Kết quả phá hủy 130 nhà kho chứa 5.430 tấn bom đạn, trên 200 tấn thuốc nổ, thiêu cháy 1 kho xăng gần triệu lít, phá xập 1 nhà xưởng và 17 nhà lính, diệt và làm bị thương gần 300 tên địch.
CÔNG TÁC CHUẨN BỊ
Cơ sở vật chất:
Chất nổ 204 kg.
Kíp hẹn giờ trước lúc đánh phá thử, dây 100 m.
Một trạm sơ phẩu; thuốc và bông băng có đủ cho trận đánh.
Một túi thuốc, một túi thủ pháo, mỗi người một cái mũ khô; mỗi đồng chí 1 bộ.
Có 1 chỉ huy Sở; có 2 tổ trinh sát chốt đường; có một tổ cáng thương 3 người: 1 y tá; 1 y sỹ; B chốt 3 tải thương. Tổng cộng 56 người.
YÊU CẦU LÃNH ĐẠO
Cán bộ, đảng viên, đoàn viên tham gia trận đánh phải quán triệt mục đích, ý nghĩa trận đánh.
Lãnh đạo, chỉ huy phải thật kiên quyết, mưu trí, sáng tạo, xử lý tình huống kịp thời. Độc lập, kiên cường, quyết đánh, quyết thắng.
Chấp hành chỉ thị, hiệp đồng, thời gian thật nghiêm chỉnh.
Bí mật về nhiệm vụ, đường hướng tiến hành quân.

DỰ KIẾN TÌNH HUỐNG
Trước chiến đấu, trên đường hành quân tiếp cận có thể gặp biệt kích bung ra, kiên quyết cắt đường, tránh tình trạng nổ súng. Nếu tình trạng nổ súng, tổ trinh sát bám đường nổ súng, còn lại bộ phận cắt đường khác. Địch có thể nó bung ra lộ chiến thuật. Ta kiên quyết luồn lách tiếp cận để đảm bảo thời gian hiệp đồng trong chiến đấu.
Trong lúc cưa xong, không thể nào kéo cửa ra được, từng tổ tập trung lượng nổ đánh vào cửa.
Nếu không đạt kết quả, thì trèo lên mái nhà, đặt lượng nổ đặt vào mặt trên kho của ống khói để phá hủy, không được mang chất nổ về.
Trước lúc bộ đội tiền nhập vào vị trí:
Mũi hoặc tổ trưởng đi trước; tổ cắt rào đưa vào nghiên cứu phá vỡ 1 kho để rút kinh nghiệm.
Ra phổ biến kinh nghiệm cho mũi.
Riêng mũi 3, nếu không mở được cửa thì dỡ tôn trên mái nhà, đặt lượng nổ. Trong lúc gặp địch đi tuần phải bình tĩnh, có thể gặp phi pháo bắn khu dãy bom trong khi cưa. Địch báo động; lợi dụng địa hình để xử trí.

PHÂN CÔNG CỤ THỂ
Quân sự, đồng chí Tải: Chỉ huy trưởng; Chỉ huy phó, đồng chí Tư.
Chính trị viên trưởng: Đồng chí Hòa; đồng chí Huề, chính trị viên phó.
Đồng chí Tải đi với mũi 2; đồng chí Tư đi với mũi 1 đánh vào trận nội; đồng chí Hòa đi cùng mũi 3; đồng chí Huệ phụ trách công tác thương binh.
- Dự kiến đặt chỉ huy:
Đầu đường băng, đặt tại bờ đê.
- Thay thế quân sự: Mũi 1: Mùi.
- Thay thế chính trị viên: Đồng chí Phương, mũi 3.
TRẬN CHIẾN LONG BÌNH
Đại tá Nguyễn Văn Tải chỉ huy trận đánh.

TRẬN CHIẾN LONG BÌNH
Ngày 4/6/1972, tôi, Nguyên Văn Tải, trên cương vị là Tiểu đoàn trưởng, được giao nhiệm vụ chỉ huy Tiểu đoàn 9 tổ chức lực lượng đi trinh sát, điều nghiên mục tiêu khu kho 53 thuộc Tổng kho Long Bình.
Lý do Kho 53 chứa nhiều bom đạn, gây tội ác ở 4 chiến trường, gồm: miền Bắc, miền Nam (Việt Nam), Lào, Campuchia. Vì vậy, Tiểu đoàn 9 phải bằng mọi giá phá hủy mục tiêu Kho 53 để giảm bớt thương vong bộ đội ở chiến trường và mật độ bom đạn đánh phá của địch.
Đơn vị được tăng cường 18 cán bộ, chiến sĩ thuộc Đại đội 2 Đặc công lính Biên Hòa, đã qua chiến đấu, hiện ở Đông ấp Hưng Nghĩa.
Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi trở về đơn vị quán triệt nhiệm vụ của Trung đoàn giao cho cán bộ Tiểu đoàn và Đại đội. Tổ chức lực lượng cán bộ và đài 15W đến tối ngày 4/6/1972, hành quân vượt Quốc lộ 1 để gặp các cán bộ, chiến sĩ Đại đội 2 và phổ biến nhiệm vụ của trên.
Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 2 được biên chế về Tiểu đoàn 9, thuộc Trung đoàn 113.
Tối 5/6/1972, tổ chức hành quân xuống hướng đông sông Buông; xây dựng căn cứ (hầm bí mật), bảo đảm ăn, ở, đi lại bí mật tuyệt đối (nấu không khói, nói đủ nghe, đi không để lại dấu vết). Đài 15W sau 24h mới được lên sóng liên lạc.
Ngày 8/6/1972, Tiểu đoàn tổ chức lực lượng đi trinh sát thực địa và nắm quy luật hoạt động của địch ở Kho 53.
Qua một thời gian trinh sát, điều nghiên địch, đến 30/6/1972, ta đã vào được hết 9 lớp hàng rào và nắm được quy luật hoạt động của địch.
Về địa hình: Địch san ủi 6 quả đồi với diện tích 48 đến 50 km, chia thành 3 khu chính qua 4 con đường (từ ngoài vào kho): Khu bộ chỉ huy liên quân Việt Mỹ; Khu quân trang quân dụng; Kho 53 bom đạn, thuốc nổ. Phía đông kho có 01 sân bay dã chiến, bờ đê bao bọc, cao 1,6 m.
Giữa 9 lớp rào có đủ các loại mìn dày đặc; địch tại khu Kho 53 có Bộ Chỉ huy Liên quân Việt Mỹ, có Bộ Tư lệnh Quân cảnh 19, có 1 Tiểu đoàn xe tăng M41.
Vòng ngoài: Cách Tổng kho Long Bình 1,2 km có lính bảo an Chiến đoàn 43, thám báo, mật vụ.
Lực lượng trong Kho 53 có 300 đến 350 tên địch để bảo vệ kho.
Đêm điện cao áp 500W sáng suốt đêm, ngoài ra còn có đèn pha, pháo sáng, pháo bắn cầm canh theo quy luật về hướng đông. Nếu nghi ngờ, chúng cho máy bay trực thăng quần đảo và chiếu đèn pha xuống xung quanh căn cứ.
Đêm lính đi tuần không theo quy luật, có đêm có chó béc-rê, có đêm không, có khi dùng xe bọc thép đi tuần.
Tất cả có 11 vọng gác, có 1 đường tàu để vận chuyển vũ khí, bom đạn.

Trong quá trình nghiên cứu, Tiểu đoàn được giao bổ sung nhiệm vụ 3 lần: Lần 1 đánh 50 kho, lần 2 đánh 100 kho, lần 3 đánh 150 kho trở lên; mỗi lần giao thêm nhiệm vụ, tôi phải nghiên cứu mở thêm hướng và bố trí lực lượng đi nghiên cứu mục tiêu, mở thêm về hướng đông nam và một hướng đông bắc.
Đến ngày 10/7/1972, cả 03 hướng chúng tôi đã vào được các kho theo nhiệm vụ được giao và phát hiện kho đều có khóa. Cùng lúc đó, đồng Ninh lúc này được bổ nhiệm là Phó Tham mưu trưởng Trung đoàn, sang kiểm tra kết quả trinh sát, điều nghiên.
Tôi đã báo cáo cụ thể kết quả trinh sát, điều nghiên các kho ở hướng đông nam, hướng đông, kho dài 100 m, rộng 20 m. Kho ở hai hướng này đều có khóa. Riêng hướng đông bắc, kho nửa chìm, nửa nổi, không có khóa, chủ yếu tên lửa rốc két. Sau đó, đồng chí Ninh đã động viên Tiểu đoàn cố gắng tìm mọi cách mở cửa kho để hiệu quả trận đánh cao hơn.
Tôi đã đề xuất 2 phương án:
Phương án 1: Cưa khóa kho: Theo phương án 1, phải đi trinh sát đo lại kích cỡ khóa và đề nghị đ/c Đỗ Văn Ninh cho phương án cưa khóa kho để đánh.
Phương án 2: Cưa khóa kho và bắt tù binh để khai thác. Theo phương án 2, ý kiến bắt tù binh ở kho, đồng chí Ninh nêu ý kiến nếu bắt tù binh để khai thác dễ bị lộ. Anh Đỗ Văn Ninh nói bắt tù binh phải bí mật tuyệt đối và xóa hết dấu vết.
Tôi nghĩ rất nhiều, cuối cùng đưa ra 2 phương án:
Phương án 1: Bắt khi địch bắt đầu đi tuần.
Phương án 2: Bắt khi địch đi tuần về. Tôi nói không bị lộ, vì lính gác ở kho hầu hết là con em các tướng lính ngụy quân, ngụy quyền, theo cơ sở báo, lính gác trong kho vẫn đào ngũ. Nên bắt tù binh không bị lộ vì địch cho đó là lính đào ngũ.
Sau khi đắn đo, cân nhắc, thấy phương án 1 không khả thi, lý do lúc này địch rất tập trung, cảnh giác cao. Còn phương án 2 bắt khi địch trở về doanh trại. Lúc này thời gian đi tuần đã dài và quá khuya, sự mệt mỏi làm địch mất cảnh giác, không tập trung nhiều, hành quân rời rạc nên chọn đối tượng để bắt dễ hơn (bắt tên đi sau cùng).
Thực hiện phương án 2: Tổ trinh sát và 01 cán bộ Đại đội đã bắt được 01 tên tù binh. Qua khai thác tại Tiểu đoàn, nó khai chỉ biết khu vực nó gác, còn lại mọi vấn đề trong kho nó không biết một tý gì. Tôi đã điện lên Trung đoàn về việc bắt được tù binh, Trung đoàn lệnh đưa tù binh về Trung đoàn để xử lý.
Sau khi anh Ninh trở về Trung đoàn, một thời gian ngắn, các đề nghị của Tiểu đoàn về phương án tác chiến đều được Trung đoàn cung cấp đầy đủ, như cưa sắt, khóa, xà beng để đơn vị tập luyện thực tế. Sau đó, anh em tổ chức luyện tập cưa khóa, thời gian ban ngày hết 25 phút, ban đêm hết 30 phút.
Sau khi luyện tập thao tác thuần thục, tôi báo cáo với Trung đoàn về thời gian tác chiến và xin ý kiến thực hiện phương án chiến đấu. Lúc đó, đồng chí Trung đoàn trưởng Nguyễn Thanh Tùng và anh Hai Hiệp, Tham mưu trưởng Trung đoàn, sang trực tiếp kiểm tra lần cuối tại căn cứ đông sông Buông.
Tôi trình bày phương án tác chiến cụ thể đánh vào Kho 53 và được đồng chí Trung đoàn trưởng nhất trí với phương án và động viên cán bộ, chiến sĩ đơn vị bằng mọi giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Trung đoàn giao.
Ngày 11/8/1972, Tiểu đoàn trưởng giao nhiệm vụ cho các mũi, các hướng trực tiếp trên sa bàn. Cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ nhiệm vụ quan trọng của mình và tiếp tục trao đổi, thảo luận phương án tác chiến đến từng vị trí cụ thể.
Tổng số lực lượng sử dụng gồm 57 cán bộ, chiến sĩ, chia làm 2 bộ phận: trực tiếp đánh trận nội và bảo vệ hành lang.
Bộ phận bảo vệ hành lang có 22 người, tổ chức thành các tổ, nhóm bố trí trên các cung, đoạn từ căn cứ đến khu vực kho.
Dùng lực lượng tinh nhuệ đánh nội gồm 35 đồng chí, chia làm 3 mũi, đặt lượng nổ từ trong ra ngoài, khắc phục vật cản, bí mật luồn sâu, ém sát các mục tiêu đã phân công.

Một thuận lợi ngẫu nhiên đến với các chiến sĩ là các cửa kho địch đều mở toang để xả khí, ta không phải mất thời gian cưa khóa và mở cửa kho như kế hoạch, nên trận đánh diễn ra nhanh chóng, an toàn.
01h40 sáng ngày 13/8/1972, các mũi đồng loạt đặt lượng nổ, cách 1 kho đặt 1 kho. 02h00 ngày 13/8/1972, các mũi phải rời khỏi hàng rào ngoài cùng. Anh em bắt đầu đặt lượng nổ, tôi trực tiếp ra báo cáo với Trung đoàn trưởng. Đúng phương án, đến 02h30, anh em chiến sĩ đã tập trung về sở chỉ huy an toàn 100%. Đến 03h00 thì có tiếng nổ lớn, một cột khói cao khoảng 100 m. 3 ngày nổ liên tục, sau đó nổ rải rác cả tuần.
Trang bị của ta: 204 kg hợp chất C4; 92 kíp MI8 và kíp số 8; 100 m dây nổ; kéo cắt rào 3 cái; xà beng 3 cái; AK 4 khẩu; cưa sắt 6 cái.
Kết quả phá hủy 130 nhà kho chứa 5.430 tấn bom đạn, trên 200 tấn thuốc nổ, thiêu cháy 1 kho xăng gần triệu lít, phá xập 1 nhà xưởng và 17 nhà lính, diệt và làm bị thương gần 300 tên địch.
Toàn bộ cán bộ, chiến sĩ rút về căn cứ an toàn. Khi lui quân, có 1 chiến sĩ lạc đội hình bị bắt nhưng vẫn giữ vững khí tiết, không hề tiết lộ bí mật quân sự. Sau này được trao trả tù binh, hiện sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh.
Sau trận đánh, hãng Roi-tơ Anh, báo chí phương Tây đưa tin Đặc công cộng sản đã đánh vào kho đạn Long Bình, gây thiệt hại nặng nề cho chính quyền Sài Gòn và quân ngụy, và không ngăn chặn được Đặc công cộng sản. Tổng Tham mưu trưởng quân đội ngụy Việt Nam Cộng hòa ra lệnh các kho đạn quân khu, quân đoàn khi có lệnh mới được sử dụng; Chiến đoàn 43 phải di tán gấp.
Với chiến công trận đánh này, trận đánh được thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng 3; Tiểu đoàn 9 và Đại hội 2 Tiểu đoàn 12 được thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng 3; 16 cán bộ, chiến sĩ được thưởng Huân chương Chiến công các hạng.
Cùng với thắng lợi ở căn cứ không quân Biên Hòa, chiến công vang dội ở khu Kho 53, Tổng kho Long Bình, 1 lần nữa cho thấy Trung đoàn Đặc công 113 tuy mới thành lập nhưng với 1 quyết tâm cao, vượt qua mọi khó khăn, vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, khẳng định được vị trí, vai trò của lực lượng Đặc công chuyên trách đánh căn cứ hậu cứ.

Sách Lịch sử Lữ đoàn Đặc công 113 (1972-2022) ghi chỉ huy trận đánh Kho 53, Tổng kho Long Bình, đêm 12 rạng ngày 13/8/1972:
“Các đồng chí Nguyễn Thanh Tùng, Trung đoàn trưởng và Đỗ Văn Ninh, Tham mưu phó Trung đoàn trực tiếp chỉ đạo; đồng chí Nguyễn Văn Tải, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9, trực tiếp chỉ huy trận đánh”.
Sau này, đồng chí Nguyễn Thanh Tùng và đồng chí Đỗ Ninh được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 6 tháng 11 năm 1978. Đồng chí Ngô Văn Sơn được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 3 tháng 6 năm 1978 và đồng chí Hồ Văn Sinh được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 15 tháng 1 năm 1976.
Thành Đô (Đặng Trung Thành, CCB Trung đoàn Đặc công 113)