Lịch sử của một bức ảnh: Hành trình tìm lại những người lính tham gia bắt giữ 104 tù binh Trung Quốc ngày 14/3/1979

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày 104 quân nhân Trung Quốc hạ vũ khí, ra hàng tại khu vực Minh Tâm, Nguyên Bình, Cao Bằng. Một bức ảnh ghi lại khoảnh khắc lịch sử ấy đã được công bố, nhưng câu hỏi về những người lính Việt Nam trực tiếp tham gia bao vây, vận động, tiếp nhận và quản lý số tù binh vẫn cần được tiếp tục xác minh. Những nhân chứng mới vừa tìm đến Tòa soạn, mang theo những ký ức và tư liệu có giá trị, mở thêm một hướng tiếp cận để từng bước làm sáng tỏ sự kiện.
1793330235255-5536806596949505511-5536806596949505511-f3b0acbc1577497f67de65eac8972319-1793331146.jpg
Trung sĩ Lê Công Nhiên (hàng đầu, ngoài cùng bên trái) trong buổi giao lưu, gặp mặt cựu chiến binh lần thứ ba của Đại đội 14 Pháo binh – Trung đoàn 800, tổ chức tại Thái Nguyên ngày 4/10/2026.

Từ một bức ảnh lịch sử đến hành trình tìm lại những người lính phía sau khuôn hình

Trong chiến tranh, có những bức ảnh không chỉ ghi lại một khoảnh khắc mà còn lưu giữ cả một phần lịch sử. Bức ảnh 104 quân nhân Trung Quốc bị bắt giữ tại Minh Tâm, Nguyên Bình, Cao Bằng ngày 14/3/1979 là một trường hợp như vậy.

Bức ảnh đã được giới thiệu trong bài viết “Lịch sử của một bức ảnh” của tác giả Phan Thái, đăng trên Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển ngày 9/8/2021. Từ bức ảnh, tác giả đặt ra câu hỏi về lực lượng Việt Nam nào đã trực tiếp bắt giữ và tiếp nhận 104 quân nhân Trung Quốc trong sự kiện này.

Theo nội dung bài viết, lực lượng đối phương là một đại đội bộ binh sơn cước thuộc Trung đoàn 448, Sư đoàn 150, Tập đoàn quân 50, Quân khu Thành Đô. Trong số 104 người có đại đội trưởng Lý Hòa Bình và chính trị viên Phùng Tăng Mẫn.

Qua trao đổi với cựu chiến binh Phạm Minh Hùng, nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn 4 Bắc Thái, tác giả Phan Thái đã ghi nhận lời kể rằng Tiểu đoàn 4 Bắc Thái cùng một đơn vị mới đến từ Gang thép và lực lượng dân quân địa phương đã phối hợp trong quá trình vây bắt, tiếp nhận số quân nhân Trung Quốc nói trên. Trung đội 1, Đại đội 2, Tiểu đoàn 4 do Trung đội trưởng Đào Ngọc Khoa chỉ huy được giao nhiệm vụ tiếp nhận tù binh.

Theo lời kể này, chiều 14/3/1979, một quân nhân Trung Quốc cầm cờ trắng xuống núi. Sau quá trình trao đổi, phía đối phương chấp nhận các điều kiện hạ vũ khí, không mang theo vật liệu nổ, giơ tay và đi thành hàng. Đến khoảng 17 giờ, toàn bộ 104 quân nhân Trung Quốc trở thành tù binh. Bức ảnh được chụp khi họ được áp giải về trụ sở UBND xã Minh Tâm.

Tuy nhiên, qua các nguồn thông tin và lời kể được đề cập trong bài viết năm 2021, còn có những chi tiết khác nhau về lực lượng tham gia, trong đó có lực lượng tự vệ Gang thép Thái Nguyên, công nhân Mỏ thiếc Tĩnh Túc, dân quân xã Minh Tâm và một số đơn vị bộ đội. Vì vậy, việc xác định chính xác vai trò của từng đơn vị, từng bộ phận và từng cá nhân vẫn cần tiếp tục được đối chiếu với hồ sơ quân sự, tài liệu lưu trữ và lời kể của những người trực tiếp tham gia.

Đó cũng là lý do Tòa soạn tiếp tục tìm kiếm nhân chứng, với mong muốn không chỉ xác định một đơn vị hay một cá nhân, mà còn ghi nhận đầy đủ đóng góp của những người lính đã có mặt trong sự kiện lịch sử ấy.

Những nhân chứng Đại đội 23 và ký ức về ngày 104 tù binh Trung Quốc ra hàng

le-cong-nhien-1793331061.jpg
Chân dung Trung sĩ Lê Công Nhiên thời trẻ, khi còn trong quân ngũ.

Ngày 30/10/2026, Tòa soạn tiếp tục được đón Trung sĩ Lê Công Nhiên, một nhân chứng có những thông tin đáng chú ý liên quan đến sự kiện 104 quân nhân Trung Quốc ra hàng tại Minh Tâm.

Theo thông tin ông Nhiên cung cấp, năm 1979, ông thuộc Đại đội 23, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bắc Thái. Ông cho biết sau này đơn vị có sự thay đổi về tổ chức, phiên hiệu; ông cung cấp thông tin về việc đơn vị chuyển thành Đại đội 14 thuộc Trung đoàn 800.

Để bổ sung căn cứ về quá trình công tác quân ngũ, ông Nhiên mang đến Tòa soạn một quyết định quân sự đề ngày 15/5/1982. Văn bản thể hiện họ tên Lê Công Nhiên, cấp bậc Trung sĩ, đơn vị Đại đội 14 – Trung đoàn 800, có dấu đỏ và chữ ký. Đây là tư liệu có giá trị tham khảo để xác nhận thông tin quân nhân và đơn vị của ông tại thời điểm năm 1982; việc xác định đầy đủ quá trình thay đổi phiên hiệu cũng như nhiệm vụ cụ thể của ông trong ngày 14/3/1979 cần tiếp tục được đối chiếu với tài liệu khác.

Trong lời kể tại Tòa soạn, ông Nhiên cho biết lực lượng Đại đội 23 đã tham gia bao vây, vận động và tiếp nhận 104 quân nhân Trung Quốc. Theo ký ức của ông, phía đối phương có bốn khẩu đại liên hạng nặng, trong khi lực lượng Việt Nam tương đối ít và trang bị không mạnh. Tình hình lúc đó đòi hỏi sự cảnh giác cao độ, bởi chỉ cần một hành động thiếu thận trọng cũng có thể khiến tình huống trở nên phức tạp.

Ông nhớ lại, người lính Trung Quốc đầu tiên cầm tín hiệu cờ trắng xuống núi. Sau đó, hai bên tiến hành trao đổi, vận động và truyền đạt những điều kiện để đối phương hạ vũ khí. Trong quá trình này, những người biết tiếng Trung đã hỗ trợ giao tiếp, phiên dịch, giúp việc trao đổi được thuận lợi hơn.

Theo lời ông Nhiên, sự việc diễn ra ngày 14/3/1979, với tổng số 104 quân nhân Trung Quốc ra hàng và bị bắt giữ. Ông mong muốn những đóng góp của cán bộ, chiến sĩ Đại đội 23 trong sự kiện này được tìm hiểu, xác minh và ghi nhận một cách khách quan, đầy đủ.

Đáng chú ý, ông Nhiên còn cung cấp thêm tên tuổi một số cán bộ từng giữ các vị trí chỉ huy của đơn vị thời điểm đó. Theo ông, trong lực lượng có Đại đội trưởng Nguyễn Văn Tám, hiện 84 tuổi; Chính trị viên trưởng Vũ Văn Thanh, hiện 84 tuổi; và Đại đội phó Vi Hạnh Bắc, người biết tiếng Trung, đã tham gia phiên dịch trong ngày tiếp nhận 104 quân nhân Trung Quốc.

Vai trò của ông Vi Hạnh Bắc là một chi tiết cần được quan tâm. Trong một tình huống mà hai bên khác biệt về ngôn ngữ, việc có người trực tiếp phiên dịch, truyền đạt thông tin và hỗ trợ trao đổi có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình vận động đối phương hạ vũ khí, bảo đảm việc tiếp nhận tù binh diễn ra an toàn.

Ông Lê Công Nhiên hiện cư trú tại phường Việt Hưng, thành phố Hà Nội. Ông sẵn sàng phối hợp với Tòa soạn để cung cấp thêm thông tin, tư liệu và kết nối với những người từng trực tiếp tham gia sự kiện.

Một nhân chứng khác cũng đến Tòa soạn trong ngày 30/10/2026 là ông Bùi Trọng Khuông, nguyên Trung sĩ, quê Kiến Xương, Thái Bình (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Ông cho biết mình từng thuộc Đại đội 23 và trực tiếp tham gia công việc quản lý, tiếp nhận số quân nhân Trung Quốc bị bắt giữ.

Trong ký ức của ông Khuông, công việc hôm đó không chỉ là áp giải mà còn có nhiệm vụ kiểm soát, bảo đảm an toàn cho số tù binh. Ông nhớ mình được giao nhiệm vụ buộc tay tù binh. Có trường hợp phải xử lý việc buộc, quản lý nhiều người cùng lúc. Chi tiết cụ thể về cách thức tổ chức và số lượng tù binh được buộc trong từng trường hợp cần được hỏi lại để ghi nhận chính xác, tránh diễn đạt sai ý nhân chứng.

Nhưng điều khiến người nghe xúc động hơn cả lại là câu chuyện về những suất cơm của người lính.

Ông Khuông kể rằng hôm ấy, Đại đội 23 đang chuẩn bị cơm cho bộ đội. Khi 104 quân nhân Trung Quốc ra hàng, lực lượng phải ưu tiên lo việc ăn uống cho những người vừa bị bắt giữ. Những suất cơm vốn dành cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị đã được nhường lại để tù binh có cái ăn.

Theo ông Khuông, việc nhường cơm diễn ra trước khi số tù binh được bàn giao cho lực lượng có trách nhiệm tiếp nhận tiếp theo. Ông nhớ khoảng 16 giờ 30 đến 17 giờ ngày 14/3/1979, đơn vị chuẩn bị hoàn tất việc quản lý, tổ chức vận chuyển tù binh bằng xe đến địa điểm bàn giao được chỉ định.

Câu chuyện về những suất cơm có thể chỉ là một chi tiết nhỏ trong diễn biến quân sự, nhưng lại gợi lên một phương diện đáng suy ngẫm về người lính. Trong hoàn cảnh chiến tranh, giữa những căng thẳng và đề phòng cần thiết, người lính vẫn phải thực hiện trách nhiệm bảo đảm an toàn, chăm lo những nhu cầu tối thiểu của những người đã hạ vũ khí.

Những lời kể mới từ ông Nhiên và ông Khuông có điểm chung khi nhắc đến sự tham gia của Đại đội 23. Trong khi đó, bài viết năm 2021 của tác giả Phan Thái, thông qua lời kể của cựu chiến binh Phạm Minh Hùng, lại xác định Tiểu đoàn 4 Bắc Thái, với Trung đội 1, Đại đội 2 là lực lượng được giao nhiệm vụ tiếp nhận tù binh, cùng sự phối hợp của các lực lượng khác.

Những thông tin này không nhất thiết loại trừ nhau, bởi trong một tình huống tác chiến có thể có nhiều lực lượng cùng tham gia với nhiệm vụ khác nhau. Tuy nhiên, hiện chưa đủ căn cứ để kết luận mối quan hệ phối hợp, điều động hay phân công cụ thể giữa Đại đội 23 và Tiểu đoàn 4 Bắc Thái. Đây chính là vấn đề cần được làm rõ bằng hồ sơ đơn vị, mệnh lệnh tác chiến, báo cáo sau trận đánh, tài liệu bàn giao tù binh và lời kể của các nhân chứng trực tiếp.

Gần nửa thế kỷ trôi qua: Không để những người lính năm xưa bị lãng quên

le-cong-nhien1-1793331061.jpg
Trung sĩ Lê Công Nhiên hiện nay, nhân chứng cung cấp nhiều thông tin và tư liệu quan trọng về sự kiện 104 quân nhân Trung Quốc ra hàng tại Minh Tâm, Cao Bằng ngày 14/3/1979.

Từ lời kể của Trung sĩ Lê Công Nhiên, một hướng xác minh mới đã được mở ra. Đó là việc tìm gặp những cán bộ từng giữ các vị trí chỉ huy và phiên dịch trong Đại đội 23 thời điểm tháng 3/1979.

Trước hết là ông Nguyễn Văn Tám, nguyên Đại đội trưởng, hiện 84 tuổi; ông Vũ Văn Thanh, nguyên Chính trị viên trưởng, hiện 84 tuổi; và ông Vi Hạnh Bắc, nguyên Đại đội phó, người được ông Nhiên xác nhận là biết tiếng Trung và tham gia phiên dịch trong ngày 104 quân nhân Trung Quốc ra hàng.

Nếu những nhân chứng này có thể cung cấp lời kể độc lập, đối chiếu với nhau và với các tư liệu hiện có, nhiều vấn đề quan trọng có thể được làm rõ: Ai là người trực tiếp tiếp xúc với quân nhân Trung Quốc đầu tiên? Ai truyền đạt điều kiện đầu hàng? Những lực lượng nào tham gia bao vây, kiểm soát các vị trí? Đại đội 23 đảm nhiệm công việc gì trong toàn bộ quá trình? Việc tiếp nhận, quản lý và bàn giao 104 tù binh được tổ chức ra sao?

Bên cạnh đó, ông Lê Công Nhiên còn đề nghị kết nối Tòa soạn với một cựu cán bộ chỉ huy cấp tiểu đoàn tên Long Xuân Chi (Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 4), người theo ông có hiểu biết về sự kiện này. Tên tuổi, chức vụ, đơn vị và vai trò cụ thể của nhân chứng này cũng cần được xác minh trước khi sử dụng trong bài viết chính thức.

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua. Những người lính từng tham gia sự kiện ngày 14/3/1979 nay phần lớn đã cao tuổi. Có người còn lưu giữ giấy tờ quân ngũ, có người nhớ rõ từng chi tiết, nhưng cũng có những ký ức có thể phai nhạt theo thời gian.

Bởi vậy, việc tìm gặp các nhân chứng như Lê Công Nhiên, Bùi Trọng Khuông, Nguyễn Văn Tám, Vũ Văn Thanh, Vi Hạnh Bắc và những cán bộ, chiến sĩ từng có mặt tại Minh Tâm không chỉ là một hoạt động sưu tầm tư liệu thông thường. Đó còn là nỗ lực gìn giữ ký ức lịch sử, trả lại tên tuổi và vai trò cho những con người đã góp phần làm nên một sự kiện đáng chú ý trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc.

Một bức ảnh có thể ghi lại hình ảnh của 104 tù binh, nhưng không thể tự kể hết câu chuyện về những người lính Việt Nam đứng phía sau khuôn hình. Muốn lịch sử được tái hiện đầy đủ, cần có lời kể của nhân chứng, những tài liệu gốc, sự đối chiếu thận trọng và tinh thần tôn trọng sự thật.

Tòa soạn Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển tiếp tục trân trọng kêu gọi các cựu chiến binh, cán bộ quân đội, dân quân địa phương và những người biết thông tin về sự kiện 104 quân nhân Trung Quốc ra hàng tại Minh Tâm ngày 14/3/1979 liên hệ, cung cấp tư liệu, hình ảnh, giấy tờ hoặc kết nối nhân chứng.

Mỗi lời kể, mỗi tấm ảnh, mỗi trang tài liệu được tìm thấy hôm nay đều có thể góp thêm một mảnh ghép để lịch sử được nhận diện đầy đủ hơn. Và điều quan trọng nhất là những người lính đã từng có mặt trong sự kiện ấy không bị lãng quên trong dòng chảy thời gian.

Tư liệu và nhân chứng: Trung sĩ Lê Công Nhiên; ông Bùi Trọng Khuông; bài viết “Lịch sử của một bức ảnh” của tác giả Phan Thái, đăng trên Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển ngày 9/8/2021.

Bài viết phản ánh lời kể của các nhân chứng và tư liệu do nhân chứng cung cấp. Những nội dung còn có cách ghi nhận khác nhau về lực lượng, nhiệm vụ và trình tự sự kiện đang tiếp tục được Tòa soạn xác minh, đối chiếu.

5 tag: Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, 104 tù binh Trung Quốc, Minh Tâm Cao Bằng, Đại đội 23 Bắc Thái, Hồ sơ chứng tích chiến tranh