
Gần sáu thập niên sau ngày liệt sĩ Nguyễn Minh Yến hy sinh tại chiến trường Quảng Đà, người cháu gái từng được cậu công kênh trên vai vẫn đau đáu tìm nơi ông nằm lại. Một ngôi mộ chưa xác định danh tính tại Nghĩa trang liệt sĩ Hòa Châu cùng những lời kể còn lưu trong dân gian đang mở ra một tia hy vọng. Gia đình tha thiết mong các cựu chiến binh, nhân chứng và cơ quan chức năng cung cấp thêm thông tin để xác minh, đưa người liệt sĩ trở về nằm bên người mẹ đã hiến dâng cả chồng và con trai cho đất nước.
1. Ký ức cuối cùng của cô bé một tuổi
Trong cuộc đời mỗi người, có những ký ức được chính mình ghi nhớ, nhưng cũng có những ký ức được người thân nâng niu kể lại nhiều lần đến mức trở thành một phần máu thịt. Với bà Đỗ Thị Hiên, cựu giáo chức, hiện cư trú tại tổ dân phố Ngọc Đại, phường Đại Mỗ, thành phố Hà Nội, ký ức về người cậu ruột – liệt sĩ Nguyễn Minh Yến – bắt đầu từ một buổi đoàn viên ngắn ngủi năm 1964.

Đó là một ngày hè năm 1964. Trước khi vào chiến trường, chàng phi công trẻ Nguyễn Minh Yến được đơn vị giải quyết cho về thăm nhà! Biết bao cảm xúc sung sướng, tự hào. Nhưng điều bất ngờ ấn tượng nhất là khi vừa bước chân vào đầu ngõ, đập vào mắt anh lính trẻ là hình ảnh bà mẹ bế trên tay bé gái chưa đầy tuổi! Khi cậu nhập ngũ tháng 6/1963, bé Hiên vẫn còn trong bụng mẹ.
Chẳng kịp cởi bỏ bộ quân phục còn bụi đường, người lính trẻ đón luôn bé gái từ tay mẹ! Anh ôm cô cháu gái bé bỏng vào lòng, áp khuôn mặt sạm nắng chiến trường vào đôi má thơm mùi sữa, hít hà trìu mến. Rồi cậu đặt cháu lên vai, công kênh chạy vòng quanh sân. Tiếng cười trẻ thơ hòa cùng tiếng cười của người lính trẻ, vang lên giữa mái nhà quê nghèo mà ấm áp… Không ai ngờ đó là lần cuối cùng hai cậu cháu được ở bên nhau.
2. Một gia đình hai lần chịu nỗi đau mất người thân
Theo thông tin gia đình cung cấp, liệt sĩ Nguyễn Minh Yến sinh năm 1945, quê tại xã An Bồi, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình trước đây; nay là thôn An Bồi, xã Kiến Xương, tỉnh Hưng Yên. Ông nhập ngũ vào tháng 6/1963. Trong hồ sơ gia đình hiện còn lưu, đơn vị được ghi bằng ký hiệu “KN”; đơn vị khi hy sinh là “Quảng Đà – B1”. Chức vụ của ông khi hy sinh là Trung đội phó.

Ngày 05/5/1968, Nguyễn Minh Yến hy sinh tại chiến trường Quảng Đà. Nơi an táng ban đầu được ghi là Hòa Châu, Hòa Vang, Quảng Đà. Đó là những dòng thông tin ngắn ngủi, nhưng phía sau mỗi địa danh, mỗi ký hiệu đơn vị là cả một cuộc đời, một hành trình chiến đấu và một câu chuyện hy sinh mà gia đình vẫn chưa thể tìm lại đầy đủ.
Đáng chú ý, truyền thống cách mạng và sự hy sinh của gia đình liệt sĩ Nguyễn Minh Yến không chỉ bắt đầu từ cuộc kháng chiến chống Mỹ. Cha của ông từng tham gia hoạt động cách mạng trong thời kỳ chống thực dân Pháp, bị địch bắt, tra tấn rồi sát hại. Xót xa hơn, vì chiến tranh, hồ sơ thất lạc, phải gần nửa thế kỉ sau ngày mất, người cha của liệt sĩ mới được nhận bằng Tổ quốc ghi công. Nỗi đau của Mẹ nối dài theo những năm tháng của hai cuộc chiến tranh tàn khốc!
3. Những phần thưởng ghi nhận sự hy sinh của người con và người mẹ
Theo hồ sơ và giấy tờ gia đình còn lưu giữ, liệt sĩ Nguyễn Minh Yến đã được Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến hạng Ba. Đây là một dấu mốc quan trọng trong hồ sơ về người chiến sĩ quê Kiến Xương, cho thấy những cống hiến của ông trong những năm tháng chiến tranh đã được ghi nhận.
Đặc biệt, người Mẹ của liệt sĩ! Trong cả hai lần đất nước phải oằn mình chống lại chiến tranh xâm lược của Pháp và Mỹ, là hai lần Mẹ tiễn chồng và tiễn con lên đường cứu nước. Và rồi, cả hai lần tiễn người đi là cả hai lần không có ngày trở lại! Nén đau thương, ở quê nhà, Mẹ tích cực tham gia vào những hoạt động của Hội Phụ nữ xã: may áo tặng bộ đội, kêu gọi chị em tăng gia sản xuất… góp phần đánh thắng giặc Mỹ. Sự đóng góp hi sinh của Mẹ đã được Nhà nước ghi nhận, tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì và danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

Những phần thưởng ấy hôm nay không chỉ có ý nghĩa về mặt hồ sơ. Đằng sau mỗi tấm huân chương là một câu chuyện về sự hy sinh của cả một gia đình. Người mẹ ấy đã mất chồng vì cách mạng, rồi lại tiễn con đi và âm thầm chờ đợi ngày con trở về. Nhưng người con đã không trở về.
Gần sáu thập niên sau ngày Nguyễn Minh Yến hy sinh, những người cháu trong gia đình vẫn tiếp tục đi tìm ông. Với họ, hành trình ấy càng trở nên day dứt bởi người mẹ – người đã dành cả cuộc đời để chờ đợi – nay đã không còn. Bà đã mang theo nỗi mong mỏi tìm được nơi chồng và người con trai mình nằm lại.
4. Manh mối từ một ngôi mộ chưa biết tên ở Hòa Châu
Năm 2016, gia đình bà Đỗ Thị Hiên do ông Nguyễn Việt Hùng cùng con trai ông Hùng là anh Nguyễn Thành Long đã vào Nghĩa trang liệt sĩ Hòa Châu để tìm kiếm phần mộ liệt sĩ Nguyễn Minh Yến. Tuy nhiên, chuyến đi ấy chưa đem lại kết quả.
Gia đình sau đó tiếp tục gửi thông tin tới địa điểm tiếp nhận của “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” tại số 165 Xã Đàn, Hà Nội. Dù chưa nhận được kết quả như mong đợi, những người thân vẫn không bỏ cuộc.
Qua một bài báo về việc hỗ trợ thân nhân tìm kiếm liệt sĩ, gia đình biết đến Đại tá Phạm Văn Lũy và chủ động liên hệ. Điều khiến gia đình đặc biệt quan tâm là trường hợp được Đại tá Phạm Văn Lũy hỗ trợ có một số thông tin tương đồng với hồ sơ của liệt sĩ Nguyễn Minh Yến: cùng ký hiệu đơn vị “KN”, cùng hoạt động tại mặt trận Quảng Đà – B1.

Từ đầu mối này, gia đình tiếp tục kết nối với ông Trần Ngọc Doanh, một người dân địa phương am hiểu thông tin về các phần mộ liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ Hòa Châu. Theo nội dung trao đổi do gia đình cung cấp, tại nghĩa trang có hai phần mộ được cho là của những người lính quê miền Bắc hy sinh trong một trận đánh sân bay năm 1968. Một phần mộ đã được thân nhân nhận; phần còn lại hiện chưa có thông tin xác định danh tính. Theo ông Doanh, ngôi mộ đó là ngôi mộ số 192, thuộc hàng số 7, Khu B. Thông tin ấy lập tức làm sống dậy niềm hy vọng trong gia đình bà Hiên.
Theo lời kể được lưu truyền trong gia đình, Nguyễn Minh Yến từng được tuyển chọn theo hướng đào tạo phi công. Tuy nhiên, trong Chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968, ông có thể đã tham gia chiến đấu với nhiệm vụ đặc công hoặc trinh sát tại một sân bay thuộc khu vực Quảng Đà. Một người cùng làng tên Trần Văn Điểm từng kể rằng, với cương vị Trung đội phó, Nguyễn Minh Yến đã vào trinh sát bên trong sân bay và ở lại yểm trợ để đồng đội rút lui. Sau đó ông hy sinh. Ông Nguyễn Văn Điểm nay cũng đã qua đời, nên lời kể ấy chưa có điều kiện được đối chiếu thêm.
Đây là một chi tiết rất quan trọng, nhưng cần được nhìn nhận thận trọng. Thông tin “được tuyển vào phi công”, “thả dù vào sân bay”, làm nhiệm vụ “đặc công, trinh sát” và ở lại yểm trợ đồng đội hiện mới là ký ức của gia đình và lời kể truyền lại từ một người cùng quê. Chưa có tài liệu quân sự hoặc nhân chứng trực tiếp được công bố để xác nhận đầy đủ.
Tương tự, ngôi mộ chưa xác định danh tính tại Hòa Châu cũng mới chỉ là một hướng tìm kiếm. Việc ngôi mộ có phải là nơi an nghỉ của liệt sĩ Nguyễn Minh Yến hay không cần được các cơ quan chuyên môn kiểm tra bằng hồ sơ quy tập, sơ đồ mộ chí, danh sách liệt sĩ hy sinh trong trận đánh, lời khai của nhân chứng và, khi đủ điều kiện, giám định ADN.
Dẫu vậy, sự trùng khớp bước đầu giữa thời gian hy sinh, địa bàn an táng ban đầu, thông tin về trận đánh sân bay và ngôi mộ chưa biết tên là một manh mối đáng được nghiên cứu nghiêm túc. Nó mở ra khả năng kết nối những mảnh thông tin đang nằm rải rác trong hồ sơ quân đội, tư liệu chiến trường, ký ức cựu chiến binh và hồ sơ quản lý nghĩa trang.
Gia đình đặc biệt mong tìm được những người từng công tác tại đơn vị mang ký hiệu “KN”, chiến đấu ở mặt trận Quảng Đà – B1 trong năm 1968; những cán bộ, chiến sĩ từng tham gia trận đánh sân bay vào khoảng đầu tháng 5/1968; lực lượng làm nhiệm vụ đặc công, trinh sát, dẫn đường, quân y, tải thương hoặc mai táng liệt sĩ tại khu vực Hòa Châu – Hòa Vang.
5. Xin hãy giúp người mẹ đón con trở về
Trong thư gửi Dự án “Sáng kiến Tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” – Vietnam Wartime Accounting Initiative (VWAI), do Texas Tech University triển khai, bà Đỗ Thị Hiên tha thiết đề nghị các nhà nghiên cứu quan tâm hỗ trợ gia đình rà soát tư liệu có liên quan đến liệt sĩ Nguyễn Minh Yến.
Nguồn tài liệu chiến tranh hiện được lưu giữ tại các trung tâm lưu trữ trong và ngoài nước có thể chứa những báo cáo trận đánh, sơ đồ địa hình, hồ sơ thu giữ trên chiến trường, danh sách thương vong hoặc tọa độ mai táng. Khi được nghiên cứu, đối chiếu với hồ sơ của phía Việt Nam và lời kể nhân chứng, các tài liệu ấy có thể bổ sung những mắt xích còn thiếu cho quá trình tìm kiếm.
Trường hợp liệt sĩ Nguyễn Minh Yến cũng cho thấy một thực tế: thông tin trong giấy báo tử và hồ sơ gia đình thường rất ngắn gọn. Ký hiệu “KN” có thể là chìa khóa, nhưng trước hết cần giải mã chính xác đó là phiên hiệu của đơn vị nào, tồn tại trong giai đoạn nào và trực thuộc lực lượng nào tại chiến trường Quảng Đà – B1. Địa danh “Hòa Châu, Hòa Vang, Quảng Đà” cũng cần được đối chiếu với địa giới, đơn vị quản lý địa bàn và hồ sơ quy tập qua từng thời kỳ.
Bên cạnh đó, cần làm rõ “trận đánh sân bay năm 1968” mà ông Trần Ngọc Doanh cùng người dân địa phương nhắc tới là trận đánh nào, diễn ra vào ngày nào, tại sân bay nào; lực lượng tham gia gồm những đơn vị nào; có bao nhiêu cán bộ, chiến sĩ hy sinh; những liệt sĩ ấy được mai táng tại đâu và sau chiến tranh đã được quy tập như thế nào.
Nếu xác định được ngôi mộ chưa biết tên tại Nghĩa trang liệt sĩ Hòa Châu có đặc điểm phù hợp với trường hợp liệt sĩ Nguyễn Minh Yến, gia đình mong được hướng dẫn thực hiện các thủ tục tiếp theo, trong đó có việc cung cấp mẫu sinh phẩm của thân nhân theo đúng quy định để phục vụ giám định ADN.
Gia đình liệt sĩ Nguyễn Minh Yến kính mong các cựu chiến binh, cán bộ từng công tác tại mặt trận Quảng Đà – B1; những người từng thuộc hoặc biết về đơn vị mang ký hiệu “KN”; các chiến sĩ từng tham gia trận đánh sân bay ở khu vực Đà Nẵng – Quảng Đà trong năm 1968; lực lượng từng chôn cất, quy tập liệt sĩ tại Hòa Châu, Hòa Vang; cùng người dân địa phương biết thông tin về hai ngôi mộ được nhắc tới, hãy lên tiếng giúp đỡ.
(Bài viết sử dụng thông tin từ hồ sơ và lời kể do gia đình TS. Đỗ Thị Hiên cung cấp. Những chi tiết về nhiệm vụ chiến đấu, trận đánh sân bay và ngôi mộ chưa xác định danh tính là các hướng nghiên cứu, chưa phải kết luận chính thức của cơ quan chức năng).
Hà Nội, 18/9/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên Dự án TTU–VWAI)