Theo phương án đang được lấy ý kiến từ ngày 7 đến 26/9/2026, khu vực hồ Hoàn Kiếm được nghiên cứu trong mối liên hệ với Quảng trường Cách mạng Tháng Tám, Nhà hát Lớn, khu phố cổ và các không gian phía đông hồ nhằm hình thành một chỉnh thể “Lịch sử - Văn hóa - Nghệ thuật”.

Hướng tiếp cận ấy về cơ bản là đáng ủng hộ. Nhưng theo tôi, có một nguyên tắc cần được đặt lên trước mọi ý tưởng thiết kế: vùng lõi hồ Hoàn Kiếm không nên xây thêm những công trình kiến trúc mới nổi lên trên mặt đất, nhất là những công trình có tham vọng trở thành biểu tượng. Việc chỉnh trang ở đây nên chủ yếu là dọn bớt, mở rộng không gian, khôi phục cảnh quan, cải thiện hạ tầng và trả lại cho hồ những khoảng nhìn đã bị che khuất hoặc chia cắt qua nhiều thời kỳ.
Nguyên tắc này càng cần được nhấn mạnh khi phương án quy hoạch đang nghiên cứu một công trình gọi là “Khải hoàn môn” tại khu vực Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục.
Hồ Gươm không phải một khoảng đất trống để đặt thêm biểu tượng
Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt từ năm 2013. Giá trị của khu vực này không nằm ở một công trình đơn lẻ mà ở tổng thể mặt nước, cây xanh, Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, Tháp Bút, các phố bao quanh và cả những khoảng không tạo nên tỷ lệ đặc biệt của cảnh quan.
Đó là điều rất quan trọng khi bàn về quy hoạch.
Trong nhiều khu vực đô thị mới, muốn tạo bản sắc, người ta thường phải xây một điểm nhấn. Nhưng ở hồ Gươm, điểm nhấn đã có từ hàng trăm năm. Thậm chí có quá nhiều lớp điểm nhấn lịch sử cùng tồn tại và chúng giữ được quan hệ hài hòa chính vì phần lớn đều có quy mô vừa phải.
Tháp Rùa nhỏ. Cầu Thê Húc thanh mảnh. Đền Ngọc Sơn nép dưới những tán cây. Tháp Bút vươn lên mà không áp đảo mặt hồ. Ngay cả Nhà hát Lớn, một công trình kiến trúc lớn của thời thuộc Pháp, cũng nằm cách hồ một khoảng cần thiết và tham gia vào một không gian đô thị khác.
Cái đẹp của hồ Gươm vì vậy không phải cái đẹp của sự đồ sộ.
Nó được tạo nên bởi tỷ lệ.
Nếu đưa thêm một công trình kiến trúc lớn vào ngay mép phía bắc hồ, vấn đề không chỉ là công trình ấy đẹp hay xấu. Vấn đề lớn hơn là nó sẽ thay đổi trật tự thị giác của toàn bộ không gian.
Một công trình được xác định là “biểu tượng”, về bản chất, sẽ tìm cách thu hút ánh nhìn. Trong khi tại hồ Gươm, chính hồ, cây xanh và các di tích hiện hữu phải tiếp tục là những yếu tố thống lĩnh thị giác.
Vì vậy, ở nơi này, đôi khi thiết kế tốt nhất chính là không xây thêm gì cả.
Mở rộng Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục là đúng, dựng Khải hoàn môn lại đi ngược mục tiêu ấy
Những gì Hà Nội đã làm trong giai đoạn vừa qua cho thấy một kinh nghiệm rất rõ.
Việc phá bỏ công trình thường gọi là “Hàm cá mập”, chỉnh trang mặt đứng các tuyến phố và mở rộng Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục đã tạo ra một khoảng không thoáng hơn bên hồ. Quy hoạch trước đó xác định quảng trường sau cải tạo có quy mô gần 1,4 ha.
Hiệu quả của việc ấy đến từ đâu?
Không phải vì Hà Nội đã xây thêm một công trình mới, mà chính vì một khối kiến trúc được lấy đi.
Từ đó, tầm nhìn được mở. Không gian công cộng rộng hơn. Quan hệ giữa phố cổ với hồ Gươm trở nên trực tiếp hơn.
Đó là một bài học rất đáng suy nghĩ: giá trị mới của khu vực hồ Gươm nhiều khi được tạo ra bằng phép trừ chứ không phải phép cộng.
Vậy thì sẽ rất mâu thuẫn nếu sau khi vừa phá bỏ một khối kiến trúc để lấy lại khoảng thoáng, chúng ta lại dựng vào đó một công trình biểu tượng mới có kích thước đáng kể.
Theo tài liệu được công bố, phương án hiện nay mới nghiên cứu bố trí “Khải hoàn môn”, lấy cảm hứng từ đôi cánh chim hạc đang vươn lên; Sở Xây dựng Hà Nội cũng cho biết đây mới là định hướng tổ chức không gian cảnh quan, chưa phải phương án kiến trúc đã chốt.
Chính vì chưa chốt nên đây là thời điểm cần cân nhắc từ nguyên tắc, chứ không nên sa vào chuyện sửa hình dáng của công trình ấy.
Theo tôi, vấn đề không phải là Khải hoàn môn nên có hình cánh hạc thế nào, cao bao nhiêu, rộng bao nhiêu hay dùng vật liệu gì.
Vấn đề là có nên có Khải hoàn môn tại đây hay không.
Câu trả lời của tôi là không.
“Khải hoàn” không phù hợp với tầng nghĩa sâu nhất của hồ Hoàn Kiếm
Tên gọi một công trình kiến trúc không bao giờ hoàn toàn vô nghĩa.
Khải hoàn môn trong lịch sử kiến trúc phương Tây gắn với chiến thắng quân sự, quyền lực nhà nước và nghi thức tôn vinh người chiến thắng. Nó thường có quy mô lớn, án ngữ một trục đường hoặc quảng trường để tạo cảm giác uy nghi và áp đảo.
Trong khi đó, tầng nghĩa đặc biệt nhất của hồ Hoàn Kiếm lại là câu chuyện trả gươm.
Sau chiến thắng, Lê Lợi trả lại gươm báu cho Rùa thần. Truyền thuyết ấy được lưu giữ chính trong tên gọi Hoàn Kiếm và là một trong những lớp ý nghĩa quan trọng nhất tạo nên bản sắc của hồ.
Đó là một hình tượng rất đẹp của văn hóa Việt Nam: chiến đấu khi đất nước cần, nhưng đích đến cuối cùng vẫn là hòa bình.
Bởi vậy, đặt một “Khải hoàn môn” bên hồ Hoàn Kiếm tạo ra một nghịch lý biểu tượng không cần thiết.
Ở một nơi gắn với việc cất gươm sau chiến thắng, tại sao lại cần dựng thêm một biểu tượng nhấn mạnh khải hoàn?
Hồ Gươm đã kể câu chuyện ấy hay hơn bất kỳ công trình mới nào có thể kể.
Càng không nên nhập một mô hình kiến trúc ngoại lai vào nơi đã có bản sắc quá rõ
Hà Nội không thiếu những dấu tích kiến trúc phương Tây. Khu phố Pháp, Nhà hát Lớn, Phủ Chủ tịch, các biệt thự cũ là một phần lịch sử của thành phố và cần được bảo tồn.
Nhưng đó là những lớp lịch sử đã hình thành.
Một công trình mới thì khác.
Việc chủ động đưa một loại hình kiến trúc vốn gắn chặt với truyền thống đô thị châu Âu vào điểm nhạy cảm nhất của hồ Gươm cần được cân nhắc rất kỹ, kể cả khi hình thức được cách điệu theo hình tượng chim hạc.
Hình tượng Việt Nam không tự động làm cho một cấu trúc kiến trúc trở thành Việt Nam.
Quan trọng hơn là quan hệ của nó với địa điểm.
Một công trình có thể đẹp khi đứng riêng, nhưng khi đặt vào một không gian lịch sử, câu hỏi phải là: nó làm cho di sản hiện hữu nổi bật hơn hay làm cho người ta nhìn vào chính nó?
Nếu câu trả lời là vế sau thì không nên xây.
Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục tự nó đã mang một biểu tượng lịch sử rất lớn
Tên gọi Đông Kinh Nghĩa Thục gắn với một phong trào canh tân và khai sáng đầu thế kỷ XX. Chính khu vực đền Ngọc Sơn và hồ Hoàn Kiếm cũng từng gắn với những hoạt động của giới sĩ phu yêu nước và những tư tưởng khai dân trí trong thời kỳ ấy.
Vì vậy, quảng trường này không thiếu lịch sử để phải tạo thêm lịch sử bằng kiến trúc.
Điều cần làm là giúp người dân hiểu được lịch sử đang có.
Có thể sử dụng hệ thống thông tin, chiếu sáng, thiết kế mặt quảng trường, công nghệ trình chiếu, nghệ thuật công cộng nhẹ, các điểm giới thiệu lịch sử, thậm chí những giải pháp số để kể câu chuyện Đông Kinh Nghĩa Thục.
Những yếu tố ấy có thể thay đổi, nâng cấp và thậm chí tháo bỏ trong tương lai.
Một khối kiến trúc lớn thì khác. Một khi đã được xây, nó sẽ can thiệp lâu dài vào cảnh quan của hồ.
Với một di tích quốc gia đặc biệt, sự thận trọng ấy không bao giờ là thừa.
Cần xác lập nguyên tắc: vùng lõi chỉ chỉnh trang, không gia tăng khối tích
Tôi cho rằng lần điều chỉnh quy hoạch này là cơ hội tốt để Hà Nội xác lập một nguyên tắc dài hạn cho khu vực hồ Hoàn Kiếm:
Không xây thêm các công trình nổi có quy mô đáng kể trong vùng lõi cảnh quan.
Những hạng mục thật sự cần thiết cho vận hành đô thị nên được xử lý bằng giải pháp kín đáo nhất có thể. Hạ tầng kỹ thuật, giao thông công cộng, bãi đỗ xe hoặc dịch vụ nếu cần nghiên cứu dưới mặt đất phải được đánh giá rất chặt chẽ về di sản, địa chất, thủy văn và sức chịu tải của khu vực.
Trên mặt đất, mục tiêu nên là giảm mật độ.
Giữ cây lâu năm.
Bổ sung cây xanh ở nơi thích hợp.
Mở các hành lang nhìn ra hồ.
Giảm giao thông cơ giới.
Tạo thêm chỗ cho người đi bộ.
Chỉnh trang mặt đứng những công trình chưa phù hợp.
Khôi phục những quan hệ không gian lịch sử đã bị biến dạng.
Và đặc biệt, đừng tìm cách dựng thêm một biểu tượng cạnh những biểu tượng đã được thời gian lựa chọn.
Một Thủ đô hiện đại không nhất thiết phải chứng minh sự hiện đại bằng công trình mới
Chúng ta thường nghĩ phát triển đô thị đồng nghĩa với xây dựng. Nhưng với những trung tâm lịch sử, trình độ quy hoạch đôi khi được thể hiện ở khả năng kiềm chế việc xây dựng.
Paris bảo vệ những trục cảnh quan lịch sử của Paris. Rome giữ những khoảng không quanh di tích của Rome. Kyoto bảo vệ chiều cao và tỷ lệ của Kyoto.
Hà Nội cũng phải bảo vệ những gì chỉ Hà Nội mới có.
Hồ Gươm rộng không lớn, các di tích quanh hồ cũng không đồ sộ. Sức mạnh của nó nằm ở ký ức tập thể. Người Hà Nội và cả những người từng đến Hà Nội nhớ mặt nước xanh, hàng cây, Tháp Rùa thấp thoáng giữa hồ, cầu Thê Húc đỏ bên đền Ngọc Sơn, những con phố đổ về bờ hồ.
Không ai cần một công trình mới để nhận ra mình đang đứng ở Hà Nội.
Bởi chính hồ Gươm đã là biểu tượng.
Việc điều chỉnh quy hoạch lần này vì thế nên đi đến một lựa chọn rõ ràng: mở rộng Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, tổ chức lại giao thông và không gian đi bộ, chỉnh trang cảnh quan, kết nối tốt hơn khu phố cổ với hồ và các khu vực phụ cận; đồng thời loại bỏ ý tưởng xây dựng Khải hoàn môn.
Đó không phải là thái độ từ chối đổi mới.
Ngược lại, đó là cách phát triển có hiểu biết về di sản.
Với hồ Hoàn Kiếm, điều Hà Nội cần thêm là khoảng trời, khoảng xanh và khoảng trống cho con người.
Không cần thêm một công trình để chứng minh rằng đây là trung tâm của Thủ đô. Hồ Gươm đã làm công việc ấy từ rất lâu rồi.
P.V.L