiếm xong khu vực Nhân Cơ, tiểu đoàn tổ chức lực lượng chốt giữ Nhân Cơ, chuẩn bị một vị trí giấu xe, pháo bí mật, đồng thời tổ chức 1 tổ công tác làm nhiệm vụ quản lý các ấp chiến lược ở phía Nam Chi khu Kiến Đức.

Nhiệm vụ cụ thể của các mũi và bộ phận trực thuộc:

  • Mũi 4: Do Đại đội Đặc công 57 đảm nhiệm, quân số gồm 24 đồng chí. Đồng chí Lưu (Đại đội trưởng) trực tiếp làm Mũi trưởng, đồng chí Khoa (Chính trị viên phó đại đội) làm Chính trị viên mũi, có đồng chí Tiến (Tiểu đoàn trưởng) trực tiếp đi cùng để chỉ huy áp sát trận địa. Mũi được tổ chức biên chế thành 6 tổ chiến đấu dũng mãnh (bao gồm cả 1 tổ thọc sâu và 1 tổ dự bị), hành tiến trên hướng Đông Bắc, có nhiệm vụ quét sạch quân địch tại hướng này. Chiều sâu mũi phát triển chiến đấu tiến tới vị trí cây độc lập, chủ động bắt liên lạc với mũi 3 ở phía Bắc và mũi 5 ở phía Nam. Tại vị trí cây độc lập, phối hợp cùng Mũi 2 nối đường dây thông tin hữu tuyến điện để trung đoàn trực tiếp chỉ huy, sau đó chỉ đạo Tiểu đoàn Đặc công 78 lui quân về hướng Đông Bắc, giữ tư thế sẵn sàng phát triển mũi đánh xuống Nhân Cơ.
  • Mũi 5: Do Đại đội Đặc công 55 đảm nhiệm, quân số gồm 23 đồng chí, tổ chức thành 5 tổ chiến đấu (gồm 1 tổ thọc sâu và 1 tổ dự bị). Đồng chí Lễ (Đại đội trưởng) trực tiếp làm Mũi trưởng, đồng chí Lĩnh làm Chính trị viên. Mũi có nhiệm vụ tiến công đánh thẳng vào hướng Đông Nam, tiêu diệt toàn bộ sinh lực địch kéo dài từ phía Đông cổng ra vào chi khu đến giáp sườn Mũi 4 ở phía Đông Bắc, chiều sâu trận đánh tiến tới cây độc lập. Luôn sẵn sàng tinh thần phát triển mũi đánh sang phía Tây con đường để chi viện hỏa lực cho Tiểu đoàn Đặc công 13 chiến đấu; tổ chức bắt liên lạc chặt chẽ với mũi 1 ở phía Tây đường và mũi 4 ở phía Đông Bắc. Khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiến hành bàn giao trận địa cho Tiểu đoàn 13 rồi lui quân về hướng Đông Bắc, sẵn sàng bắt liên lạc với xe tăng ta tại chốt của Đại đội 54 để phát triển mũi đánh xuống Nhân Cơ.
67079796-125370385399302-4852774412631408640-n-1793283682.jpg
CCB Nguyễn Minh, người trực tiếp tham gia trận đánh Chi khu Kiến Đức, đang chỉ nơi mình bị thương năm xưa. Chỗ này là vị trí gốc cây độc lập tại Kiến Đức – tiêu điểm hiệp đồng của các mũi tấn công, nhưng nay cây đã bị san ủi mất – Ảnh: Nguyễn Minh.

 

  • Bộ phận đánh mục tiêu khu gia binh: Huy động quân số gồm 10 đồng chí thuộc Đại đội bộ binh 54, do đồng chí Khu (Chính trị viên phó Đại đội 54) trực tiếp chỉ huy. Trang bị vũ khí gồm 6 khẩu súng tiểu liên AK, 1 khẩu súng diệt tăng B40, 1 khẩu súng ngắn K54 và 25 quả lựu đạn. Bộ phận có nhiệm vụ bám nắm phát hiện, tiêu diệt toàn bộ các hỏa điểm địch trong khu gia binh của quân Ngụy Sài Gòn; tổ chức tìm kiếm các cửa đường hầm ngầm dẫn từ bên trong chi khu ra ngoài để thiết lập trận địa phục kích, đón lõng tiêu diệt tàn quân địch từ chi khu tháo chạy ra ngoài. Khi hoàn thành nhiệm vụ hoặc có mệnh lệnh mới, lập tức rút quân về lại đội hình biên chế của Đại đội 54.
  • Bộ phận đánh mục tiêu xưởng cưa: Gồm 4 đồng chí thuộc Đại đội Đặc công 57, trang bị 3 khẩu súng tiểu liên AK, 1 khẩu súng diệt tăng B40, 10 khối thủ pháo dã chiến cùng lựu đạn, do đồng chí Hòa trực tiếp chỉ huy. Bộ phận có nhiệm vụ áp sát chiếm lĩnh trận địa theo đúng hiệp đồng, đánh chiếm xưởng cưa cùng một số mục tiêu hỏa điểm xung quanh, nhanh chóng làm chủ trận địa rồi chuyển sang trạng thái chốt giữ vững chắc, sẵn sàng nổ súng tiêu diệt tàn quân địch từ trong đồn chạy ra.
  • Bộ phận chốt chặn hành lang chiến dịch: Do Đại đội bộ binh 54 đảm nhiệm với quân số cố định 25 đồng chí. Nhiệm vụ cốt tử là xây dựng trận địa chốt chặn kiên cố tại điểm cao 700 nằm trên trục đường đi xuống Nhân Cơ (cách Chi khu Kiến Đức 2,7 km), luôn trong tư thế sẵn sàng nổ súng đánh bại các mũi ứng cứu, giải vây của địch từ hướng sân bay Nhân Cơ lên và chặn đứng tàn quân địch từ chi khu chạy trốn về Nhân Cơ.

C. Tiểu đoàn Đặc công 14

Tiểu đoàn Đặc công 14 (thiếu Đại đội Đặc công 2). Trong giai đoạn bước đầu của chiến dịch, tiểu đoàn đóng vai trò là lực lượng dự bị chiến dịch của trung đoàn, tổ chức bố trí đội hình nằm ngay phía sau Sở chỉ huy tiền phương trung đoàn, luôn giữ trạng thái sẵn sàng cơ động chi viện cho 2 tiểu đoàn tuyến trước (d13 và d78) đánh chiếm Chi khu Kiến Đức. Sau đó bắt liên lạc với lực lượng xe tăng ta để phát triển mũi tiến công dũng mãnh, tiêu diệt các đồn bốt phòng thủ của địch ở khu vực Nhân Cơ, làm chủ và chuyển sang trạng thái chốt giữ vững chắc.

Tổ chức lực lượng đón, bắt liên lạc và trực tiếp dẫn đường cho xe tăng ta xuống khu vực Nhân Cơ hoạt động, đồng thời khảo sát tìm kiếm vị trí giấu xe, giấu pháo an toàn, bí mật gần khu vực chốt giữ. Riêng Đại đội 2 thuộc Tiểu đoàn 14 được tăng cường thêm 1 khẩu súng cối 82mm, do đồng chí Lân (Tiểu đoàn phó) trực tiếp chỉ huy luồn sâu xuống Nhân Cơ. Đại đội có nhiệm vụ thực hành tập kích bí mật vào khu vực sân bay và Sở chỉ huy Sư đoàn 23 Bộ binh Ngụy; sau đó sử dụng khẩu cối 82mm nổ súng bắn kiềm chế, chế áp trận địa pháo binh của Sư đoàn 23 Bộ binh Ngụy. Khi đội hình lớn của tiểu đoàn phát triển mũi đánh xuống khu vực Đạo Nghĩa, đại đội lập tức triển khai thế trận bao vây chặt các đồn bốt tại đây, sẵn sàng bắt liên lạc hiệp đồng cùng xe tăng ta chi viện tiến công tiêu diệt sạch quân địch.

2-20250425235758-1793283688.jpg
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Lân, nguyên Tiểu đoàn phó Đặc công 14, Tham mưu phó Trung đoàn Đặc công 429, người tham gia chỉ huy trận đánh Chi khu Kiến Đức.- Ảnh ; Tư liệu  

D. Bộ phận Hỏa lực tăng cường

Bao  gồm các phân đội súng không giật DKZ, tên lửa phòng không vác vai A72, tên lửa chống tăng B72 và súng cối 82mm. Hệ thống hỏa lực được tính toán bố trí dã chiến tại 2 khu vực trọng điểm:

  • Khu vực 1: Nằm ở phía Tây Chi khu Kiến Đức, cự ly từ 800 đến 1.000 mét ngay trên đồi Ba Cây, tổ chức bố trí 2 bệ phóng tên lửa chống tăng B72 cùng súng không giật DKZ, sẵn sàng nổ súng chi viện đắc lực cho lực lượng xung lực mở cửa mở và đánh chiếm các mục tiêu.
  • Khu vực 2: Đặt ngay trên đỉnh điểm cao 700, cách chi khu khoảng 2,3 km về hướng Tây Bắc, tổ chức bố trí 2 bệ phóng tên lửa B72 cùng trận địa súng cối 82mm. Hỏa lực có nhiệm vụ bắn yểm hộ cho xung lực mở cửa mở đánh chiếm mục tiêu; đồng thời sẵn sàng nổ súng tiêu diệt các phương tiện tăng thiết giáp của địch từ phía Bắc tràn xuống, bẻ gãy các đợt phản kích của giặc để chi viện bảo vệ vững chắc trận địa chốt giữ của ta.

Đại đội súng máy cao xạ 12,8mm thuộc Sư đoàn 9 (f9): Trang bị 3 khẩu pháo kết hợp cùng tổ tên lửa vác vai A72, bố trí trận địa ở hướng Bắc, cách chi khu khoảng 2,5 km. Nhiệm vụ cốt tử là nổ súng bắn máy bay địch để bảo vệ an toàn cho trận địa súng cối 82mm, bảo vệ trận địa chốt chặn của ta, và sẵn sàng tham gia nổ súng tiêu diệt các toán tàn quân địch xuất hiện từ hướng Bắc chạy về hoặc tổ chức dừng lại co cụm phòng thủ.

Đại đội súng máy của trung đoàn: Trang bị 1 khẩu cao xạ 12,8mm và 1 khẩu súng máy P57, bố trí trận địa cách phía Nam khu vực xưởng cưa 100 mét, đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tiểu đoàn Đặc công 78. Hỏa lực có nhiệm vụ sẵn sàng nổ súng đánh địch trên không lẫn trên mặt đất, chi viện đắc lực cho Tiểu đoàn 78 chiến đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

 

861896369-1462102189319168-4685233747466233797-n-1793283665.jpg
Các ccb Trung đoàn đặc công 429 chụp ảnh lưu niệm trên đồi trước đây là căn cứ quân sự CHI KHU KIẾN ĐỨC tháng 12/2017- Ảnh : Trần Công Sơn

tai-xuong-1793283694.jpg
Quyết định số 39/QĐ-BVHTTDL ngày 07/01/2020 xếp hạng di tích lịch sử quốc gia cho Chi khu Kiến Đức.

 

(Còn tiếp)

* Địa danh lịch sử Chi khu Kiến Đức thời kỳ đó, nay thuộc địa bàn xã Kiến Đức, tỉnh Lâm Đồng.