Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (Kỳ 14)

Trân trọng giới thiệu tiếp "Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử" của PGS TS Cao Văn Liên do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành.

b1-chua-tien-nguyen-hoang-1-1684655834.png

Tranh minh hoa: Chúa Tiên Nguyễn Hoàng - người có đủ tâm, tài, chí, trí, dũng mở đầu cho sự nghiệp xây dựng nên xứ Đàng trong của chín đời chúa Nguyễn. Nguồn: Internet

 

 Kỳ 14

 2.  Nhà Lê Trung Hưng: Việc Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê chỉ vì quyền lợi ích kỷ của bản thân, của gia đình, dòng họ nên làm cho mâu thuẫn nội bộ giữa các tập đoàn phong kiến càng thêm gay gắt. Các tập đoàn phong kiến khác tìm cách chống đối nhà Mạc.

Nguyễn Kim (quê ở Hà Trung , Thanh Hoá), một cựu thần nhà Lê đã tôn phò Lê Duy Ninh, con của Lê Chiêu Tông lên ngôi vua tức là Lê Trang Tông, thành lập Nam Triều ở vùng núi phía tây Thanh Hoá, giáp biên giới Lào -Việt. Với Lê Trang Tông, thời Lê Trung Hưng bắt đầu. Tháng 12 năm 1540, Nguyễn Kim kéo quân từ đất Lào đánh chiếm Nghệ An. Cuối năm 1543 Nam Triều chiếm Tây Đô (Thanh Hoá),  cuộc nội chiến Nam-Bắc Triều bắt đầu và kéo dài gần 50 năm (1545-1592). Trong gần 50 năm Nam-Bắc Triều đó đánh nhau 38 trận lớn nhỏ, có những trận quân số mỗi bên huy động lên 10 vạn người, tàn sát nhau khủng khiếp. Năm 1545 Nguyễn Kim kéo quân đến Ninh Bình thì bị nội gián nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đánh thuốc độc chết. Khi đó hai con trai của Nguyễn Kim còn nhỏ nên toàn bộ quyền lực ở Nam Triều vào tay con rể là Trịnh Kiểm (quê Vĩnh Lộc, Thanh Hóa ). Năm 1570 Trịnh Kiểm chết, con là Trịnh Tùng thay thế. Ngày 25 tháng 11 năm 1592 quân Trịnh phá tan quân Mạc ở Kim Thành, Thạch Hà (Hải Dương). Vua cuối cùng của nhà Mạc là Mạc Mậu Hợp bị giết chết. Nhà Mạc diệt vong. Từ Mạc Đăng Dung đến Mạc Mậu Hợp nhà Mạc trải qua 5 đời vua, trị vì 62 năm      

1 . Mạc Đăng Dung (tại vị 1527-1529)-2 năm

2 . Mạc Đăng Doanh (tại vị 1530-1540)-10 năm

3 . Mạc Phúc Hải (tại vị 1541-1546 )-5 năm

4 . Mạc Phúc Nguyên (tại vị 1546-1561)-15 năm

5.  Mạc Mậu Hợp (tại vị 1562-1592)-30 năm      .

 3.  Vua Lê-Chúa Trịnh: Cục diện Nam-Bắc Triều kết thúc.  Trịnh Tùng đem vua Lê về Thăng Long nhưng không trao chính quyền cho vua Lê mà biến triều đình nhà Lê thành hư vị. Trịnh Tùng buộc vua Lê phong cho mình Đô đốc nguyên suý Tổng quan quốc chính thượng phụ, tước Bình an vương. Trịnh Tùng chỉ cho vua Lê thu thuế 1.000 xã, 5.000 quân túc vệ, 7 con voi và 20 chiếc thuyền rồng. Trịnh Tùng cho thiết lập một triều đình riêng - Phủ Chúa và một bộ mỏy hành chính riêng thâu tóm toàn bộ quyền lực vào tay. Cục diện Vua Lê-Chúa Trịnh manh nha từ thời Nam-Bắc triều bây giờ thành sự thực. Mâu thuẫn giữa hai tập đoàn phong kiến Lê -Trịnh thường bùng phát với xu hướng triều đình nhà Lê bị chèn ép, nhiều vua Lê bị chúa Trịnh giết hại. Năm 1572 Trịnh Tùng đã giết chết vua Lê Anh Tông (Lê Duy Bang) ở Lỗi Dương (Thanh Hoá) khi nhà vua mới 42 tuổi. Năm 1595 trước sự áp chế quá đáng của Trịnh Tùng, vua Lê Kính Tông mưư giết chúa Trịnh. Việc bại lộ, nhà vua bị Trịnh Tùng giết hại năm mới 32 tuổi. Từ đó các vua Lê đành nuốt hận nhưng phải hoàn toàn khuất phục

  4.  Cục diện Vua Lê,  Chúa Trịnh Đàng Ngoài- Chúa Nguyễn Đàng Trong (1558-1784)

Trong khi cục diện Nam-Bắc Triều chưa kết thúc thì mâu thuẫn trong các tập đoàn phong kiến Nam Triều Trịnh -Nguyễn đã bùng phát. Sau khi thâu tóm quyền hành vào tay, Trịnh Kiểm đã giết chết em vợ là Nguyễn Uông (con cả Nguyễn Kim). Tính mệnh Nguyễn Hoàng, em Nguyễn Uông cũng bị đe dọa. Nghe theo lời Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hoành sơn nhất đái khả dĩ dung thân”. Nghĩa là một dải Hoành sơn có thể là chốn dung thân được. Hiểu được ngầm ý ấy, Nguyễn Hoàng nhờ chị gái Nguyễn Thị Ngọc Bảo xin với anh rể là Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa  để tránh bị nghi ngờ tranh giành quyền lực, không bị giết như người anh cả Nguyễn Uông. Giang sơn nhà Nguyễn nhờ đó mà dựng nên ở phương Nam và được Trịnh Kiểm đồng ý. Đến thời nhà Nguyễn hy vọng sẽ giữ được cơ nghiệp mãi mãi đã sửa câu sấm của Trạng Trình thành: “Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân” (một giải Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời),

Năm 1558 Nguyễn Hoàng khi đó mới 34 tuổi được phong làm trấn thủ Thuận Hoá (ngày nay bao gồm Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam). Hoàng đã đem theo nhiều nghĩa dũng đồng hương Thanh Hoá vào lập nghiệp đất Miền Trong. Từ năm 1558 đến năm 1619 là thời kỳ Nguyễn Hoàng và sau đó con là Nguyễn Phúc Nguyên ra sức xây dựng phát triển kinh tế, mở mang bờ cõi Miền Trong, xây dựng thực lực để trở thành một giang sơn riêng biệt. Mặt khác vẫn thần phục vua Lê chúa Trịnh. Từ năm 1619 trở đi khi thực lực đó mạnh,  họ Nguyễn không phục tùng Lê-Trịnh nữa và bắt đầu cuộc nội chiến lâu dài khốc liệt giữa hai tập đoàn phong kiến lớn Trịnh-Nguyễn. Năm 1619 Trịnh Tùng đem quân chinh phạt họ Nguyễn mở đầu cho cuộc nội chiến. Từ năm 1627 đến năm 1672 hai bên đã 7 lần đánh nhau. Các vùng Quảng Bình, Nghệ An quanh năm bị biến thành bãi chiến trường núi xương,  sông máu, gây bao nhiêu tang tóc đau thương cho nhân dân hai miền Nam-Bắc. Cuộc nội chiến kéo dài hàng trăm năm không phân thắng bại, cuối cùng hai bên phải lấy sông Gianh (sông Linh Giang-Quảng Bình) làm ranh giới , phia bắc sông Gianh trở ra gọi là Đàng Ngoài, phía nam sông Gianh trở vào đến đất mũi Cà Mau gọi là Đàng Trong. Sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của đất nước bị các tập đoàn phong kiến phá vỡ vì quyền lợi ích kỷ của mình. Trong suốt thế kỷ XVII các chúa Nguyễn nhân cơ hội quốc gia Chiêm Thành ở phía Nam suy vong, tiến hành mở rộng lãnh thổ từ Quảng Ngãi xuống Bình Thuận. Phía nam Bình Thuận là Thuỷ Chân Lạp của vương quốc Chân Lạp cũng đang trên đường suy vong tạo ra khoảng trống quyền lực,  đất đai hoang hoá. Các chúa Nguyễn tiếp tục cho cư dân tiến vào phía Nam khai hoang phục hoá mở rộng lãnh thổ Đàng Trong đến Mũi Cà Mau-Rạch Giá vào cuối thế kỷ XVII.

   Sang thế kỷ XVIII chế độ phong kiến Việt Nam bước vào cuộc khủng hoảng toàn diện và ngày càng sâu sắc.  Ở Đàng Ngoài,  tầng lớp cầm quyền ngày càng hủ bại. Mọi chính sách của nhà nước đều chỉ nhằm một mục đích duy nhất củng cố vơ vét quyền lợi cho tập đoàn thống trị, vì thế các chính sách đều mang tính chất phản động. Phủ Chúa nắm toàn bộ quyền lực, tiêu phí không biết bao nhiêu tiền bạc, công sức của nhân dân vào xây cất các công trình nguy nga tráng lệ, vào các cuộc ăn chơi sa đoạ, tuần du tốn kém. Toàn bộ quan lại từ Trung ương đến địa phương vùi đầu trong cuộc sống xa hoa, bon chen, truỵ lạc, vô cảm trước sự đau khổ cùng cực của nhân dân. Quan lại thì ra sức xu nịnh cấp trên để được bao che, dung túng, bòn rút của nhà nước,  của nhân dân để làm giầu. Tệ hoạn quan lộng hành, tệ mua bán bằng cấp, tệ mua quan bán chức được nhà nước công khai chấp nhận như một thể chế lựa chọn nhân sự vào bộ máy chính quyền. Tệ tham ô, hối lộ nhũng nhiễu đục khoét nhân dân được nhà nước làm ngơ và thừa nhận. Cha ông ta nói: “Nhà dột từ nóc”. Một nhà nước khi triều đình trung ương đã hủ bại thì quan lại địa phương cường hào ác bá mặc sức hoành hành. Chúng thâu tóm quyền hành, tác oai tác quái, bòn rút của cải, tiền bạc, cướp đoạt những mảnh đất cuối cùng của nông dân. Chúng bày đặt lắm mưu,  nhiều kế độc ác gian xảo, vu oan giá hoạ hãm hại người lương thiện, oan khốc đầy trời mà không biết kêu ở nơi nào cho thấu.

   Chính trị mục nát đã làm cho đạo đức, kỷ cương,  đạo lý của Nho giáo sụp đổ. Những nguyên lý trong kinh điển Nho gia chỉ còn là những lời núi rỗng tuếch lừa bịp,  mị dân. Bộ máy nhà nước do mua quan bán tước trở nên cồng kềnh đông đúc mà không được lương bổng hoặc lương bổng thấp nên càng ra sức đục khoét nhân dân. Như ở Đàng Trong một xã có đến 20 xã trưởng. Chế độ Trịnh -Nguyễn tăng thuế má lên một cách khủng khiếp. Nhà nước ước tính số chi trước để định ra mức thu, bất chấp những khó khăn thực tế, những nỗi cùng khổ của nhân dân. Ví như thuế đinh chỉ cần kiểm tra dân số một lần và ấn định mức thu lâu dài cho các xã. Thành thử những người còn sống, những người ở lại phải đóng cả thuế cho những người đã chết, những người bỏ làng phiêu bạt.

(Còn nữa)

CVL