Lịch sử Việt Nam (Từ tiền sử đến năm 2007) (Kỳ 15)

PGS TS Cao Văn Liên

09/07/2021 08:04

Trân trọng giới thiệu tiếp với bạn đọc tác phẩm “Lịch sử Việt Nam từ tiền sử đến năm 2007” của PGS TS Cao Văn Liên  do NXB Thanh niên ấn hành năm 2009.

cvl2-1625792576.jpg
Chú thích ảnh

Kỳ 15

KHỞI NGHĨA TÂY SƠN BÙNG NỔ, PHÁT TRIỂN THÀNH PHONG TRÀO QUI MÔ CẢ NƯỚC-ĐÁNH BẠI THÙ TRONG GIẶC NGOÀI (1771-1789) 
Năm 1771, khởi nghĩa nông dân bùng nổ ở ấp Tây Sơn, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định (nay thuộc huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định) do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo, trong đó nổi bật nhất là Nguyễn Hụê. Cùng với sự phát triển của phong trào, Nguyễn Hụê vươn lên trở thành người anh hùng, lãnh tụ kiệt xuất của phong trào cách mạng nông dân Tây Sơn thành anh hùng dân tộc.  Tổ tiên bốn đời của ba lãnh tụ Tây Sơn là họ Hồ ở làng Thái Lai, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.

Trong một trận giao tranh giữa quân Nguyễn và quân Trịnh, quân Nguyễn đã vượt sông Gianh bắt cụ tổ của họ vào ấp Tây Sơn khai hoang. Từ họ Hồ sau đổi sang họ Nguyễn hẳn nhiều lý do. Thân sinh của ba lãnh tụ Tây Sơn là cụ Nguyễn Phi Phúc và Nguyễn Thị Đông. Năm 1771 khi khởi nghĩa, Nguyễn Huệ là em thứ hai sau Nguyễn Nhạc mới 19 tuổi. Như vậy là Vua Quang Trung-Nguyễn Huệ sinh năm 1752. Sách xưa mô tả Nguyễn Huệ tóc hơi xoăn, khoẻ mạnh, da ngăm ngăm đen, mắt sáng như chớp, tiếng nói trầm mà sang sảng như tiếng chuông. Sau này khi tiến ra Bắc lật đổ nhà Trịnh năm 1786, ra mắt vua Lê Hiển Tông, triều đình quan lại nhận thấy “thần sắc của Bắc Bình Vương rực rỡ uy nghiêm, ai cũng run sợ hãi hùng”. Thời niên thiếu ba anh em họ Nguyễn cùng theo học với thầy đồ Hiến ở trường Yên Thái (Bình Khê, Bình Định). Nguyễn Huệ học nhanh, hay lật ngược tất cả nghĩa của chữ mà hỏi khiến thầy rất khâm phục. Từ thời niên thiếu ấy, Quang Trung đã tỏ ra là con người can đảm,  đại lượng, khiêm tốn, có hoài bão chí lớn, hiểu sâu sắc về chính trị, thời thế. Có lần thầy Hiến hỏi Huệ về câu sấm đương thời đang lưu truyền: “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công”, Nguyễn Huệ đáp: “Bắc và Nam xã hội thối nát, nhân dân khổ cực, căm phẫn, không thể tránh khỏi một cuộc biến cách”. Từ đó, Nguyễn Huệ đã ra sức học tập, ham mê nghiên cứu binh thư và võ nghệ, xuất chúng tinh thông về mọi lĩnh vực, chuẩn bị là người đóng vai trò rường cột trong mọi biến cách của xã hội sắp tới.

   Phong trào Tây Sơn đã phất cao lá cờ đỏ (dài 10m), nêu khẩu hiệu “Lấy của nhà giầu chia cho dân nghèo”. Khẩu hiệu là tư tưởng chính trị bình đẳng, cũng nêu lên nguyện vọng của quần chúng nhân dân khi đó. Ngoài ra lại thêm khẩu hiệu thuộc sách lược chính trị để phân hoá kẻ thù: “Diệt quyền thần Trương Phúc Loan, tôn phò Hoàng Tôn Dương”. Với những khẩu hiệu đáp ứng được nguyện vọng bức thiết của nhân dân nên lực lượng nghĩa quân tăng lên nhanh chóng. Ngoài nông dân,  trong lực lượng nghĩa quân còn có nhiều tầng lớp khác tham gia như thổ hào (Nguyễn Trung), phú hào (Nguyễn Khê) và nhiều thầnh phần dân tộc như các đạo quân nguời Hoa (Hoà Nghĩa, Trung Nghĩa của Lý Tài, Tập Đình), người Chăm, người Ba Na, Gia Rai, Xơ Đăng. . . Lực lượng Tây Sơn lên đến hàng vạn người. Nghĩa quân từ Bình Định nhanh chóng hạ phủ thành Qui Nhơn, làm chủ Bình Định. Từ Bình Định, lá cờ đỏ của nghĩa quân tung bay làm chủ miền Quảng Nam ở phía Bắc, làm chủ Diên Khánh (Khánh Hoà), Bình Thuận ở phía Nam.

   Nhân cơ hội Đàng Trong có biến động, nhà Trịnh ở Đàng Ngoài muốn tiêu diệt chúa Nguyễn, thôn tính Đàng Trong. Mùa đông năm 1774, nhà Trịnh sai tướng Hoàng Ngũ Phúc đem 4 vạn quân vượt sông Gianh tiến vào Thuận Hoá.  Đầu năm 1775 Hoàng Ngũ Phúc chiếm Phú Xuân (Huế) rồi vượt đèo Hải Vân tiến đánh Tây Sơn. Chúa Nguyễn Phúc Thuần bỏ Phú Xuân chạy vào Gia Định rồi từ mặt Nam đánh ra. Hai vạn quân Nguyễn do Tống Phúc Hiệp chỉ huy tấn công quân Tây Sơn ở Bình Thuận. Quân Tây Sơn phải bỏ Bình Thuận, Phú Yên, Diên Khánh, Bình Khang rút về Qui Nhơn. Ở mặt trận phía Bắc, quân Tây Sơn do Lý Tài, Tập Đình chỉ huy bị quân Trịnh đánh bại ở Cẩm Sa,  phải bỏ Quảng Nam rút về Qui Nhơn. Quân Tây sơn bị kẹp giữa hai gọng kìm Trịnh-Nguyễn và có nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn.

   Trong tình thế nguy cấp đó , Nguyễn Huệ là người sáng suốt chủ trương hoà hoãn với quân Trịnh ở phía Bắc để tiêu diệt quân Nguyễn ở phía Nam. Tướng Trịnh Hoàng Ngũ Phúc muốn lợi dụng Tây Sơn để tiêu diệt chúa Nguyễn nên nhận lời cầu hòa thần phục của Tây Sơn. Phúc sai Nguyễn Hữu Chỉnh vào Qui Nhơn phong cho Nguyễn Nhạc chức “Tây sơn trưởng hiệu, Tráng tiết tướng quân”. Nguyễn Nhạc phong cho Nguyễn Huệ chức Đại tướng cầm quân đánh quân Nguyễn. Năm đó Nguyễn Huệ mới 23 tuổi. Chỉ một ngày của năm 1775, bằng mưu trí và tài dùng binh, Nguyễn Huệ đó hạ thành Phú Yên, tiêu diệt hai vạn quân thuỷ bộ của nhà Nguyễn, danh tướng Tống Phúc Hiệp phải bỏ chạy, nhiều tướng lĩnh của nhà Nguyễn bị Nguyễn Huệ tiêu diệt hay bắt sống như Nguyên Văn Hiến, Nguyễn Khoa Kiên. . . Chiến thắng Phú Yên của quân Tây Sơn làm cho quân Nguyễn mất hẳn khả năng tấn công quân Tây Sơn ở mặt Nam, quân Tây Sơn thoát khỏi thế bị kẹp giữa hai gọng kỡm. Quân Trịnh của Hoàng Ngũ Phúc ở mặt Bắc cũng rút khỏi Quảng Nam, lùi ra đóng giữ Phú Xuân. Chiến thắng Phú Yên đó mở ra một cục diện mới,  khởi nghĩa thoát khỏi tính chất địa phương, phát triển ra toàn bộ Đàng Trong. Danh tiếng của Nguyễn Huệ từ đó lừng lẫy, tài năng quân sự của ông được phát huy, rèn luyện trong nội chiến đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc. Quân thù bắt đầu khiếp sợ khi nghe danh tiếng của ông.

   Sau chiến thắng Phú Yên, nhiệm vụ chính của quân Tây Sơn là tấn công Gia Định, lật đổ nền thống trị của chúa Nguyễn. Tháng 3 năm 1776, thuỷ quân Tây sơn do Nguyễn Lữ chỉ huy tấn công thành Gia Định. Chúa Nguyễn Phúc Thuần chạy về Trấn Biên (Biên Hoà). Nhưng sau khi Nguyễn Lữ kéo quân về Qui Nhơn, quân Nguyễn lại về chiếm Gia Định. Chủ lực quân Nguyễn gồm 1vạn quân của Lý Tài ở Gia Định, 1 đạo quân của chúa Nguyễn Phúc Dương ở Trấn Biên, 4000 quân của Nguyễn Ánh và của Đỗ Thành Nhơn đóng ở Ba Dũng, 1 đạo quân của Mạc Thiên Tứ đóng ở Cần Thơ. Thế lực của chúa Nguyễn tương đối mạnh ở vùng Gia Định (toàn bộ miền Nam Nam ngày nay).

Quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy mở cuộc tấn công Gia Định lần 2 để tiêu diệt lực lượng quân Nguyễn. Lực lượng Tây Sơn có trên 10 vạn bộ binh, 200 thuyền chiến, trong đó có 50 chiến thuyền lớn từ 50 đến 60 mái chèo mỗi chiếc. Mỗi chiến thuyền đặt từ 3 đến 5 đại bác. Có khoảng 300 kỵ binh. Quân Tây Sơn được trang bị nhiều vũ khí, hoả khí hiện đại mà kĩ thuật đương thời cho phép.  Để thực hiện chiến dịch, quân Tây Sơn được chia làm hai đạo thuỷ bộ.  Đạo bộ binh có nhiệm vụ tấn công giải phóng Bình Định và phía bắc Gia Định.  Đạo thuỷ binh là đạo chủ lực do Nguyễn Huệ chỉ huy giải phóng toàn bộ Gia Định (Miền Nam). Tháng 3 năm 1777, thuỷ quân Tây Sơn tấn công dữ đội, tiêu diệt toàn bộ quân địch, chiếm Gia Định. Sau trận Gia Định, trên khắp các mặt trận quân Nguyễn hoàn toàn thất bại. Ngày 18 tháng 9 năm 1777, chúa Nguyễn Phúc Dương cùng 18 tướng lĩnh và toàn bộ quân đội bị bắt và bị hành hình. Chúa Nguyễn phúc Thuần chạy về Định Tường, sau đó bị bắt ở Long Xuyên và bị giết chết ngày 19 tháng 10 năm 1777, lúc Thuần mới 24 tuổi. Chỉ còn Nguyễn Phúc Ánh khi đó 15 tuổi chạy thoát.

Như vậy sau 6 tháng tiến công liên tục, dũng mãnh trên khắp các mặt trận, quân Tây Sơn đó lật đổ nền thống trị của chúa Nguyễn tồn tại suốt 200 năm với 9 đời chúa, tiêu diệt hầu như toàn bộ quân Nguyễn, giải phóng toàn bộ Miền Nam.  9 đời chúa Nguyễn đó là :

Nguyễn Hoàng (1600-1613 )- 13 năm

Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635 )- 22 năm

Nguyễn Phúc Lan (1635-1648 )- 13 năm

Nguyễn Phúc Tần (1648-1687 )- 35 năm

Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691 )- 4 năm

Nguyễn Phúc Chu (1691-1725 )- 24 năm

Nguyễn Phúc Chú (1725-1783 )- 58 năm

Nguyễn Phúc khoát (1738-1765 )- 27 năm

Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777 )- 12 năm

10.Nguyễn Phúc Ánh (1780-1802 )

Sau chiến thắng, Nguyễn Nhạc triệu hồi Nguyễn Hụê về Qui Nhơn, tạo điều kiện cho Nguyễn Phúc Ánh từ đảo quay về chiếm Dinh Long Hồ, Gia Định, Bình Thuận với 3 vạn quân thuỷ bộ, 400 chiến thuyền hạng vừa và hạng lớn, 3 tàu chiến của châu Âu do các sĩ quan Bồ Đào Nha chỉ huy. 3 chiến hạm này đặt dưới sự huy chung của một sĩ quan Pháp Manuyen. Tháng 7 năm 1781, Nguyễn Phúc Ánh tấn công vào Bình Khang (Khánh Hoà). Tình hình đó buộc quân Tây Sơn phải mở cuộc tấn công vào Gia Định lần 3. Tháng 3 năm 1782, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ chỉ huy một đạo thuỷ binh và một đạo bộ binh gồm 100 chiến thuyền xung trận tấn công đốt cháy toàn bộ chiến thuyền của Nguyễn Ánh, của hạm đội Pháp và Bồ Đào Nha tại cửa biển Cần Giờ. Thuyền của Nguyễn Ánh cũng bị đại bác Tây Sơn bắn gãy cột buồm.  Ánh phải đem tàn quân chạy về Bến Nghé nhưng bị quân Tây Sơn truy kích gắt gao, Nguyễn Ánh phải chạy về miền Hậu Giang. Trong khi đó các đạo bộ binh của Nguyễn Ánh cũng bị quân Tây Sơn do tướng Nguyễn Văn Kim chỉ huy tiêu diệt,  đạo quân ở Bình Thuận cũng bị quân Tây Sơn xóa sổ. Toàn bộ đất đai Gia Định lại được giải phóng.

   Nhưng năm 1782 khi quân Tây sơn vừa rút khỏi Gia Định, Nguyễn Ánh lại kéo tàn quân về biến Gia Định thành một căn cứ thuỷ quân vững chắc, lấy sông Cần Giờ làm phòng tuyến chính. Trên sông này có 100 chiến thuyền do tướng Chu Văn Tiếp chỉ huy sẵn sàng đối phó với quân Tây Sơn.

   Tháng 2 năm 1783, thuỷ quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ chỉ huy rầm rộ tiến vào cửa biển Cần Giờ. Quân Tây sơn nhân lúc triều dâng thuận chiều gió phóng hoả đốt cháy toàn bộ chiến thuyền của Nguyễn Ánh.  Ánh chỉ còn 100 bộ binh tháo chạy, lại bị tượng binh của Tây Sơn tiêu diệt ở Đồng Tuyên. Bị truy kích gắt gao, Ánh phải chạy ra đảo Phú Quốc rồi chạy sang Xiêm La cầu cứu. Sau trận này, Tây Sơn đã tổ chức cai trị, thiết lập quyền lực ở miền Gia Định. Một giáo sĩ pháp là Lơgơrăng Đơ La li re có mặt ở Đàng Trong khi đó thừa nhận Nguyễn Huệ không chỉ là nhà quân sự tài năng mà cũng là nhà cai trị tài giỏi.

   Sau những lần thất bại kiệt quệ sức lực, Nguyễn Ánh sang cầu cứu Xiêm La (Thái Lan) để chống lại Tây Sơn. Sẵn có dã tâm xâm lấn đất đai miền Nam Đại Việt, triều đình Vọng Các (Kinh đô Xiêm La) cử 400 chiến thuyền, 4 vạn thuỷ binh do các tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương chỉ huy đổ bộ lên Rạch Giá (Kiên Giang) ngày 25 tháng 7 năm 1784. Nguyễn Ánh cũng tập hợp được 4000 quân kéo về phối hợp. Quân Xiêm từ Rạch Giá đánh chiếm các vùng từ vịnh Thái Lan đến Hậu Giang. Tháng10 năm 1784, quân Xiêm tiến đến Cần Thơ, Sa Đéc. Quân xâm lược thả sức cướp bóc của cải, tàn sát nhân dân, hãm hiếp phụ nữ. Khắp miền Hậu Giang rực trời khúi lửa tang tóc. Nhân dân miền Nam lại hướng về và trông đợi ngọn cờ cứu nước của quân Tây Sơn. Tình hình chính trị, xã hội chín muồi cho Tây Sơn mở cuộc phản công tiêu diệt quân thù. Tháng 12 năm 1784, thuỷ quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy từ Qui Nhơn tiến vào Gia Định rồi tiến thẳng vào Mỹ Tho (Định Tường). Trên đoạn sông Rạch Gầm –Xoài Mút của sông Mỹ Tho, Nguyễn Huệ bố trí một trận địa mai phục bao gồm thuỷ quân, bộ binh và pháo binh (pháo đặt ở các cù lao). Ngày 20 tháng 1 năm 1785, chiến thuyền quân Tây Sơn khiêu chiến và dụ được toàn bộ binh thuyền của quân Xiêm từ tổng hành dinh Sa Đéc vận động đuổi đánh quân Tây Sơn trên sông Mỹ Tho. Toàn bộ quân địch lọt vào trận địa mai phục của quân Tây Sơn ở đoạn sông Rạch Gầm -Xoài Muốt và bị quân Tây Sơn đánh giết dữ dội. Chỉ trong 1 ngày, 4 vạn thuỷ binh, 400 chiến thuyền của quân Xiêm cùng 4000 quân Nguyễn  Ánh bị tiêu diệt. Chiêu Tăng, Chiêu Sương may mắn thoát chết chạy một mạch về Xiêm La. Sau trận này người Xiêm sợ quân Tây sơn như sợ cọp. Nguyễn Ánh chạy ra đảo Thổ Chu, sau đó sang Xiêm lánh nạn.  Đây là chiến thắng lừng lẫy, oanh liệt của quân Tây Sơn. Chiến thắng đã đè bẹp ý đồ bành trướng xâm lược của Vương quốc Xiêm La đối với Đại Việt, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ cực nam của tổ quốc, trừng trị đích đáng hành động bán nước của Nguyễn Phúc Ánh. Từ vùng dậy làm nhiệm vụ giải phóng giai cấp, phong trào Tây Sơn đó vươn lên làm nhiệm vụ dân tộc,  đánh bại kẻ thù dân tộc, bảo vệ độc lập của tổ quốc.  Ở chiến dịch Rạch Gầm-Xoài Mút, nghệ thuật quân sự của quân đội Tây Sơn dưới sự chỉ huy thiên tài của Nguyễn Huệ được nâng cao hơn một bước.

   Sau trận Rạch Gầm –Xoài Mút, lực lượng của Nguyễn Ánh hầu như bị quét sạch khỏi Gia Định (toàn bộ miền Nam tính từ Đồng Nai trở vào). Tây Sơn hầu như hoàn toàn làm chủ được miền đất Gia Định.

(Còn nữa)
CVL

Bạn đang đọc bài viết "Lịch sử Việt Nam (Từ tiền sử đến năm 2007) (Kỳ 15)" tại chuyên mục Nghiên cứu. | Hotline: 08.4646.0404