Lịch sử Việt Nam (Từ tiền sử đến năm 2007) (Kỳ 9)

PGS TS Cao Văn Liên

03/07/2021 08:58

Trân trọng giới thiệu tiếp với bạn đọc tác phẩm “Lịch sử Việt Nam từ tiền sử đến năm 2007” của PGS TS Cao Văn Liên  do NXB Thanh niên ấn hành năm 2009.

cvl2-1625277461.jpg
Chú thích ảnh

Kỳ 9

Chữ viết: Trong thời Bắc thuộc, chữ Hán được du nhập vào nước ta. Khi xây dựng quốc gia phong kiến độc lập chữ Hán thành chữ chính thức trong chiếu,  chỉ, tấu trình, công văn trong công việc hành chính nhà nước.

Ở thời Trần, chữ Hán được dùng để sáng tác văn học. Bên cạnh chữ Hán, cha ông ta đã sáng tạo chữ Nôm làm chữ của dân tộc. Đời Hồ chữ Nôm được dùng làm chữ chính thức nhà nước. Sự sụp đổ của Triều Hồ năm 1407 đã đưa chữ Hán trở lại địa vị độc tôn. Đời Hậu Lê, chữ Hán và chữ Nôm đều được sử dụng để sáng tác văn học, viết lịch sử nước nhà. Hai loại chữ song hành đã đưa văn học Đại Việt thời kỳ này thành hai dòng:Văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. Văn học chữ Nôm gần gũi với văn học dân gian. Thời Trần, Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên), Nguyễn Sĩ Cố  sáng tác thơ bằng chữ Nôm. Chữ Hán có thơ của Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trung Ngạn. Văn chương chữ Hán có bài “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn chứa chan tinh thần yêu nước, chí khí căm thù giặc. Khúc khải hòan ca oanh liệt của dân tộc trong trong 3 lần chiến thắng quân Nguyên -Mông là đề tài cảm hứng vô tận cho các nhà thơ chữ Hán và chữ Nôm. Thời hậu Lê, văn học chữ Hán chiếm ưu thế vì đó là chữ của nhà nước, chữ của thánh hiền. Văn thơ chữ Hán phát triển mạnh với các tác gia nổi tiếng như Nguyễn Trãi: “Bình Ngô đại cáo”, “Quân trung từ mạnh tập”, Lý tử Tấn, Nguyễn Mộng Tuân. Văn thơ chữ Hán chứa chan tinh thần yêu nước, khí phách anh hùng dân tộc. Trong chiến thắng oanh liệt của cuộc kháng chiến chống Minh, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi là bản”Tuyên ngôn độc lập” thứ hai, sau bài thơ “Thần” của Lý Thường Kiệt. Song văn học chữ Hán đời Hậu Lê dần dần đi vào khuôn mẫu chính thống, đề cao chế độ đương thời, thần thánh hoá nhà vua. Thơ của Lê Thánh Tông và hội “Tao đàn nhị thập bát tú” (thành lập năm 1494) là tiêu biểu của xu hướng này. Tuy nhiên, một số nhà thơ chữ Hán như Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân vẫn dùng ngòi bút vạch trần sự bất cập của xã hội đương thời.

     Trong các thế kỷ này, văn học dân gian ngày càng phát triển. Lý Tế Xuyên đời Trần đã sưu tầm những chuyện thần thoại, chuyện cổ dân gian tập hợp trong cuốn “Việt điện u linh”. Ca dao,  tục ngữ từ nhân dân lao động mà ra và ngày càng phong phú. Văn học chữ Nôm và dân gian thời kỳ này chuẩn bị tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ ở thế kỷ sau, khi nhân dân sử dụng các thể loại này như là một vũ khí chống lại chế độ phong kiến thối nát từ thế kỷ XVI trở đi.

Các triều đại đã thành lập các cơ quan nghiên cứu, viết lịch sử dân tộc. Nhà Trần lập Quốc sử viện. Nhà sử học lớn Lê văn Hưu soạn bộ “Đại Việt sử ký” gồm 30 quyển. Sử học triều Hậu Lê phát triển mạnh. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê viết bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” là một bộ sử có giá trị, trong đó có thể thấy bóng dáng bộ “Đại Việt sử ký” của Lê Văn Hưu đã bị mất. Nguyễn Trãi soạn sách “Địa dư chí”, một tác phẩm địa lý đầu tiên xác định rõ cương vực lãnh thổ Đại Việt, nêu lên tài nguyên, sản vật phong phú , những tập quán văn hoá của nhân dân các vùng. Lương Thế Vinh, Vũ Hữu là hai nhà toán học xuất sắc thời Lê đưa toán học nước nhà lên một trình độ mới và được vận dụng vào đời sống sản xuất, trong xây dựng. Lương Thế Vinh viết “Đại thành toán pháp”, Vũ Hữu viết “Lập thành toán Pháp”, hệ thống hoá hình học và số học. Trần Quốc Tuấn viết “Binh thư yếu lược” tổng kết lý luận quân sự, đặt nền tảng cho khoa học quân sự Việt Nam. Kĩ thuật quân sự, vũ khí thời gian này có bước phát triển mới, thuốc súng được dùng để chế tạo hoả pháo. Trần Nguyên Đán say sưa nghiên cứư thiên văn, lịch pháp. Phan Phu Tiên, Nguyễn Trực ngày đêm say sưa khám phá tính dược liệu của cỏ cây làm thuốc chữa bệnh. Nguyễn Trực viết “Bản thảo thực vật toát yếu”,  một công trình lý luận y dược giá trị. Nguyễn Bá Tĩnh viết “Nam dược thần hiệu” nêu lên 580 vị thuốc nam, 3873 phương thuốc điều trị 184 bệnh.

Ca múa nhạc cung đình thời Hậu Lê phát triển  với tính nghệ thuật cao. Bên cạnh đó,  nghệ thuật ca múa nhạc dân gian: tuồng chèo, kịch cổ, hát ả đào. Tác phẩm “Hí phường phả lục” của Lương Thế Vinh là tác phẩm lý luận đầu tiên về nghệ thuật kịch cổ, trong đó tác giả nêu lên kinh nghiệm nghề nghiệp, nghệ thuật biểu diễn, ca hát, đánh trống. Trong dân gian thịnh hành nhiều trò chơi dân dã làm phong phú đời sống sinh hoạt tinh thần, rèn luyện sức khoẻ, phục vụ sản xuất, chiến đấu như trò đấu vật, đánh cầu, cướp cầu, đua thuyền, múa rối nước, đấu gậy, đánh đu, chơi cù, luyện võ. Thời Trần ở Thăng Long đã có các đội thể thao chuyên nghiệp.

     Nghệ thuật điêu khắc được cha ông ta sử dụng ngay từ khi mới lập nước, trang điểm làm đẹp các vật dụng và trong kiến trúc nhà cửa, cung điện, đền đài, lăng tẩm, chùa,  tháp . Trên các đồ gốm, đồ sứ, đồ sành, được khắc vẽ mây, sóng nước, hoa sen, hoa cúc, những con vật như rồng, voi, trâu, sư tử, sấu và nhạc công, vũ  nữ đang ca múa. Nghệ thuật điêu khắc đời Trần phóng khoáng, khoẻ mạnh và mang tính hiện thực. Các công trình kiến trúc thế kỷ X-XV có qui mô to lớn vượt xa các triều đại trước. Thời Lý xây dựng nhiều chùa tháp. Chùa Giam (Quế Võ-Bắc Ninh) có diện tích 8.400m2, tháp Báo Thiên cao đến 12 tầng (60m). Chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) ở Thăng Long là tượng trưng cho hoa sen nở trên mặt nước. Thành Thăng Long thời Lý dài tới 25 km, cung điện trong thành cao tới 4 tầng. Kiến trúc thời Lý chắc khoẻ, hoà đồng với thiên nhiên. Thời Hậu Lê xây cung điện, lăng tẩm nhiều hơn, kế thừa kiến trúc Lý- Trần nhưng bắt đầu có xu hướng mô phỏng nghệ thuật kiến trúc Trung Hoa.

     Pháp luật: Thời Hùng Vương và An Dương Vương không tìm thấy pháp luật thành văn của những nhà nước đầu tiên này. Hơn một nghìn năm Bắc thuộc, pháp luật phong kiến Trung Quốc được chính quyền đô hộ du nhập vào làm phương tiện thống trị nhân dân ta. Sau khi giành được độc lập, các triều Ngô-Đinh-Tiền Lê chủ yếu dùng uy lực hình phạt để răn dạy và chế ngự tội phạm. Nhà Đinh đặt vạc dầu lớn ở sân  rồng, nuôi hổ dữ để ném kẻ tội phạm vào dầu sôi hoặc cho hổ xé xác. Năm 1002, triều Tiền Lê đưa luật đánh roi và tử hình vào để trừng trị kẻ có tội. Lê Ngọa Triều sai quấn cỏ gianh vào tội nhân và đốt cho chết hoặc thả xuống sông Ninh cho rắn cắn.

     Đến vương triều Lý, pháp luật thành văn của Đại Việt mới được biên soạn. Năm 1042, thời Lý Thái Tông ban hành bộ luật “Hình thư” 3 quyển gồm luật dân sự, hình sự, luật tài chính,  luật hành chính và luật tố tụng. “Hình thư” lần đầu đưa ra khái niệm quyền sở hữu, trong đó khẳng định quyền sở hữu ruộng đất là cơ bản nhất. Luật đưa ra những điều kiện pháp lý cho những bản hợp đồng và việc thực hiện hợp đồng. Luật đưa ra những qui phạm bảo vệ lực lượng sản xuất và bảo đảm quốc phòng. “Hình thư” là bộ luật bảo vệ quyền lợi, địa vị tài sản cho hoàng tộc và quí tộc phong kiến. Pháp luật cho phép chuộc tội bằng tiền (trừ tội thập ác) đã làm cho pháp luật không nghiêm minh, lợi thế tố tụng thuộc về kẻ giầu có. Các hình phạt thời Lý tàn khốc như xẻo thịt, băm xương, chặt chân, tay, ngoài ra còn thêm những hình phạt phụ như thích chữ vào mặt . Hình thư có kỹ thuật lập pháp cao, đạt trình độ hệ thống hoá, pháp điển hoá, đề ra những nguyên tắc trong quá trình tố tụng, khuyến khích, khen thưởng những người tố cáo. Pháp luật thời Lý chịu ảnh hưởng pháp luật phong kiến Trung Hoa nhưng cũng chịu ảnh hưởng lớn của tư tưởng Phật giáo nên còn mang sắc thái từ bi. Thời Lý Thái Tông đã cho đặt chuông ở điện Văn Minh để ai có oan khiên đến rung chuông kêu lên triều đình.

     Nhà Trần tiến hơn một bước so với nhà Lý về văn bản pháp luật. Ngoài bộ “Hình thư”, nhà Trần còn có nhiều bộ luật và nhiều văn bản tạo nên một hệ thống pháp luật. Pháp luật đời Trần đã làm rõ nét một số ngành luật. Pháp luật thời Trần chịu ảnh hưởng pháp luật phong kiển Trung Hoa, mang tư tưởng nhân trị Nho giáo nhưng đề cao ý thức tự chủ,  độc lập dân tộc. Pháp luật đề cao việc bảo vệ chế độ tư hữu tài sản, thừa nhận chế độ tư hữu mà trước hết là tư hữu ruộng đất, thừa nhận việc mua bán ruộng đất nhưng vẫn đề cao quyền sở hữu tối cao thuộc nhà vua. Pháp luật thừa nhận con cái có quyền kế thừa tài sản của cha mẹ.

Về hôn nhân gia đình,  pháp luật thời Trần ít, rõ nhất là cho phép hôn nhân đồng tộc (trong họ Trần), thừa nhận tảo hôn, qui định vợ phải tuyệt đối phục tùng, chung thuỷ với  chồng. Pháp luật như vâỵ đã bảo vệ chế độ gia trưởng, phụ quyền, bảo vệ quyền lợi quí tộc phong kiến, trừng phạt nghiêm khắc, tàn bạo đối với nhân dân lao động và tầng lớp dưới. Khác với pháp luật thời Lý, pháp luật thời Trần mang tính chất pháp trị mạnh mẽ. Do đó, hình phạt là sự đàn áp tàn khốc, sử dụng rộng rãi các hình thức phạt bằng xuy, trượng, đồ, lưu, tử. Ngoài ra còn thêm các hình phạt bổ sung như chặt ngón tay, ngón chân, thích chữ vào mặt v. v. Còn cho phép chuộc tội bằng tiền, sung công tài sản, cách chức. Tố tụng đời Trần có chú ý kết hợp giữa lý và tình, trong xét xử trọng chứng hơn trọng cung, có sự phân biệt giữa phạm tội cố ý với phạm tội vô ý. Pháp luật miễn trách nhiệm hình sự cho các trường hợp cụ thể như người điên dại, người ra tự thú, người có công lớn, người có họ với nhà vua. Luật qui định án phí, lệ phí khi tố tụng, giấy tờ phải điểm chỉ, lăn tay.

     Kế tục nhà Trần, nhà Hồ ban hành pháp luật để cải cách kinh tế, xã hội, chính trị, quân sư. Năm 1401, Hồ Quí Ly cho ban hành bộ “Đại Ngu quan chế”. Nay bộ luật này không còn,  chỉ còn được nhắc đến trong sách “Cương mục”.

     Thời Hâụ Lê - Lê Sơ là đỉnh cao của chế độ phong kiến Việt Nam nên hoạt động lập pháp được tăng cường đẩy mạnh để đáp ứng cho nhu cầu phát triển của chế độ. Hệ thống văn bản pháp luật nhiều,  trong đó có bộ “Quốc triều hình luật” được ban hành năm 1483 dưới triều Lê Thánh Tông nên còn được gọi là “Luật Hồng Đức”. đây là bộ luật quan trọng bậc nhất, là văn bản pháp luật chủ đạo suốt thời Hậu Lê. “Quốc triều hình luật” là đỉnh cao nhất của thành tựu lập pháp phong kiến Việt Nam. “Quốc triều hình luật” bao gồm 6 quyển, 722 điều, nội dung là các chế định về hình sự, dân sự, tố tụng hình sự. “Quốc triều hình luật” chú ý phân biệt phạm tội cố ý và không cố ý để định tội nặng hay nhẹ. Khi xét xử án phải kèm theo tang vật. Luật cho phép dùng tiền để chuộc tội, trừ tội thập ác. “Quốc triều hình luật” qui định sử dụng 5 hình phạt: xuy, trượng, đồ, lưu, tử. Trong mỗi hình phạt lại chia thành nhiều bậc, tuỳ nặng nhẹ mà trừng phạt khác nhau. Xếp đầu bảng trong tội hình sự là tội “Thập ác”, phạm tội này bị trừng phạt rất nặng, bậc quí tộc công thần cũng không được chiếu cố. Chương cấm vệ qui định việc bảo vệ hoàng thành, bảo vệ nhà vua,  hoàng tộc, gia đình nhà vua, bảo vệ bí mật quốc gia, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Luật qui định trừng phặt nặng hành vi nhận hối lộ, làm trái chiếu chỉ của nhà vua, thiếu trách nhiệm khi thi hành công vụ, dùng quyền để áp bức, nhũng nhiễu nhân dân. Luật trừng phạt nặng đối với tội trộm cướp, giả mạo giấy tờ, làm những điều mê tín, dị đoan. Chương quân chính qui định xử phạt đối với binh sĩ và tướng lĩnh phạm tội.

(Còn nữa)

CVL

Bạn đang đọc bài viết "Lịch sử Việt Nam (Từ tiền sử đến năm 2007) (Kỳ 9)" tại chuyên mục Nghiên cứu. | Hotline: 08.4646.0404