Hồ sơ Số 11/2026: Cần tìm thân nhân và đồng đội của 9 liệt sĩ hi sinh tại Lộc Ninh năm 1967

Có những người lính đã nằm lại giữa chiến trường hơn nửa thế kỷ, nhưng đến nay vẫn chưa thể trở về trọn vẹn trong vòng tay gia đình. Có những người mẹ, người cha, người vợ, người anh em đã đi hết một đời trong ngóng đợi, mà tin tức về người thân vẫn chỉ là vài dòng mờ nhòe trên một trang tài liệu chiến tranh cũ… Từ hồ sơ ký hiệu CDEC F034603181897, bị quân đội Hoa Kỳ thu giữ ngày 05/02/1968 tại khu vực nay thuộc An Mỹ, phường Phú Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương cũ, một danh sách đặc biệt đã sáng tỏ họ tên 9 quân nhân của đơn vị T17 (nhiều khả năng thuộc Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 273, Sư đoàn 9). Hồ sơ vừa được chuyên viên nghiên cứu Nguyễn Hồng Duy và nhóm biên tập của Dự án TTU–VWAI hoàn thành.
654441994-2847356688989734-2129630887614971606-n-1773792641.jpg
Trang đầu tiên của hồ sơ được đánh máy bằng tiếng Anh của Tình báo Quân đội Mỹ.

Đó không chỉ là một tài liệu quân sự. Đó là những mảnh đời. Đó là tiếng gọi âm thầm từ quá khứ. Và hôm nay, sau gần 60 năm, chúng tôi công bố lại những thông tin này với hy vọng tìm được thân nhân, đồng đội, những người còn nhớ, còn biết, còn lưu giữ một chi tiết nhỏ nào đó về 9 người đã ngã xuống. Biết đâu, từ một cái tên quen trong gia phả, một lời kể của người cao tuổi trong xóm, một ký ức của cựu chiến binh từng cùng đơn vị, sẽ mở ra con đường đưa các anh trở về với quê hương, gia đình và lịch sử.

Theo hồ sơ, bản danh sách được lập ngày 05/11/1967, do Trương Lợi, phụ trách nhân sự Tiểu đoàn, ghi chép và được Hà Thừa xác nhận thay mặt chỉ huy đơn vị T17. Nội dung cho biết 9 quân nhân thuộc Tiểu đoàn bộ và các đại đội C1, C2, C3, C4 đã hi sinh “trong lúc chiến đấu” tại Lộc Ninh. Dù nhiều chi tiết trong hồ sơ đã bị mờ, không thể đọc trọn vẹn, phần họ tên, quê quán, thân nhân và một số đặc điểm đơn vị vẫn còn đủ để thắp lên hy vọng nhận diện.

1-Huỳnh Văn Nên, tên gọi khác là Tường, sinh năm 1941, quê quán xã Tân Long Hội, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Theo hồ sơ, ông là A trưởng, tức Tiểu đội trưởng, thuộc Tiểu đoàn bộ. Cha được ghi là Huỳnh Văn Chanh, mẹ là Phạm Thị Nguyên, tuy phần chữ này không thật chắc chắn vì tài liệu bị mờ. Hồ sơ cho biết gia đình chưa được báo tin hi sinh. Với những ai ở Tam Bình, Vĩnh Long, đặc biệt khu vực xã Tân Long Hội cũ, nếu trong gia đình, dòng họ từng có người tên Huỳnh Văn Nên hoặc tên thường gọi là Tường, từng đi bộ đội từ đầu thập niên 1960, xin hãy lưu tâm đến thông tin này.

651925490-2847356662323070-7498937759625256032-n-1773792720.jpg
Bút tích Danh sách các liệt sĩ được viết tay có trong hồ sơ nêu trên.

2- Bùi Văn Luân, sinh năm 1940, quê quán xã Vĩnh Hưng, huyện Hồng Dân, tỉnh Sóc Trăng. Ông là A phó, tức Tiểu đội phó, thuộc Tiểu đoàn bộ. Cha có thể là Bùi Văn Su, mẹ là Lê Thị Lan hoặc Loan. Hồ sơ ghi ông vào Đảng dự bị ngày 06/6/1967 nhưng chưa được kết nạp chính thức vì đã hi sinh. Đó là một chi tiết khiến người đọc nghẹn lòng: một người lính vừa đi qua thêm một dấu mốc của đời quân ngũ thì đã ngã xuống trước ngày được công nhận chính thức trong hàng ngũ của mình. Nếu ở Hồng Dân, Sóc Trăng, còn gia đình nào từng có người thân tên Bùi Văn Luân, xin hãy đối chiếu.

3- Huỳnh Văn Su, có thể cũng đọc là Sư do chữ mờ, sinh khoảng năm 1940, quê quán xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Ông là chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn bộ. Cha có thể là Huỳnh Văn Dân, hồ sơ không thấy thông tin rõ về mẹ. Tài liệu còn cho biết liệt sĩ này từng có một giấy khen, nhưng không đọc rõ được hình thức và lý do khen thưởng. Giữa những nét chữ đứt đoạn, vẫn hiện lên hình ảnh một người lính từng được ghi nhận, từng sống, chiến đấu và cống hiến trước khi hi sinh mà chưa kịp báo tin cho quê nhà.

4- Nguyễn Xuân Hương, song cũng có thể là Hướng hoặc Hưởng do chữ viết không rõ. Năm sinh nhiều khả năng là 1940, cũng có thể là 1946. Quê quán được ghi là xã Phú Thịnh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Ông là chiến sĩ, thuộc Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 273 hoặc đơn vị T17. Thông tin thân nhân trong hồ sơ chỉ còn đọc được tên người vợ là Trần Thị Suốt, nhưng cũng chưa thể khẳng định tuyệt đối. Một người lính có vợ ở quê nhà, ra đi rồi biệt tin, đó là một vết thương không chỉ của chiến tranh mà còn của thời gian. Nếu tại Kim Động, Hưng Yên, hoặc trong các gia đình có người tên Trần Thị Suốt, từng chờ tin chồng từ chiến trường miền Nam, xin đừng bỏ qua.

5- Nguyễn Văn Vui, tên gọi khác Sáu Dân, sinh năm 1939, quê quán xã Mỹ Long, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Ông thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 273, giữ cương vị A phó. Cha có thể là Nguyễn Văn Gánh, mẹ có thể là Nguyễn Thị Lãng hoặc Láng. Hồ sơ cho biết ông đã là đảng viên chính thức từ đầu năm 1965. Người lính ấy có tên gọi thân thuộc là Sáu Dân, một cách gọi rất Nam Bộ, rất gần gũi, rất đời. Biết đâu ở Cầu Ngang, Trà Vinh, vẫn còn người nhớ về một người con, người anh, người chú tên Vui, thường gọi là Sáu Dân, ra đi rồi không trở lại.

6- Trần Văn Dữ, sinh năm 1949, quê quán xã Vĩnh Thuận Đông, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ theo địa danh trong hồ sơ cũ. Ông thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 273, giữ chức A phó. Cha là Trần Văn Phát, mẹ có thể là Võ Thị Sáu. Tài liệu cho biết ông từng có một giấy khen nhưng không ghi rõ lý do. Sinh năm 1949 mà đã có mặt trong danh sách hi sinh lập cuối năm 1967, nghĩa là tuổi đời còn rất trẻ. Một chàng trai chưa đầy hai mươi tuổi đã bỏ lại tất cả giữa chiến trường Lộc Ninh, trong khi ở quê nhà có thể gia đình vẫn mòn mỏi đi tìm.

7- Phạm Công Khanh, sinh năm 1943, quê quán xã Phú Thứ, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ; trú quán xã Thạnh An, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ. Ông thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 273, là A trưởng, tức Tiểu đội trưởng. Cha có thể là Phạm Văn Thưởng, mẹ là Phạm Thị Y. Hồ sơ ghi một chi tiết đặc biệt: ông có 3 giấy khen, 1 bằng khen, và “khi chuyển về trạm giải phẫu C mới hi sinh”. Đây là một dòng rất quan trọng, bởi nó cho thấy ông bị thương trong chiến đấu, được đồng đội đưa về quân y cứu chữa nhưng không qua khỏi. Điều đó cũng làm dấy lên hy vọng rằng nơi an táng ban đầu của ông có thể từng được đồng đội biết hoặc đánh dấu. Với các cựu chiến binh Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 273, nếu còn ai nhớ về trận đánh có đồng chí Phạm Công Khanh bị thương nặng rồi hi sinh trên đường về trạm phẫu, xin hãy lên tiếng.

8- Đoàn Trung Của, sinh năm 1948, quê quán xã Chí Minh, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên. Ông là chiến sĩ thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 273. Cha có thể là Đoàn Quang Dư, mẹ có thể là Dương Thị Nhớ. Hồ sơ cho biết ông nhập ngũ 9/1965, vào Nam năm 1966. Những dòng ngắn ngủi ấy cho thấy đây là một người lính từ miền Bắc hành quân vào chiến trường miền Nam khi còn rất trẻ. Từ Phù Cừ, Hưng Yên đến Lộc Ninh, Bình Phước là cả một chặng đường dài của lịch sử, của tuổi thanh xuân và của hi sinh. Rất mong thân nhân dòng họ Đoàn, họ Dương tại xã Chí Minh cũ chú ý đối chiếu.

9- Huỳnh Văn Thiếu, hồ sơ ghi sinh năm 1959, nhưng đây có thể là chi tiết cần kiểm chứng thêm vì nếu đúng như vậy thì tuổi hi sinh quá nhỏ; cũng có khả năng tài liệu bị đọc nhầm do mờ. Quê quán được ghi là xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Ông là chiến sĩ thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 273. Cha có thể là Huỳnh Vị Xướng, mẹ được ghi là đã mất. Hồ sơ nêu một chi tiết đau xót: trường hợp hi sinh xảy ra trong lúc đơn vị rút lui. Chỉ một dòng ngắn nhưng gợi ra cả cảnh chiến trường khốc liệt, nơi người lính trẻ ngã xuống giữa lúc đội hình còn đang cơ động, chưa kịp để lại một lời nhắn nhủ nào cho gia đình.

653791715-2847356728989730-8384007369540440984-n-1773792786.jpg
Bản đồ vị trí nơi quân đội Mỹ đã thu giữ hồ sơ năm 1967.↵

Tài liệu trên bị thu giữ tại Bình Dương vào đúng giai đoạn ác liệt của Tết Mậu Thân 1968, nhưng nội dung lại phản ánh thương vong ở mặt trận Lộc Ninh trước đó, được báo cáo ngày 05/11/1967. Đối chiếu với một hồ sơ khác, có thể khoanh vùng những trận đánh mà Tiểu đoàn 7 đã tham gia trong các ngày 28/10/1967, 29/10/1967, 30/10/1967 và 01/11/1967, gồm trận đánh tại Làng 3 Lộc Ninh ngày 28/10/1967, trận đánh biệt kích trên đồi 170 ngày 29/10/1967, trận đánh biệt kích trên đồi 140 ngày 30/10/1967 và trận tập kích lính dù ở Mương Cải ngày 01/11/1967. Nhiều khả năng 9 quân nhân nói trên đã hi sinh trong chuỗi trận chiến dữ dội này.

Điều day dứt nhất trong cả hồ sơ không chỉ là chỗ chữ mờ, chỗ tên chưa thật chắc, chỗ ngày tháng chưa đọc rõ, mà là câu nhắc đi nhắc lại: “chưa báo tin hi sinh cho gia đình”. Có nghĩa là vào thời điểm lập danh sách, những người ở quê nhà có thể vẫn chưa biết con em mình đã ngã xuống. Có người còn chờ thư. Có người còn nghĩ con mình đang ở đâu đó trong rừng sâu chiến khu. Có người đến cuối đời vẫn không biết nơi con nằm lại.

Vì vậy, chúng tôi khẩn thiết mong các cựu chiến binh từng công tác, chiến đấu tại Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 273, Sư đoàn 9; các gia đình ở Vĩnh Long, Sóc Trăng, Long An, Hưng Yên, Trà Vinh, Cần Thơ, Bến Tre; các nhà nghiên cứu lịch sử chiến tranh; các tổ chức tri ân, hội cựu chiến binh, ban liên lạc đồng đội, chính quyền địa phương và cộng đồng mạng cùng chung tay lan tỏa thông tin về 9 liệt sĩ này. Chỉ cần một chi tiết nhỏ, một ký ức cũ, một gia đình còn giữ tấm ảnh, một cuốn sổ tay, một câu chuyện truyền lại trong họ tộc, cũng có thể giúp xác minh thêm nhân thân, đơn vị, thời điểm hi sinh, hoặc nơi an táng ban đầu của các anh.

Những cái tên được viết lại hôm nay không phải để khép lại quá khứ, mà để mở ra một cơ hội đoàn tụ muộn màng. Sau gần 60 năm, các anh vẫn cần được gọi đúng tên, cần được nhận lại quê quán, cần được tìm về đúng gia đình mình. Mong rằng từ bài viết này, sẽ có người nhận ra một cái tên quen thuộc trong ký ức, và từ đó hành trình trở về của 9 người lính hi sinh tại Lộc Ninh sẽ bắt đầu...

Hà Nội, 18/3/2026

Trái Tim Người Lính