Thuở cắp sách tới trường, đọc tác phẩm văn học kinh điển “Người lái đò sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân, tôi luôn ấp ủ mong muốn một lần được rong ruổi trên sông nước đi đến mọi miền của Tổ quốc, hòa vào cuộc sống của những người quanh năm gắn bó với thuyền, với sông, với bến để hiểu và thấm hơn cái nghề vất vả mưu sinh nhưng cũng đầy lãng mạn này. Những ngày giáp Tết Nguyên đán, trong chuyến công tác về xã Vĩnh Thành, tôi được trải nghiệm, lắng nghe trực tiếp những tâm sự rất đời thường, nhưng là sắc màu rất riêng của họ…
Xa trung tâm đô thị, nhưng nhờ lợi thế “nhị cận giang” giúp người dân thôn Việt An có thu nhập ổn định. Nhiều hộ gia đình làm nghề vận tải thủy có mức thu nhập khá so với mặt bằng chung khu vực nông thôn, thậm chí đã có thời, nơi đây được mệnh danh là “làng tỷ phú”. Đổi lại, nghề sông nước đòi hỏi họ sự khéo léo, tỉ mỉ, những kỹ năng sinh tồn trong mọi tình huống và phần lớn thời gian không được ở bên gia đình.

Trò chuyện cùng ông Nguyễn Văn Khang, một lão niên trong nghề, được biết, nghề sông nước nơi đây có từ bao đời, “cha truyền, con nối”. Thuở xưa, có nhiều em bé được sinh ra trên thuyền, rong ruổi theo gia đình cùng những chuyến hàng cho đến khi trưởng thành rồi nối nghiệp. Ông cười xòa nói vui rằng: “Thế hệ chúng tôi, nhiều thuyền trưởng, thuyền viên có khi chả biết chữ, bởi quanh năm trên sông nước, không mấy khi vào bờ”.
Nước da ngăm đen, khuôn mặt sạm, bàn tay gân guốc, có nhiều vết chai sạn minh chứng cho sự vất vả của người đàn ông đã gắn bó 50 năm với nghề sông nước, nhìn ông Khang nhanh nhẹn, khỏe khoắn hơn hẳn so với độ tuổi gần 70 của mình.
Nhớ lại quãng thời gian đầu chính thức là thuyền viên khi chỉ mới 15 tuổi, ông chia sẻ: “Ngày ấy, thuyền chưa có máy, hàng hóa chuyên chở chủ yếu bằng sức người, mỗi chuyến chở hàng ra cảng Hải Phòng, Quảng Ninh có khi mất cả tháng trời. Vào những năm 70 của thế kỷ trước, lượng tàu, bè qua lại trên các tuyến sông không nhiều, hành trang mang theo chỉ có vài chiếc áo phao cũ, tải gạo, bịch muối... Ngày thường thời gian ở nhà ít, ngày Tết cũng vậy. Có những năm chiều 30 Tết mới giao hàng xong, năm nào hàng hóa bị ùn ứ ở cảng, hay tàu gặp sự cố thì phải đón giao thừa xa nhà. Những năm ăn tết xa nhà, anh em thuyền viên cũng sắm con gà, ván xôi, vài chiếc bánh chưng vui vầy cùng nhau, vui lúc ấy thôi, giao thừa xong ai cũng nhớ nhà, nhớ gia đình lắm”.
Anh Nguyễn Văn Toàn, một thủy thủ có hơn 30 năm tuổi nghề ở thôn Việt An nhớ như in cái Tết năm 2001. Anh bồi hồi kể lại: “Chiều 28 Tết, thuyền chở hàng của tôi bị mắc cạn, vợ ở nhà lại đang mang bầu con đầu lòng. Thời điểm ấy, phương tiện liên lạc chưa thuận tiện như bây giờ, lòng như lửa đốt mà chẳng thể dời tàu. Cũng may năm ấy về nhà thì mẹ tròn, con vuông. Giáp Tết năm 2007, thuyền đang chở hàng qua khu vực sông giữa 2 tỉnh Tuyên Quang và Phú Thọ thì bị va vào đá, ngập đến 80%. Bỏ thuyền thì sạt nghiệp, mà ở lại thì nguy hiểm tính mạng. Cũng may được bà con xã Phú Mỹ, huyện Phù Ninh (cũ), tỉnh Phú Thọ hỗ trợ trục vớt tàu và hàng. Giữa ranh giới sự sống và cái chết mới thấy trân quý những phút giây hạnh phúc, sum vầy bên gia đình”.

Trải qua hàng thập kỷ, ngành vận tải đường sông ngày càng phát triển, nghề vận tải thủy thôn Việt An đã được công nhận là làng nghề truyền thống. Toàn thôn hiện có khoảng 100 phương tiện vận tải thủy với trọng tải đạt 550 tấn/tàu, tạo việc làm cho hơn 400 lao động thu nhập trung bình từ 15 – 16 triệu đồng/người/tháng. Những chiếc tàu thủy nay được trang bị hiện đại hơn, thời gian vận chuyển cũng được rút ngắn, vậy nhưng, thủy thủ tàu vẫn có khi phải ăn Tết xa nhà bởi những đơn hàng dày đặc dịp cuối năm. Không khí chuẩn bị Tết, sửa soạn, sắm sanh cùng gia đình, tham gia những bữa tất niên do người thân, bạn bè tổ chức vẫn rất xa xỉ với họ.
Trong tiết trời mưa phùn, gió lạnh những ngày cuối tháng Chạp, tôi dừng chân tại một con tàu đang neo đậu ven sông, được chủ tàu mời lên trải nghiệm. Một con tàu lớn, ấy vậy nhưng ngoài không gian chính để dành chở hàng hóa, nơi sinh hoạt của thuyền viên chỉ gói gọn trong căn chòi rộng chừng chưa đến 5m2. Đồ dùng sinh hoạt chỉ có vài bộ quần áo, mấy chiếc xoong chảo, một chút lương thực. Trong không gian ấy, họ vẫn cười, vẫn chuyện trò rôm rả, một chiếc radio cũ đang phát bài hát “Mùa xuân đầu tiên’” là thứ đồ giải trí hiếm hoi của họ.
Anh Nguyễn Văn Tiến, một thuyền viên năm nay chỉ mới bước qua tuổi đôi mươi cho biết: “Xác định làm nghề phải chịu khó và biết chấp nhận – bố thường dặn em vậy. Chịu khó để học hỏi kỹ năng là cách để vượt qua khó khăn, bảo vệ mạng sống, sức khỏe và sự nghiệp. Chấp nhận là cách để biết trân quý nghề truyền thống, giữ lấy lửa nghề. Tết đến, niềm vui của bạn bè cùng trang lứa là được sửa soạn, sắm sanh cùng người thân, gia đình, với em thì niềm vui là tàu sớm cập bến, giao hàng nhanh để kịp về nhà đón Tết”.
Sóng vỗ vào mạn thuyền khiến những người không quen sông nước như tôi cảm thấy nôn nao, chống chếnh. Tiếp xúc với người dân làng nghề Việt An mới thấy, những người làm nghề sông nước lâu năm trông xù xì, từng trải là vậy, nhưng họ rất dễ gần, không toan tính, sống tình cảm và hiếu khách. Cuộc đời họ ngược xuôi theo những chuyến tàu chở hàng, lênh đênh và gập gềnh, chẳng bao giờ ngơi nghỉ như những con sóng dưới lòng sông.
Hai bên bờ thấp thoáng những gánh hàng đào, hàng quất khiến tôi thấy không khí Tết đã cận kề. Tạm biệt anh em thủy thủ, trong đầu tôi vẫn vẳng vẳng lời bài hát “Mùa Xuân đầu tiên” của cố nhạc sỹ Văn Cao khiến lòng xao xuyến đến lạ kỳ. Phải chăng, niềm vui của những người lái đò chính là ở nơi đây. Dù bên kia bờ, người ta đang nô nức sắm sửa cho đủ đầy một cái Tết, tất bật trở về với mâm cơm gia đình, thì với những người như anh Tiến, anh Toàn, mùa nào cũng như mùa xuân đầu tiên, mang theo sức sống mới, những chuyến hàng mới…