
1. Cảm thức “Hư Tĩnh” trong Hà Tiên thập vịnh
“Hư Tĩnh” là tư tưởng cốt lõi trong quan niệm của Lão Trang. Nó ảnh hưởng vô cùng sâu sắc không chỉ đối với nền văn hoá nghệ thuật của Trung Quốc mà còn ảnh hưởng tới các nước đồng văn như Việt Nam, Nhật Bản và Triều Tiên.
Trong Đạo đức kinh của Lão Tử, các khái niệm: Hư - Vô - Tĩnh - Đạm được đề cao như là biểu hiện gần với Đạo: đó là cái rộng của Hư: “Hư nhi bất khuất - Động nhi dũ xuất” (Trống rỗng mà không cạn kiệt, càng vận động càng ra lắm hơi, sinh hoá muôn loài) hay “Trí Hư cực, thủ Tĩnh đốc” (Đạt đến độ hư không cùng cực thì giữ được sự thanh tĩnh hoàn toàn); đó là cái dụng của Vô: “Tam thập phúc cộng nhất cốc - Đương kì Vô, hữu xa chi dụng - Duyên thực dĩ vi khí, đương kì Vô, hữu khí chi dụng - Tạc hộ dũ dĩ vi thất, đương kì VÔ, hữu thất chi dụng - Cố hữu chi, dĩ vi lợi; Vô chi, dĩ vi dụng” (Ba mươi then hoa cài vào một bầu xe làm nên bánh xe, nhưng chính nhờ cái khoảng trống trong bầu xe mà xe mới dùng được. Chuốt đất làm chĩnh, vò, chén, bát,… thì chính nhờ cái khoảng trống trong đó mới có chĩnh, vò, chén, bát mà dùng. Khoét núi, trổ cửa làm nhà lại cũng chính nhờ cái khoảng trống trong đó mới có nhà mà ở. Vậy, cái Có sở dĩ có ích lợi chính là vì cái Không có tác dụng); là cái vĩ của Vô: “Đại phương Vô ngung - Đại khí vãn thành - Đại âm Hi thanh - Đại tượng Vô hình - Đạo ẩn Vô danh” (Giống như hình vuông cực lớn không thấy góc cạnh, đồ chứa cực lớn còn lâu mới hoàn thành, âm cực lớn không nghe được tiếng, hình cực lớn không thấy rõ dáng hình. Đạo lớn lẩn khuất không có tên gọi).
Từ tư tưởng Lão Trang đã hình thành nên quan niệm “Hư Tĩnh” trong hoạt động lí luận và sáng tác văn học. Ở chương Thần tứ trong Văn tâm điêu long, nhà phê bình lí luận văn học thời Nam Bắc triều của Trung Quốc là Lưu Hiệp đã mượn thuật ngữ “Hư Tĩnh” để đưa vào phê bình văn học, nhấn mạnh thành điều kiện để triển khai hoạt động tư duy nghệ thuật: “Thị dĩ đào quân văn tư, quý tại hư tĩnh, sơ thược ngũ tàng, tháo tuyết tinh thần” (Bởi vậy, tạo dựng tứ văn, lòng phải hư tĩnh, xoá sạch mọi thành kiến, làm trong sáng tinh thần), yêu cầu tác giả khi sáng tác phải gạt bỏ hết mọi tình cảm và suy nghĩ tầm thường để cho hoạt động tư duy được thuận lợi, sức tưởng tượng được phát huy ở mức tối đa. Coi “Hư Tĩnh” là mấu chốt của việc cấu tứ sáng tác, nhà thơ thời Tống là Tô Đông Pha (1037 - 1101) cho rằng:
Dục lệnh thi ngữ diệu
Vô yếm không thả tĩnh
Tĩnh cố liễu quần động
Không cố nạp vạn cảnh
(Mong muốn thơ kì diệu
Chẳng chán Tĩnh và Không
Tĩnh vốn đầy hoạt động
Không vốn chứa cảnh tình)
(Tống Tham Liêu sư)
“Hư Tĩnh” có khả năng chi phối tư duy và hoạt động sáng tác của con người trung đại. “Hư Tĩnh” cũng có mặt trong Hà Tiên thập cảnh của Mạc Thiên Tích, qua những biểu hiện: Ý tại ngôn ngoại, lời đã hết mà ý vẫn còn; Trong Động có Tĩnh, trong Tĩnh có Động.
* Ý tại ngôn ngoại, lời đã hết mà ý vẫn còn
Trong chương Ẩn tú của sách Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp là người đầu tiên đề xuất quan điểm “ý tại ngôn ngoại”. Đến thời Tống thì hầu như nó đã trở thành một tiêu chuẩn nghệ thuật cơ bản. Mai Nghiêu Thần (1002 - 1060) là nhà thơ, nhà phê bình nổi tiếng thời Tống cho rằng: “Có thể tả phong cảnh ở trước mắt, ý bất tận ở ngoài lời, sau này mới hiểu” (Tư tưởng lí luận văn học cổ Trung Quốc). Trong phần Thi biện trong Thương Lang thi thoại, nhà lí luận thời Nam Tống Nghiêm Vũ có nói “ngôn hữu tận nhi ý vô cùng” (lời có hết nhưng ý không dứt). Ở Việt Nam, Nguyễn Dữ có lời bình về thơ của người xưa như sau: “Thơ của người xưa, lấy hứng làm gốc, bình đạm làm khéo, câu tuy ngắn nhưng ý thì dài, lời tuy gần nhưng nghĩa thì xa” (Từ trong di sản).
Quan niệm ý tại ngôn ngoại, lời đã hết mà ý vẫn còn đã trở thành quan niệm sáng tác quan trọng mà nhiều nhà thơ cổ điển của Trung Quốc và Việt Nam phải học tập và ứng dụng. Mạc Thiên Tích cũng thể hiện quan niệm sáng tác này trong Hà Tiên thập vịnh.
Trong thơ, ý tại ngôn ngoại có nghĩa lời thơ không cần phải chuyển tải hết ý của tác giả muốn gửi đến độc giả. Độc giả phải tự khám phá lớp nghĩa sâu xa, hàm ẩn được giấu kín sau lớp ngôn từ. Người đọc cần chú ý hai câu kết, nhất là câu cuối. Bởi vì, tại đây đóng mà mở, hết mà chưa hết, tạo ra một không gian, một thời gian rộng rãi ngân dài trong lòng người đọc.
Nếu đọc hời hợt hai bài thơ mở đầu của Hà Tiên thập vịnh: Kim Dự lan đào và Bình San điệp thuý, thì người đọc chỉ cảm nhận được rằng, đây là hai bài thơ tả cảnh hải đảo, sơn cương thật đẹp, thật hùng tráng trên vùng đất biển Hà Tiên. Sâu sắc hơn chút, người đọc thấu hiểu được nỗi tự hào của Mạc Thiên Tích về vùng đất Hà Tiên giàu đẹp. Trong hai bài thơ này, không một câu nào, không một từ nào nói lên ý thức trách nhiệm bảo vệ vùng đất Nam thuỳ, nói lên tấm lòng trung quân với chúa Nguyễn Đàng Trong. Nhưng, nếu người đọc am tường cuộc đời và sự nghiệp của họ Mạc ở Hà Tiên, hiểu rõ vị trí chiến lược của hai cảnh Kim Dự và Bình San thì sẽ hiểu được cái ẩn ý mà Mạc Lịnh Công muốn gửi gắm đến người đọc đương thời và cả hậu thế. Đó chính là cái ý ở ngoài lời vậy.
Trong Tiêu Tự thần chung tuyệt nhiên không thấy chữ nào có hình ảnh ngôi chùa hay hình ảnh nhà sư, nhưng nhờ chi tiết tiếng chuông, tịnh cảnh mà ta có thể hình dung được cảnh chùa chiền thanh tịnh, trang nghiêm. Hai câu kết của bài thơ như bị bỏ lửng:
Đốn giác thiên gia y chẩm hậu
Kê truyền hiểu tín diệc liêu liêu
(Ngàn nhà thức tỉnh dựa trên gối nghe tiếp
Tiếng gà báo sáng cũng cùng rộ lên)
Người đọc hụt hẫng vì muốn biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Nhưng lời thơ chỉ đến đó. Và, cái ý ngầm được giấu kín đó là cảnh sống thái bình, thanh nhàn của người dân nơi đây. Họ không bị cảnh binh đao nhiễu loạn, không bị câu thúc bởi chính quyền phong kiến Đàng Trong. Tiếng chuông chùa Tiêu buổi sớm đồng thời hoà thanh cùng tiếng gà gáy sáng đã tạo nên không gian nửa thoát tục nửa trần tục. Người dân ung dung trước thời gian trôi trải, như được sống trong cõi an lạc hằng thường.
Đọc Thạch Động thôn vân, người đọc sẽ say sưa cảm nhận một bức tranh phong cảnh kì thú: núi đá cao vút, hang động long lanh, cây cối xanh tốt, gió mây đuề huề,… Thật là một cảnh tượng thiên tạo hiếm có. Nhưng, qua cái nhìn “xuyên hình” (xuyên qua cái hình tướng bên ngoài sự vật) chúng ta thấy núi đá Thạch Động không chỉ là cảnh đẹp của thiên nhiên kiến tạo mà nó được tác giả dùng để ví với Tao đàn Chiêu Anh Các và sự rèn luyện tài năng văn chương của các thành viên trong Tao đàn. Thạch Động phải trải qua nhiều gió sương mài giũa nên đá núi càng thêm màu già dặn lạ lùng: Phong sương cửu lịch văn chương dị (Gió sương trải lâu, dáng vẻ kì lạ). Thi nhân cũng phải trải qua nhiều gió sương mài giũa, thơ có trải nhiều thời gian rèn luyện thì hạ bút mới già dặn, xuất thần. Ý nghĩa hình tượng thật sâu xa, người đọc cần chiêm nghiệm nhiều mới nhận ra được điều đó.
Sáu câu đầu trong Châu Nham lạc lộ tập trung nói về đặc điểm, đặc tính sinh hoạt của loài cò. Đó là bức tranh dân dã về đàn cò trên bờ bãi dưới nắng chiều:
Lục ấm u vân xuyết mộ hà
Linh nham phi xuất bạch cầm tà
Vãn bài thiên trận la phương thụ
Tình lạc bình nhai tả ngọc hoa
Bộc ảnh cộng phiên minh nguyệt tụ
Vân quang tề táp tịch dương sa
(Mây râm che rợp điểm xuyết ráng chiều
Bầy chim trắng bay chếch ra từ lèn đá thiêng
Chiều buông bày trận trên trời giăng khắp cây thơm
Trời tạnh đáp xuống lèn núi phẳng như dòng hoa ngọc)
Hai câu kết vẫn tiếp tục nói về đàn cò. Người đọc phải tinh ý mới phát hiện được tâm tư của tác giả nấp sau những cánh cò chiều:
Cuồng tình thế lộ tương thi kế
Lục lục thê trì thuỷ thạch nha
(Ngông cuồng toan thi thố mưu kế trên đường đời
Nhưng vẫn nương náu ở chốn lèn đá bãi nước)
Căn cứ vào “yếu tố ngoài văn bản” chúng ta thấy, Mạc Thiên Tích mượn vật để nói người, mượn cảnh đi về của cánh chim để giãi bày hoàn cảnh trấn thủ nơi biên thuỳ và sự an phận của mình.
Trong bài thơ Đông Hồ ấn nguyệt không hề xuất hiện chữ nguyệt (trăng) nhưng người đọc vẫn nhận thấy sự tồn tại của ánh trăng qua song ảnh và băng tâm thượng hạ quang:
Vũ tễ yên tiêu cộng diểu mang
Nhất loan phong cảnh tiếp hồng hoang
Tình không lãng tịnh huyền song ảnh
Bích lạc vân trừng tẩy vạn phương
Trạm khoát ứng hàm thiên đãng dạng
Phiêu linh bất hận hải thương lương
Ngư long mộng giác xung nan phá
Y cựu băng tâm thượng hạ quang.
(Mưa tạnh khói tan thảy đều xa vời
Phong cảnh vùng biển đầy vẻ hoang vu
Trời quang sóng lặng treo hai bóng trăng
Biển biếc mây trong rửa cả muôn phương
Rộng lớn chứa đựng trời xa bát ngát
Nổi trôi không hận biển cả lạnh lẽo
Cá rồng tỉnh giấc xông vào khó phá vỡ được
Tấm lòng băng vẫn sáng quắc trên trời dưới nước.)
Ở cặp đôi Đông Hồ ấn nguyệt và Nam Phố trừng ba, vẻ đẹp của ánh trăng trong hai bài thơ tuy biểu hiện khác nhau nhưng giống nhau về ý nghĩa biểu tượng:
Y cựu băng tâm thượng hạ quang
(Tấm lòng băng vẫn sáng quắc trên trời dưới nước)
(Đông Hồ ấn nguyệt)
Nguyệt lãng ba quang tự tại minh
(Trăng trong, ánh sóng tự sáng trong nước)
(Nam Phố trừng ba)
Nếu xét trên văn tự thì ánh trăng là một hiện tượng tự nhiên, tỏ vẻ đẹp riêng mình trên biển hồ lai láng. Vượt ra ngoài văn tự, ánh trăng trở thành biểu tượng của tấm lòng trung nghĩa trước sau như một của Mạc Đô đốc dành cho Chúa.
Cảnh Lộc Trĩ thôn cư vốn thanh nhàn. Người dân vui với cuộc sống nơi thôn dã. Tất thảy người dân đều không muốn bất kì sự phiền nhiễu nào từ thế giới bên ngoài (từ nơi khác):
Hành nhân nhược vấn trú hà xứ
Ngưu bối nhất thanh xuy địch đình
(Dường như người đi hỏi thăm chỗ ở
Trên lưng trâu tiếng sáo vút lên rồi im bặt)
Hai câu kết này nói lấp lửng, đã khiến cho nhà thơ Đông Hồ diễn ra bốn cách hiểu khác nhau trong Văn học Hà Tiên:
Cách hiểu thứ nhất: “Trong cảnh yên tĩnh thung dung nơi trang trại, thỉnh thoảng cũng có kẻ qua đường dừng bước hỏi han điều kia chuyện nọ. Như có kẻ nào đi qua, dừng lại hỏi rằng: trú ngụ ở chốn nào, thì tiếng sáo trên lưng trâu, bỗng dưng ngừng bặt.”
Cách hiểu thứ hai: “Ý nghĩa rằng không muốn kẻ khác lại hỏi han phiền nhiễu làm quấy rầy đến đời sống an nhàn. Mà lạ lùng thay, ai đó lại đi hạch hỏi làm chi nơi ăn chốn ở.”
Cách hiểu thứ ba: “Ngồi trên lưng trâu, tâm hồn đang say sưa thả buông theo tiếng sáo êm đềm mà có kẻ đáng ghét nào đi qua, gọi giật lại, hỏi han những điều lôi thôi nọ.”
Cách hiểu thứ tư: “Nghĩ mà giận thay, người đâu vô ý và vô duyên quá lắm. Nghe lời hỏi lôi thôi, mà không muốn trả lời. Chẳng những không thèm đáp lại mà tiếng sáo đang thổi cũng nín lặng đi không thèm thổi nữa. Thổi nữa mà làm chi. Để kẻ phàm tục nghe cho phí tiếng sáo thần tiên, cho uổn khúc điệu thâm trầm.”
Bốn cách hiểu về hai câu thơ trên của Đông Hồ chính là cái “dư vị” thu được từ cái “ngoài lời” của thơ. Việc tạo ra cái “dư vị” hợp lí với ý thơ thì cũng chính là đang “đồng sáng tạo” với tác giả vậy.
Như vậy, Hà Tiên thập vịnh ngoài nghĩa tường minh là vịnh mười cảnh đẹp trên đất Hà Tiên, nó còn chất chứa biết bao hàm ý. Lòng tự hào, nỗi khát vọng của Mạc Thiên Tích không được bộc lộ trực tiếp trên câu chữ. Người đọc thơ muốn khám phá ra những ý nghĩa hàm ẩn của nó thì phải tự suy ra mà hiểu lấy. Khi đã thấu hiểu được những ẩn ý sâu xa, hàm ẩn của chùm thơ này thì cũng chính là tìm ra được cái “ý ở ngoài lời” mà tác giả muốn gửi đến người tri âm.
* Trong Động có Tĩnh, trong Tĩnh có Động (Động trung hữu Tĩnh, Tĩnh trung hữu Động)
Động và Tĩnh là hai thuộc tính vốn có của sự vật khách quan. Động và Tĩnh là hai mặt đối lập với nhau, quan hệ đối lập giữa Động và Tĩnh được vận dụng một cách rộng rãi trong việc miêu tả văn nghệ, do tác dụng, đối tỉ của chúng mà tạo thành một hiệu quả nghệ thuật đặc biệt.
“Trong Động có Tĩnh” tức là thông qua sự truyền lan của cái Động mà cái Tĩnh được nhấn mạnh hơn. “Trong Tĩnh có Động” tức là nhờ vào việc miêu tả cái Tĩnh, khiến người ta nẩy sinh sự liên tưởng, và càng có cảm giác Động hơn.
Trong mười cảnh đẹp của Hà Tiên thập vịnh, có những cảnh hiện lên náo nhiệt với nhiều loại âm thanh nhưng cũng có những cảnh hiện lên thật yên ả, vắng lặng. Thủ pháp “trong Động có Tĩnh, trong Tĩnh có Động” được Mạc Thiên Tích khai thác và ứng dụng có hiệu quả nghệ thuật trong một số bài thơ.
Cảnh Tiêu Tự thần chung thật vắng lặng, tĩnh mịch, giống như tên gọi của chùa này. Khi vạn vật đang đắm chìm trong giấc ngủ say thì bị tiếng chuông khua động làm giật mình tỉnh giấc. Trong cái tĩnh lại xuất hiện cái động:
Tàn tinh tiêu lạc hướng thiên phao
Mậu dạ kình âm viễn tự xao
Tịnh cảnh nhân duyên tỉnh thế giới
Cô thinh thanh việt xuất giang giao
(Sao tàn lác đác rải trên bầu trời
Tiếng chuông chùa xa tảng sáng đưa tới
Nhân duyên tịnh thổ gọi tỉnh cuộc đời
Trong trẻo một tiếng vượt ra bờ sông)
Trong đêm thanh vắng (Mậu dạ: canh năm), tiếng chuông chùa làm cho chim hạc và chim quạ cất lên tiếng giật mình kinh sợ nhưng chính tiếng hạc và tiếng quạ ấy đã làm tăng thêm ý vị cho tiếng chuông, làm không gian bớt đi vẻ tịch mịch, cô liêu:
Hốt kinh hạc lệ nhiễu phong thụ
Hựu xúc ô đề ỷ nguyệt sao
(Đã như hạc giật mình kêu trong tiếng gió vương cây
Lại khiến quạ kêu trên cành dựa trăng)
Đọc đến hai câu này làm ta chợt nhớ tới hai câu thơ cuối trong bài Điểu minh vãn (Khe chim kêu) của Thi Phật Vương Duy (701 - 761):
Nguyệt xuất kinh sơn điểu
Thời minh xuân giản trung
(Trăng lên làm chim núi giật mình
Thỉnh thoảng cất tiếng kêu trong khe núi)
Trăng lên mà cũng có thể làm cho chim núi giật mình. Vài tiếng chim kêu thưa thớt trong khe càng làm cho núi xuân thêm u tịch. Đây chính là nghệ thuật lấy động để tả tĩnh, lấy cái hữu thanh để gửi gắm cái vô thanh.
Trở lại hai câu kết trong Tiêu Tự thần chung:
Đốn giác thiên gia y chẩm hậu
Kê truyền hiểu tín diệc liêu liêu
(Ngàn nhà thức tỉnh dựa trên gối nghe tiếp
Tiếng gà báo sáng cũng cùng rộ lên)
Tiếng gà - âm thanh đặc trưng của bình minh, nhấn chìm tất cả những âm thanh trong đêm tối (tiếng chuông, tiếng hạc, tiếng quạ). Âm thanh này đã tạo ra được sự vận động về thời gian từ chỗ u tối, tịch mịch sang chỗ quang đãng của ngày mới.
Âm thanh được miêu tả trong Tiêu Tự thần chung thật đặc biệt. Bốn câu đầu chỉ nói về tiếng chuông trong đêm vắng tịch mịch, đã thể hiện rõ tinh thần hai chữ “Tiêu Tự” (chùa tịch mịch). Bốn câu sau, tiếng chuông được hoà tấu thêm những âm thanh khác (tiếng hạc, tiếng quạ, tiếng gà) tạo thành một bản nhạc đa âm rộn rã, làm cho cảnh chùa chiền tịch mịch trở nên xôn xao, vui vầy, đã làm bật nổi tinh thần hai chữ “thần chung” (tiếng chuông buổi sớm).
Âm thanh trong Lộc Trĩ thôn cư là âm thanh của cuộc sống nhàn tản nơi thôn dã:
Trúc ốc phong qua mộng thuỷ tinh
Nha đề thiềm ngoại khước nan thinh
(Gió thoảng qua nhà tre, vừa tỉnh giấc mộng
Tiếng quạ kêu rộn trước thềm thật không nghe nổi)
Không gian ở nông trại Mũi Nai thật thanh tĩnh, vắng lặng. Chỉ cơn gió thổi qua nhà tre cũng đủ để người đang say giấc phải giật mình tỉnh dậy. Chưa hết, tiếng quạ kêu ngoài thềm lại tiếp tục quấy rầy làm người nghe thấy khó chịu, bực mình. Tiếng gió thổi nhà tre và tiếng quạ có tác dụng làm tăng thêm sự thanh tĩnh ở nơi đây.
Hai câu kết:
Hành nhân nhược vấn trú hà xứ
Ngưu bối nhất thanh xuy địch đình
(Dường như người đi hỏi thăm chỗ ở
Trên lưng trâu tiếng sáo vút lên rồi im bặt)
Tiếng sáo là âm thanh quen thuộc trong nhiều bài thơ cổ điển của Trung Quốc và Việt Nam: Thuỵ khởi hoãn nhiên thành độc tiếu - Sổ thanh ngư địch tại Thương Lang (Tỉnh dậy, một mình cười mỉn miệng - Vài tiếng sáo chài trên sông Thương Lang) (Thuỷ đình, Thái Xác, thời Tống); Mục đồng địch lí quy ngưu tận - Bạch lộ song song phi hạ điền (Mục đồng sáo trâu về hết - Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng) (Thiên Trường vãn vọng, Trần Nhân Tông). Âm thanh du dương ấy mang đến cho người nghe cảm xúc êm dịu, thảnh thơi, thoát tục. Trong Lộc Trĩ thôn cư, âm thanh của sáo trúc chỉ vút lên một tiếng. Nó phá vỡ, xé toạc khoảng không gian tĩnh lặng. Rồi liền sau đó tiếng sáo lại im bặt, trả cái tĩnh lặng về với không gian vốn có ở nơi này. Câu thơ cuối đã thể hiện được mối tương quan động trong tĩnh, tĩnh trong động.
Không gian trong Lư Khê ngư bạc là một dòng sông (rạch) đầy hơi sương lạnh buốt, trong buổi xế tà, sóng nước nhẹ êm. Trong chiếc áo tơi trên con thuyền nhỏ, người đi câu xuất hiện:
Nhất lãnh thoa y sương khí bách
Kỉ thanh trúc trạo thuỷ quang ngưng
(Một mảnh áo tơi, hơi sương lạnh buốt
Mấy tiếng chèo khua, ánh nước sáng bừng)
Giữa không gian tĩnh mịch, cảnh vật xung quanh vắng lặng, mấy tiếng mái chèo khua nước như đã trở thành âm thanh độc tôn, phá vỡ sự yên tĩnh đến run người. Khi bơi thuyền, tiếng mái chèo là một thứ âm thanh nhịp nhàng, đều đặn và không mấy ồn ào. Nhưng ở đây, nó lại là âm thanh có sức mạnh to lớn, làm tan biến đi sự yên tĩnh của cả một vùng. Như vậy, tại âm thanh mái chèo khua nước quá lớn hay tại sự yên tĩnh ở nơi này quá lớn!
Mạc Thiên Tích đã dùng cái “Hư Tĩnh” để tạo ra những khoảng “dư địa” trong Hà Tiên thập vịnh. Độc giả đương thời hay hậu thế phải tìm cho được khoảng “dư địa” ấy - nơi mà Mạc Thiên Tích cất giấu phần còn lại của tư tưởng, tình cảm và tài năng của mình. Có như thế mới tạo được sự “đồng thanh, đồng khí” giữa người sáng tác và người thưởng thức.
2. Cảm thức “Bình Đạm” trong Hà Tiên thập vịnh
“Bình Đạm” là một phong cách nghệ thuật xuất hiện từ thời Tống (Trung Quốc). Mai Nghiêu Thần là người đầu tiên nêu tên gọi “Bình Đạm”:
Nhàn ngâm thích tính tình
Xưng dục đáo bình đạm
(Ngâm nga thoả tính tình
Đạt được tới bình đạm)
(Y vận hoạ Yến tướng công)
Tác thi vô cổ kim
Duy tạo bình đạm nan
(Thơ không có xưa nay
Được bình đạm khó thay)
(Độc Thiệu Bất Nghi học sĩ thi quyển)
Có thể hiểu, “Bình Đạm” trong thơ là dùng thứ ngôn ngữ nghệ thuật bình dị thuần phác mà hàm súc uyển chuyển để biểu đạt nội dung phong phú nhiều ý vị. Lời thì đơn giản mà ý thì sâu sắc. “Bình Đạm” không phải dễ dàng mà đạt được, phải có sự rèn luyện. Tô Thức từng nói: “Đại phàm vi văn, đương sử khí tượng tranh vanh, ngũ sắc tuần lạn, tiệm lão tiệm thục, nãi tạo bình đạm” (Đại phàm làm văn, phải làm cho khí tượng vút cao, ngữ sắc xán lạn, dần dần được thục luyện, được già dặn, như vậy mới tạo được bình đạm). Người thời Tống coi trọng việc dùng thơ để thể hiện nhân cách, nên thuyết “Bình Đạm” rất thịnh hành, vì “Bình Đạm” thể hiện được phong cách đạm bạc mà thanh cao của nhà thơ. Rồi từ đó, phong cách này đã có sức ảnh hưởng sang các nước đồng văn, trong đó có Việt Nam.
Trong Hà Tiên thập vịnh của Mạc Thiên Tích, phong cách “Bình Đạm” được biểu hiện qua hai thao tác: thao tác thứ nhất, chọn lựa những hình ảnh không lớn lao kì vĩ, chuộng cảnh nhỏ mà đẹp; thao tác thứ hai, miêu tả đời sống thanh bình, nhàn hạ, gần gũi với thiên nhiên.
* Chọn lựa những hình ảnh không lớn lao kì vĩ, chuộng cảnh nhỏ mà đẹp
Thi sĩ đất Hà Tiên là Đông Hồ đã có nhận xét khách quan và chân thành về cảnh đẹp ở vùng này: “Muốn đem so sánh với những danh lam thắng tích, muốn đem so sánh với những danh sơn đại xuyên, thì phong cảnh Hà Tiên thực hãy còn thua kém nhiều nơi lắm” (Văn học Hà Tiên). Nhưng không vì vậy mà cảnh đẹp ở Hà Tiên trở nên tầm thường, cảnh ở đây vẫn có vẻ đẹp riêng của nó, vẫn làm say đắm lòng người bởi “ở đó có rừng không cao lắm, đến cho người ngắm hãi hùng, biển hồ không sâu lắm, đến cho người nhìn kinh sợ. Ở đó như một cảnh giả sơn thân mật, trong hoa viên, mỗi cảnh nhỏ nhỏ xinh xinh vừa đủ để cho tầm ngoạn thưởng” (Văn học Hà Tiên).
Thật vậy, cảnh vật thiên nhiên ở Hà Tiên mặc dù rất đa dạng (có núi, có rừng, có biển, có hang động, có sông suối, có đầm hồ,…) nhưng tất cả đều có quy mô từ vừa đến nhỏ, không có cảnh lớn lao, kì vĩ. Được một điều, thiên nhiên ở đây thật thơ mộng hữu tình, lung linh huyền ảo và tràn đầy sức sống. Đây chính là nguyên nhân địa lí khách quan khiến cho Mạc Thiên Tích chọn lựa và đưa vào Hà Tiên thập vịnh mười cảnh “nhỏ nhỏ xinh xinh”.
Trong thực tế, ngoài mười cảnh được chọn trong Hà Tiên thập cảnh, ở Hà Tiên còn rất nhiều danh thắng như: hòn Phụ Tử, hang Mo So, hang Tiền, núi Tô Châu,… nhưng Mạc Thiên Tích đã không chọn các cảnh này. Các cảnh này cũng có quy mô nhỏ nhưng chúng rời rạc (nằm ở những nơi mà khoảng cách địa lí quá xa nhau), hình dáng không có gì đặc biệt, nhất là chúng không nằm ở nơi chiến lược trọng yếu lúc bấy giờ.
Kim Dự mặc dù là một hòn đảo nhỏ nhưng nó nằm ngay cửa biển Hà Tiên - vị trí chiến lược quân sự. Trên đảo, quanh năm cây cối xanh tốt, càng đẹp hơn khi nó được soi chiếu dưới nắng chiều. Cảnh Kim Dự lan đào đẹp như một bức tranh treo ở cõi lạ:
Nùng đạm sơn xuyên dị quốc huyền
(Non sông đậm nhạt như bức tranh treo ở cõi lạ)
Bình San là một đồi núi không cao lắm, dáng núi như bức bình phong che chắn gần hết mặt phía Tây thành Hà Tiên xưa. Nó cũng có vị trí chiến lược trọng yếu. Vẻ đẹp choáng ngộp của Bình San chính là màu xanh chồng chất của núi đá và cây cối. Bình San hun đúc khí thiêng của trời đất lâu năm nên nó mang một vẻ đẹp khác thường, có một bản sắc riêng:
Cảm đạo Hà Tiên phong cảnh dị
Lam đồi uất uất thụ tiêu tiêu
(Dám nói là phong cảnh khác thường ở Hà Tiên
Màu xanh chồng chất, cây cối san sát)
Thạch Động là một khối đá vôi lớn (cao 10 mét), đứng thẳng trên một đồi cát, nằm về hướng biên giới Tây Nam của trấn Hà Tiên. Bên trong là một hang cao và rộng, có nhiều thạch nhũ với những hình thù lạ mắt. Nhờ hai cửa hang ở trên cao (cửa phía Đông và cửa phía Tây), nên trong hang lúc nào cũng thoáng mát. Đây là động đá đẹp và độc đáo bậc nhất ở Hà Tiên. Nó xứng đáng được Mạc Thiên Tích chọn làm đối tượng đề vịnh trong Thạch Động thôn vân.
Châu Nham tục gọi là Bãi Ớt, nằm về phía Đông của trung tâm trấn Hà Tiên. Đỉnh núi tròn trịa, sườn đá chạy thẳng đến bờ biển. Cảnh có một bên là núi, một bên là biển thật là sơn thuỷ hữu tình. Có bãi cát ven bờ trải dài, sóng êm gió lặng. Nơi đây có nhiều chim cò đến quây quần sinh sống. Một cảnh vừa đẹp vừa yên bình như thế chắc chắn không lọt khỏi mắt xanh của thi sĩ họ Mạc. Và, Châu Nham lạc lộ đã lột tả được hết những vẻ đẹp nói trên. Hai câu thơ đẹp nhất miêu tả đàn cò là:
Vãn bài thiên trận la phương thụ
Tình lạc bình nhai tả ngọc hoa
(Chiều buông bày trận trên trời giăng khắp cây thơ
Trời tạnh đáp xuống lèn núi phẳng như dòng hoa ngọc)
Đông Hồ là hồ nước lớn nằm ở phía Đông trấn thự Hà Tiên. Sóng nước mênh mang soi bóng núi Tô Châu. Đông Hồ càng đẹp hơn trong những đêm trăng. Vì nằm ở phía Đông nên Đông Hồ hứng ánh trăng đầu tiên khi trăng vừa mới mọc. Ánh trăng bàng bạc lan toả khắp mặt hồ. Chùm cảnh Hà Tiên thập vịnh sẽ mất đi thi vị nếu thiếu cảnh trăng Đông Hồ. Bởi thế, Mạc Thiên Tích đã dành cho cảnh này một bài thơ: Đông Hồ ấn nguyệt. Hai câu đắc địa miêu tả được cái thần của ánh trăng Đông Hồ là:
Tình không lãng tịnh huyền song ảnh
Bích lạc vân trừng tẩy vạn phương
(Trời quang sóng lặng treo hai bóng trăng
Biển biếc mây trong rửa cả muôn phương)
Cảnh Nam Phố rất đặc biệt bởi bãi biển này luôn bình yên với sóng êm gió lặng. Nó là bãi đỗ an toàn cho thuyền bè khi gặp giông tố. Lại thêm, nó mang một vẻ đẹp tươi mát, thanh thoát và hiền hoà. Chính vì thế, Mạc Thiên Tích đã chọn và đặt nhan đề cho nó là Nam Phố trừng ba. Hai câu đầu đã giới thiệu khái quát vẻ đẹp và đặc điểm của Nam Phố:
Nhất phiến thương mang nhất phiến thanh
Trừng liên giáp phố lão thu tình
(Một mảng mênh mông, một mảng xanh biếc
Mặt bể yên lặng giáp bờ, trời thu quang tạnh)
Lộc Trĩ là một mỏm núi nhô ra mặt biển, đi thuyền từ ngoài biển nhìn vào phảng phất giống như hình đầu con nai nằm ghếch mõm ngó ra mặt biển. Vì vậy, người dân địa phương gọi nôm na là Mũi Nai (sau dịch sang tên Hán là Lộc Trĩ). Lộc Trĩ có cây cối lửng lơ lưng núi, ngọn núi nhọn đứng chọc trời cao, vượt qua đất bằng mà gối đầu bờ biển. Nơi này càng đẹp khi có sự xuất hiện những mái nhà đơn sơ thấp thoáng trong núi. Và cảnh Lộc Trĩ đã được chọn vào Lộc Trĩ thôn cư với vẻ đẹp cuộc sống thôn dã thanh bình.
Lư Khê tức Rạch Vược, xưa có hai nhánh trổ, một nhánh đổ ra biển, một nhánh thông với Đông Hồ. Nơi hợp lại của hai dòng nước tạo thành một ao rộng, nước sâu trong vắt và nhiều cá tôm, đặc biệt có nhiều loài cá vược (họ cá chẽm) sinh sống. Dọc hai bên bờ Rạch Vược là những ngọn núi nhỏ nhấp nhô cùng với những túp lều tranh của dân chài. Cảnh sông nước thanh tĩnh cộng thêm thú câu cá thì càng mê đắm lòng người. Bình sinh, Mạc Thiên Tích đặc biệt yêu thích cảnh này. Ông còn cho cất ở đây một điếu đình (nhà ngồi câu) để khi rảnh rỗi đến ngồi câu cá thư giãn. Bởi lòng yêu thích đó, Mạc Lịnh Công đã chọn con rạch thanh tĩnh này vào Lư Khê ngư bạc. Ngoài ra, vì quá yêu thích, say mê con rạch nhỏ này, ông còn có cả thơ và phú về nó: Lư Khê nhàn điếu và Lư Khê nhàn điếu phú. Quả là cảnh này có một sức thu hút kì lạ.
Mạc Thiên Tích chọn lựa những hình ảnh không lớn lao kì vĩ, chuộng cảnh nhỏ mà đẹp để đưa vào thơ như thế đã thể hiện được sự “Bình Đạm” trong Hà Tiên thập vịnh. Mười cảnh đẹp giản dị, không qua trang sức nhưng vượt lên trên sự trang sức. Chính những hình ảnh “nhỏ nhỏ xinh xinh” này đã đem lại nhiều khoái cảm thẩm mĩ cho người thưởng thức, bởi nó phù hợp với gu thẩm mĩ của người Việt Nam.
* Miêu tả đời sống thanh bình, nhàn hạ, gần gũi với thiên nhiên
Cảnh chùa chiền bao giờ cũng gợi một cuộc sống bình yên, làm cho lòng người thanh thản, thoát tục. Tiêu Tự thần chung đã cho ta thấy cuộc sống của người dân Hà Tiên hết sức thanh bình, nhàn hạ như đang được sống nơi cực lạc. Tiếng chuông trong hoàn cảnh yên tĩnh, khiến cho người nghe nhân đó mà tỉnh ngộ cuộc đời:
Tàn tinh tiêu lạc hướng thiên phao
Mậu dạ kình âm viễn tự xao
Tịnh cảnh nhân duyên tỉnh thế giới
Cô thinh thanh việt xuất giang giao
(Sao tàn lác đác rải trên bầu trời
Tiếng chuông chùa xa tảng sáng đưa tới
Nhân duyên tịnh thổ gọi tỉnh cuộc đời
Trong trẻo một tiếng vượt ra bờ sông)
Tiếng chuông chùa ngân nga buổi tinh mơ làm thức tỉnh mọi người để họ lắng lòng mà hồi tâm tu tỉnh, gạt đi mọi phiền não (Văn chung thanh phiền não khinh (Nghe tiếng chuông làm nhẹ phiền não), Kệ thỉnh chuông, thường được khắc trên đại hồng chung ở các chùa), đem lời bình yên trong sạch tới chúng sinh:
Đốn giác thiên gia y chẩm hậu
Kê truyền hiểu tín diệc liêu liêu
(Ngàn nhà thức tỉnh dựa trên gối nghe tiếp
Tiếng gà báo sáng cũng cùng rộ lên)
Tiếng gà gáy sáng - âm thanh báo thức quen thuộc của người dân quê. Nó phá tan đêm tối, báo hiệu vạn vật sắp bắt đầu ngày mới. Nó làm xao động giấc mộng bình yên, đó cũng là bóng dáng của một thời đại thái bình. Thời đại mà thiên nhiên, cảnh vật và con người đều thanh thản, an nhàn.
Cũng bởi nhu cầu muốn sống gần gũi với thiên nhiên nên thi sĩ họ Mạc đã dành cho những cách cò quê ông một một khoảng đất rộng trong bài thơ Châu Nham lạc lộ:
Lục ấm u vân xuyết mộ hà
Linh nham phi xuất bạch cầm tà
Vãn bài thiên trận la phương thụ
Tình lạc bình nhai tả ngọc hoa
Bộc ảnh cộng phiên minh nguyệt tụ
Vân quang tề táp tịch dương sa
(Mây râm che rợp điểm xuyết ráng chiều
Bầy chim trắng bay chếch ra từ lèn đá thiêng
Chiều buông bày trận trên trời giăng khắp cây thơm
Trời tạnh đáp xuống lèn núi phẳng như dòng hoa ngọc
Giống bóng thác nước lật lại với ngọn núi đẫm ánh trăng
Tựa ánh mây sáng cùng vòng quanh bãi cát dưới ánh chiều)
Cảnh đàn cò quần tụ ở Châu Nham không tạo sự tầm thường, thô xấu, quê mùa. Nó được cảm nhận bằng mĩ cảm của một tâm hồn thiết tha yêu cuộc sống thôn quê, yêu cái đẹp bình dị của tác giả nên cảnh Châu Nham lạc lộ trở nên thân mật, gần gũi lạ thường. Ngắm được cảnh này, tâm hồn người thưởng cảnh sẽ bắt gặp cái hạnh phúc giản đơn, an lạc, không câu nệ đua chen nơi thị thành nhiều xa hoa cám dỗ.
Khi Mạc Thiên Tích đặt nhan đề Nam Phố trừng ba (Sóng yên Nam Phố) chắc hẳn ông muốn gửi gắm vào đây khát vọng cuộc sống yên bình cho người dân Hà Tiên. Hoá Công đã ưu đãi cho vùng đất này những bãi biển dài đẹp, đặc biệt là có sóng êm gió lặng. Con người biết dựa vào đó mà sinh tồn và phát triển.
Bãi biển Nam Phố trở thành nơi thân thương của ngư dân chuyên nghề đánh bắt thuỷ hải sản. Cảnh thuyền bè tấp nập ra vào là cảnh thường thấy nơi đây. Trong mắt nhà thơ, ngư dân không chỉ là người lao động bình thường mà họ như những người nghệ sĩ với tâm hồn lãng mạn:
Hướng hiểu ngư phàm phân thuỷ cấp
Sấn triều dung phảng tải vân khinh
(Gần sáng, buồm chài rẽ nước gấp gáp
Theo nước triều, thuyền khách chở mây nhẹ nhàng)
Lộc Trĩ thôn cư là cảnh sinh hoạt làng xóm của người dân Hà Tiên, gắn liền với đặc điểm đất đai và ngành nghề. Vùng đất này còn là “thôn cư” của dân lưu tán một thời đến lập vườn, làm ruộng. Họ chọn Lộc Trĩ vì đây là nơi có đất đai màu mỡ, phì nhiêu, đủ cho họ một đời no ấm, để có thể tận hưởng cuộc sống an lạc, thanh nhàn; không màng đua chen danh lợi.
Trong bài Lộc Trĩ thôn cư, Mạc Thiên Tích ghi lại phong cảnh làng Lộc Trĩ (Mũi Nai) vào buổi chiều ông đến với những chi tiết hết sức sinh động. Lộc Trĩ như một bức tranh đẹp riêng có của làng quê duyên hải:
Tàn hà đảo quải duyên song tử
Mật thụ đê thuỳ tiếp phố thanh
(Ráng chiều treo ngược viền theo khung cửa tím ngát
Cây dày phủ xuống nối liền với luống rau xanh rờn)
Cảnh tượng mát mẻ êm đềm nơi trang trại vườn rẫy. Còn tâm tính của người dân nơi đây thì đúng như ông ghi nhận, họ rất chất phác, mộc mạc gần gũi với vạn vật:
Dã tính thiên đồng viên lộc tĩnh
Thanh tâm mỗi tiễn đạo lương hinh
(Tính mộc mạc riêng yên tĩnh với hươu nai
Lòng trong trẻo vẫn ưa mùi thơm của lúa chín)
Lòng yêu thích phong vị nhà quê: lúa nếp rau cải, cây nhà lá vườn, lòng dạ vẫn giữ được thanh thản đạm bạc, không ham muốn, không đòi hỏi nhiều hơn. Bởi vì họ đã biết lấy phong vị đạm bạc và cảnh thú yên bình nơi thôn quê làm lẽ sống.
Hai câu kết:
Hành nhân nhược vất trú hà xứ
Ngưu bối nhất thanh xuy địch đình
(Dường như người đi đường hỏi thăm chỗ ở
Trên lưng trâu tiếng sáo vút lên rồi im bặt)
Không gian trong Lộc Trĩ thôn cư vừa mở vừa khép, tạo sự đối lập giữa thanh cao với phàm tục. Trong khi mở rộng cửa để đón nhận thiên nhiên, cây trái đồng nội, nai vượn đến tìm, thì cũng kép cửa trước khách tục vãng lai, để gìn giữ sự thanh thản cho tâm hồn. Người dân ở đây không muốn người lạ hỏi han phiền nhiễu đến đời sống an nhàn. Giận người đi đường, nên mục đồng nín lặng đi, không thổi sáo nữa, cho kẻ phàm tục nghe làm chi cho phí khúc nhạc thần tiên. Phép hành xử của mục đồng làm ta nhớ đến Hứa Do và Sào Phủ, hai cao sĩ thời Đường Nghiêu (Trung Quốc), quyết chọn cuộc sống ẩn dật thanh nhàn, bỏ ngoài tai những lời lợi danh cám dỗ. Bài Lộc Trĩ thôn cư đã hội tụ đầy đủ điều kiện cho một cuộc sống vô sự hồn nhiên như người thái cổ. Nếu quan niệm rằng người ta sống là để tìm cảnh thái bình, hưởng lấy hạnh phúc thì đời sống ở thôn quê quả là chỗ đáng để tìm về.
Đang theo đuổi con đường công danh sự nghiệp, nhưng những lúc tắt cơn binh lửa, thôn ấp yên bình thì Mạc Đô đốc lại trở về với cuộc sống và sở thích đời thường của mình. Trong ông vẫn có tâm lí ưa nhàn giống như bao tao nhân mặc khách thuở xưa. Ông tìm về với thiên nhiên, hoà mình vào cảnh vật với những thú vui tao nhã. Ông thích nhất là thú câu nhàn tại điếu đình trên dòng Rạch Vược. Qua đây, ta thấy được thái độ xuất xử của Mạc Thiên Tích. Ông không chọn cách “tiểu ẩn” để lánh đời mà ông chọn cách ở ẩn lúc đang kiêm nhiệm, đang giữ trọng trách với quốc gia. Đây chính là “đại ẩn” vậy.
Lư Khê ngư bạc mang phong cách nhàn thích, khoáng đạt thường diễn tả loại tư tưởng không bị trói buộc, thích sống cuộc sống an nhàn nơi thôn dã:
Viễn viễn thương lang hàm tịch chiếu
Lư Khê yên lí xuất ngư đăng
Hoành ba yểm ánh bạc cô đĩnh
Lạc nguyệt sâm si phù trạo tăng
Nhất lãnh thoa y sương khí bách
Kỉ thanh trúc trạo thuỷ quang ngưng
(Dòng nước xanh xa xa ngậm ánh nắng tàn
Trong khói ở Rạch Vược đèn chài ló dạng
Sóng ngang gợn gợn thuyền lẻ ghé bến
Trăng soi thấp thoáng lưới chài bàng bạc
Một mảnh áo tơi, hơi sương lạnh buốt
Mấy tiếng chèo khua, ánh nước sáng bừng)
Hình ảnh thơ làm ta gợi nhớ đến hai câu cuối trong bài thơ Giang tuyết (Sông tuyết) của Liễu Tông Nguyên (773 - 819), nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thời Trung Đường:
Cô chu thoa lạp ông
Độc điếu hàn giang tuyết
(Thuyền lẻ loi có ông già mang nón lá áo tơi
Một mình ngồi câu trên dòng sông tuyết)
Con người và thiên nhiên hợp nhất với nhau. Ông chài ngồi câu một mình trên sông lạnh, như muốn tan biến vào cảnh thiên nhiên đang phủ đầy tuyết trắng. Động tác câu cá cơ hồ là động tác dừng lặng, tượng trưng cho sự gìn giữ trạng thái không dao động mảy may khi ngộ Đạo. Người đọc có thể cảm nhận được tư tưởng Thiền tông xuất hiện phảng phất ở đây. Người đọc cũng có thể đúc kết được rằng, con người chỉ có thể tìm thấy sự an tĩnh khi ở bên cạnh thiên nhiên. Nơi thiên nhiên thanh tĩnh đó sẽ làm cho trí tuệ con người thêm minh mẫn, tâm hồn con người thêm thanh sạch.
Hà Tiên thập vịnh được Mạc Thiên Tích sáng tác đúng theo quy phạm của thể tài thơ vịnh cảnh liên hoàn. Tác giả đã sử dụng thủ pháp tạo hình truyền thống của văn học trung đại để tái hiện những hình ảnh cho thơ. Các hình tượng trong chùm thơ này được khoát nhiều lớp ý nghĩa. Người đọc có thể tiếp nhận từ nhiều chiều kích khác nhau để thấy hết sự đa nghĩa của hình tượng. Mười bài thơ sử dụng rất ít điển cố và hạn chế dùng những hình ảnh ước lệ. Hầu hết các hình ảnh trong mười bài thơ đều rất chân thật, hiện hữu trên đất Hà Tiên. Mạc Thiên Tích còn áp dụng hai phạm trù mĩ học “Hư Tĩnh” và “Bình Đạm” để tạo nên cái đẹp hư ảo, giản dị, thanh tĩnh cho cảnh vật trong thơ. Cái Hư Tĩnh” và “Bình Đạm” đã góp thêm phong vị của tư tưởng Lão giáo, Phật giáo để hoà trộn vào tư tưởng Nho giáo đâm đặc. Qua đó, chúng ta thấy được tài năng văn chương xuất chúng và tinh thần Phương Đông sâu sắc ở Sĩ Lân Thị./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
1. Đoàn Lê Giang (biên soạn và dịch) (2003), Tư tưởng lí luận văn học cổ Trung Quốc, chuyên luận - tài liệu dành cho Cao học, Đại học KHXH&NV, TP. Hồ Chí Minh.
2. Lưu Hiệp (2007), Văn tâm điêu long, Trần Thanh Đạm, Phạm Thị Hảo dịch, NXB Văn học, TP. Hồ Chí Minh.
3. Đông Hồ (1996), Văn học Hà Tiên - Chiêu Anh Các, Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh, tái bản, NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh.
4. Bùi Duy Tân (chủ biên) (1997), Tổng tập văn học Việt Nam (Tập 7), NXB Khoa học xã hội, TP. Hồ Chí Minh.
5. Nguyễn Minh Tấn (chủ biên) (1988), Từ trong di sản, NXB Tác phẩm mới, TP. Hồ Chí Minh.
6. Lê Xuân Vũ (2011), Từ Lão - Trang đến Đạo Giáo, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.