“Thế trận văn hóa” – tuyến đầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa là chủ trương trọng yếu của Đảng trong xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn hiện nay.
img-5440-1777116896.jpeg
Chủ nghĩa Marx–Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguồn: baochinhphu.vn

Việc xây dựng thế trận văn hóa nhằm phản bác lại các luận điệu sai trái của các thế lực trong đời sống thực và đời sống mạng internet là yêu cầu khách quan, cấp thiết nhằm định hướng nhận thức, củng cố niềm tin, nâng cao “sức đề kháng” cho cán bộ, đảng viên, Nhân dân trước những thông tin xấu độc, luận điệu xuyên tạc; từ đó góp phần giữ vững ổn định tư tưởng, xã hội. Trên cơ sở quan điểm của Đảng về bảo vệ và phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới, bài viết này tiếp cận từ góc độ quản lý nhà nước, tập trung phân tích sự kết hợp giữa bảo vệ với phát triển văn hóa Việt Nam nhằm phản bác lại các quan điểm sai trái về việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa thông qua Nghị quyết 80-NQ/TW. Từ đó, bài viết một lần nữa khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là tuyệt đối. Sự quan tâm nhằm bảo vệ bền vững và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đúng với quan điểm: "Lãnh đạo để tạo đà, quản lý để bảo vệ, và nhân dân là chủ thể sáng tạo".

1. Sự cần thiết của “Thế trận văn hóa”

Văn hóa là nền tảng tinh thần và động lực phát triển, dẫn dắt từ quan điểm xuyên suốt của Đảng về vai trò của văn hóa đối với sự tồn vong của dân tộc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh tạiHội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng "Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, nói lên bản sắc của dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất…". Câu nói này đã trở thành một kim chỉ nam quan trọng, định hướng cho sự phát triển của nền văn hóa dân tộc, điều đó có nghĩa Đảng và nhà nước ta luôn nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa đối với sự tồn vong của dân tộc. Nếu như mất đi văn hóa, thì dù sự phát triển về kinh tế có tốt đến đâu cũng là mất đi bản sắc, đặc trưng của dân tộc ấy. 

Khái niệm "Thế trận văn hóa" có thể được hiểu là sự huy động tổng lực các nguồn lực chủ thể văn hóa (nhà nước, nhân dân, doanh nghiệp, văn nghệ sĩ) nhằm tạo ra hàng rào bảo vệ chủ quyền văn hóa và không gian thúc đẩy bản sắc dân tộc trên môi trường thực và không gian mạng. Thế trận này đòi hỏi các chủ thể phải biết chọn lọc và làm giàu cho mình trong sự giao lưu và tiếp biến văn hóa trên thế giới hiện nay đang diễn ra vô cùng sôi động. Thế giới phẳng vừa là điều kiện để giao lưu, học hỏi và phát triển vừa là nguyên nhân làm mai một và biến mất của văn hóa dân tộc. Nếu không có chiến lược phát triển cụ thể theo định hướng của Đảng, nhà nước, thì sẽ tạo ra sự biến đổi có thể theo các chiều hướng tiêu cực và mất đi bản sắc.

Trong bối cảnh thực tiễn hiện nay, sự bùng nổ của truyền thông xuyên biên giới và các luồng văn hóa ngoại lai đòi hỏi một sự định hướng sắc nét hơn từ sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước Việt Nam. Kế thừa các học thuyết của triết học Mác-Lê nin và tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về bảo vệ và xây dựng, phát triển văn hóa, các Nghị quyết được đưa ra từ các Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam và gần đây nhất là Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 đã một lần nữa khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là "bệ đỡ" cho tự do sáng tạo có định hướng trong lĩnh vực văn hóa.

2. Lịch sử vấn đề

Văn hóa là phạm trù rất rộng, được đề cập trong các hệ tư tưởng khác nhau trong lịch sử. Trong Triết học Mác Lê-nin thì văn hóa được xếp vào kiến trúc thượng tầng chịu sự chi phối của cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, văn hóa do phạm trù rộng lớn vẫn có tính độc lập riêng tương đối. Tính hai mặt của một vấn đề giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầngsự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng. Trong trường hợp này, có thể hiểu như mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa. Văn hóa theo sau kinh tế nhưng văn hóa có sự tác động trở lại đối với kinh tế. Trong xã hội tư bản, giai cấp tư sản nắm quyền thì hệ tư tưởng của giai cấp tư sản sẽ chiếm vai trò chủ đạo và bắt buộc hệ tư tưởng của các giai cấp khác phải tuân theo. Chính vì vậy, các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nông dân một phần là sự đấu tranh về tư tưởng, văn hóa của giai cấp bị trị đối với giai cấp thống trị. Xã hội Việt Nam từ xưa là một xã hội lấy nông nghiệp làm đầu, chính vì vậy văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước đã ảnh hưởng và qui định cho kinh tế nông nghiệp, âm tính so với phương Tây.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhận được tư tưởng của Mác - Lênin thì Người đã vận dụng vào cách mạng Việt Nam, lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh giành được độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đặc biệt là việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam để dẫn dắt Nhân dân Việt Nam giành được thắng lợi trên mọi mặt trận. Đảng Cộng sản Việt Nam lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động, đấu tranh, xây dựng và phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói Văn hóa soi đường cho quốc dân đi, văn hóa không thể đứng ngoài kinh tế, mà phải ở trong kinh tế và chính trị. Chính Văn hóa nghệ thuật là một mặt trận. Anh chị em là những chiến sĩ trên mặt trận ấy” [9].

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về thế trận văn hóa chính là quá trình xây và chống. Sự kết hợp chặt chẽ này nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm xây dựng một đất nước có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Các quan điểm tư tưởng của Người được Đảng ta tiếp thu một cách triệt để, có sáng tạo và đi đúng hướng. Chính vì vậy mới có sự quan tâm, đầu tư phát triển văn hóa Việt Nam một cách mạnh mẽ trong hiện tại và tương lai. Sự phát triển văn hóa ấy có lúc thăng, lúc trầm nhưng luôn âm ỉ và là nguồn chảy suốt thời gian dài, từ khi lập quốc đến các triều đại, văn hóa Việt Nam luôn trường tồn và phát triển. Trong thời kỳ hiện đại, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, cách mng Việt Nam đã đánh bại đế quốc và tay sai để thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Sau khi Mỹ bỏ cấm vận, Việt Nam tiến hành cải cách mở cửa, chính sự mở rộng này đón nhận giao lưu về nhiều mặt (chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội…) từ các quốc gia bên ngoài vào Việt Nam và từ nước ta ra thế giới đã dẫn đến việc phải bảo vệ văn hóa nước nhà. 

Những văn bản chỉ đạo gần đây của Đảng nhà nước ta trước tiên có thể kể đến Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (ngày 16/7/1998) là văn kiện quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam về "xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc". Nghị quyết đánh dấu bước chuyển tư duy, xác định văn hóa là nền tảng tinh thần, mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết đưa ra nhằm mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến (yêu nước, nhân văn, dân chủ) và đậm đà bản sắc dân tộc (giá trị bền vững, tinh hoa cộng đồng). Đến Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Mục tiêu của Nghị quyết là xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng. Trọng tâm là xây dựng con người có tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh. Với 6 nhiệm vụ cốt lõi: Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc và trách nhiệm công dân; Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, cải thiện đời sống văn hóa ở cơ sở, khu dân cư và các cơ quan, đơn vị; Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế, đưa yếu tố văn hóa vào các hoạt động quản lý nhà nước và kinh doanh; Nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, phát triển văn học, nghệ thuật và bảo tồn di sản văn hóa dân tộc; Phát triển công nghiệp văn hóa, đi đôi với việc xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa; Chủ động Hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại đồng thời quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới. Các nội dung này là sự tiếp thu, phát triển nhiệm vụ cụ thể hơn nữa so với Nghị quyết TW5, đồng thời khái niệm Công nghiệp văn hóa” được nhắc tới như định hướng các bước cụ thể hơn nữa ở các văn bản, chủ trương trong giai đoạn tiếp sau.

Gần đây nhất Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết đã đưa ra tầm nhìn và mục tiêuxây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trở thành nền tảng tinh thần và động lực phát triển kinh tế - xã hội. Với nội dung cơ bản phát triển công nghiệp văn hóa, nâng cao "sức mạnh mềm" quốc gia; Tăng cường đầu tư cho văn hóa, kết hợp nguồn lực nhà nước và xã hội; Hội nhập quốc tế, quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới, thành lập trung tâm văn hóa Việt Nam tại nước ngoài. 

3. Những luận điệu thường thấy trên không gian mạng về việc quản lý văn hóa của nhà nước

Những luận điệu thường thấy hiện nay trên không gian mạng hoặc các hình thức khác (hầu hết của các thế lực thù địch, lợi dụng sự tự do trên không gian mạng), đó là: Nhà nước can thiệp sẽ hạn chế phát triển văn hóa trong quần chúng; Nhà nước quản lý là để kiểm soát tư tưởng (một hình thức kiểm duyệt), làm thui chột và bóp nghẹt tự do sáng tạo. Họ (những người có tư tưởng này) dường như không quan tâm đến pháp luật và các quốc gia văn minh họ cũng quản lý nhân dân bằng pháp luật; Văn hóa nhà nước nghèo nàn, chỉ có quần chúng tự do mới phát triển sáng tạo được. Đặc biệt họ cho rằng, chủ trương “Đậm đà bản sắc dân tộc” là biểu hiện cho tư duy đóng cửa, bài ngoại và dân tộc cực đoan. Họ luôn ca ngợi văn hóa bê ngoài, sính ngoại. Lợi dụng sự tự do, dân chủ và xu thế toàn cầu hóa trong thế giới phẳng để cho rằng: Bản sắc là lạc hậu, làm hạn chế quyền tiếp cận những tinh hoa văn hóa thế giới của nhân dân. Với quan điểm này, họ sẽ phủ nhận tầm quan trọng của văn hóa dân tộc, cổ xúy cho văn hóa ngoại lai dẫn đến tình trạng “xâm lăng văn hóa”, từ đó sẽ chuyển sang chính trị và kêu gọi các cuộc cách mạng trong giới trẻ. Họ cổ xúy cho bạo loạn lật đổ như ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới vừa qua. Họ phủ nhận quá khứ hào hùng của dân tộc, không trân quý hòa bình, thống nhất. Chính vì vậyĐảng và nhà nước cần phải có biện pháp mạnh để có thể hướng sự sáng tạo đi đúng hướng. Bởi các luận điệu trên không gian mạng sẽ nguy hiểm khi những người tiếp xúc thường là giới trẻ - lực lượng lao động và chủ nhân tương lai của đất nước. Nếu người trẻ thường xuyên bị nhồi các quan điểm sai trái này sẽ luôn tạo ra sự hoài nghi về nhà nước và chế độ, làm suy giảm niềm tin của giới trẻ vào văn nghệ sĩ và các chủ trương của Đảng dẫn đến sự thờ ơ hoặc phản kháng ngầm trong sáng tác. Từ sự hoài nghi này kéo theo việc mở đường cho văn hóa độc hại, người trẻ sẽ vô tình (hay cố ý) cổ xúy cho một môi trường văn hóa hỗn loạn, nơi các sản phẩm rác lên ngôi tạo nên hiện tượng giới trẻ hay gọi là “trend” làm lệch lạc nhận thức của cộng đồng về những giá trị tốt đẹp của văn hóa. 

4. Tầm nhìn chiến lược của Đảng trong xây dựng “Thế trận văn hóa” từ Nghị quyết số 80-NQ/TW

Điểm mới của Nghị quyết là hiện thực hóa các chủ trương của Đảng và nhà nước, được xem là "ngọn đuốc" soi đường cho phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Các nội dung “Thế trận văn hóa” có thể được tóm tắt qua một số nội dung, đó là: Bảo vệ sớm, bảo vệ từ xa; Quan hệ Quản lý nhà nước - sáng tạo văn hóa; Công nghiệp văn hóa: Từ “tiêu tiền” chuyển qua “tạo tiền” từ các sản phẩm văn hóa. 

Bảng 1: So sánh đối chiếu để nhận diện sự sai lệch

Quan điểm sai trái

Sự thật từ Nghị quyết 80-NQ/TW

Quản lý văn hóa là "còng tay" nghệ sĩ.

Quản lý là xây dựng "đường cao tốc" pháp lý để nghệ sĩ tự tin sáng tạo và được bảo hộ bản quyền.

Nhà nước chỉ quan tâm đến văn hóa tuyên truyền.

Nhà nước đầu tư vào công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và văn hóa cộng đồng đa dạng.

Bảo vệ bản sắc là bài ngoại, lạc hậu.

Bảo vệ bản sắc là tạo ra lợi thế cạnh tranh độc đáo của Việt Nam trong kỷ nguyên toàn cầu.

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

4.1. Triết lý "Thế trận văn hóa": Bảo vệ từ sớm, từ xa

Khác với các nghị quyết trước đây thường tập trung vào "xây dựng", Nghị quyết 80 nhấn mạnh vào khái niệm "thế trận". Điều này hàm ý một sự chủ động và có tổ chức. Đó là tính liên kết: Văn hóa không đứng độc lập mà kết nối chặt chẽ với kinh tế, quốc phòng và an ninh. Xác định chủ quyền số: Trong bối cảnh năm 2026, thế trận này mở rộng mạnh mẽ trên không gian mạng. Không gian này hầu hết người dân đều có thể tiếp cận, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp. Chính vì vậy, phải khẳng định việc quản lý không phải là "ngăn sông cấm chợ", mà là xây dựng "hệ miễn dịch" để các giá trị ngoại lai độc hại không thể xâm nhập, cùng với đó là các giá trị nội xâm của các thế lực muốn chống lại sự phát triển, đồng thời tạo đường cao tốc cho những giá trị văn hóa nội địa lan tỏa ở trong nước và ra ngoài thế giới.

4.2. Giải mã quan hệ: Quản lý Nhà nước và tự do sáng tạo

Đây là trọng tâm để phản bác các quan điểm sai trái. Chúng ta cần hiểu rõ trên 3 phương diện:

Nhà nước là "Kiến trúc sư trưởng" có vai trò định hướng để văn hóa, sáng tạo đi đúng hướng.Nghị quyết 80 xác định: Nhà nước không "viết hộ" tác phẩm cho nghệ sĩ hay "làm thay" văn hóa cho quần chúng. Vai trò của Nhà nước là quy hoạch hạ tầng văn hóa, ban hành luật pháp (hành lang pháp lý) và ưu đãi thuế/vốn để giúp cho sự sáng tạo của văn nghệ sĩ có đà và lực để phát triển. 

Cá nhân, đơn vị tự do trong sáng tạo nhưng sáng tạo đúng hướng (pháp luật): Các đơn vị, cá nhân hoạt động sáng tạo văn hóa phải theo các hành lang pháp lý và định hướng sẵn có, để phát triển đúng mục tiêu và nhiệm vụ của Nghị quyết đã đề ra. Một khu vườn chỉ đẹp khi có hàng rào bảo vệ và được quy hoạch lối đi, thiết kế cây cỏ, hoa lá sao cho đúng vị trí thẩm mỹ. Các loại cỏ dại, sâu bọ có hại cho khu vườn ấy cần phải được dọn dẹp, chăm sóc thì cây mới đơm hoa, kết trái thành công. Quản lý văn hóa chính là "hàng rào" ngăn chặn rác thải văn hóa, tạo môi trường sạch để những hạt giống sáng tạo thực thụ nảy mầm. Không có sự sáng tạo nào tồn tại trong sự hỗn loạn và vô giá trị.

Cơ chế "Đặt hàng" - Mối quan hệ giữa nhà nước và nhà sáng tạo: Thay vì can thiệp trực tiếp, Đảng và nhà nước chuyển sang cơ chế đặt hàng các sản phẩm văn hóa đỉnh cao. Điều này vừa kích thích tài năng, vừa đảm bảo dòng chảy văn hóa luôn đi đúng hướng "tiên tiến, đậm đà bản sắc". Trường hợp này có thể kể về “Mưa đỏ” hay “Bắc Bling Bắc Ninh”, là sự sáng tạo có định hướng, tạo hiệu ứng lớn trong lòng yêu nước, yêu dân tộc. Các sản phẩm văn hóa này đã tạo ra hiệu ứng cực kỳ tốt, đem lại nguồn thu lớn cho địa phương và người dân được hưởng lợi.

4.3. Công nghiệp văn hóa: Từ "Tiêu tiền" sang "Tạo tiền"

Tiếp theo nội dung phát triển Công nghiệp văn hóa từ Nghị quyết số 33-NQ/TW, Nghị quyết 80 - NQ/TW đã tạo ra bước ngoặt khi coi văn hóa là một nguồn lực kinh tế trực tiếp, đó là:

Thương mại hóa di sản: Không phải là "tầm thường hóa", mà là đưa di sản vào các sản phẩm du lịch, quà tặng, điện ảnh để lan tỏa bản sắc. Việc số hóa di sản là yêu cầu bắt buộc để thông qua mạng internet và các kênh khác nhau giúp những người quan tâm tiếp cận được thông tin. Thay vì chỉ tồn tại dưới dạng "hiện vật trong bảo tàng" hay "ký ức của nghệ nhân", di sản được đưa vào guồng quay kinh tế để tạo ra lợi nhuận, đồng thời tái đầu tư cho việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản. 

Sức mạnh mềm: Nghị quyết 80 - NQ/TW đã phân tích sâu việc Đảng định hướng phát triển các tập đoàn văn hóa mạnh, đủ cả về quyền lực kinh tế và ngoại giao giúp cho văn hóa, sáng tạo được thăng hoa. Khi văn hóa trở thành một ngành công nghiệp có lợi nhuận, chính quần chúng và doanh nghiệp sẽ là những người hăng hái sáng tạo nhất. Lúc này, sự lãnh đạo của Đảng đóng vai trò như "la bàn" để con tàu kinh tế văn hóa không đi chệch khỏi mục tiêu dân tộc. Trường hợp công ty tổ chức biểu diễn chương trình “Anh trai say hi” hay “Chị đẹp đạp gió rẽ sóng” được đón nhận một cách tích cực ngoài mong đợi với cách tổ chức mới, suy nghĩ mới và thành công mới. Các nhà làm phim tư nhân tham gia vào quá trình sản xuất và quảng bá phim đem đến nguồn thu rất lớn cho đơn vị và nguồn thuế cho nhà nước. Các chương trình quảng bá du lịch, văn hóa, ẩm thực…không chỉ là xem mà còn là sự trải nghiệm, thưởng thức lưu giữ và sau đó truyền lại. Ví dụ kỹ thuật chế biến món các ăn mang dấu ấn Việt Nam đã được đóng gói thành một "Food Tour" có chiều sâu lịch sử, kết hợp với bộ nhận diện thương hiệu chuyên nghiệp, chính là hình thức thương mại hóa di sản thành công nhất (Phở, bún bò, bánh xèo…)Nhờ vậy, các vùng sâu vùng xa khi có công nghiệp văn hóa (quảng cáo, truyền thông, sáng tạo) sẽ giúp nghệ nhân, nhân dân có thu nhập, địa phương phát triển kinh tế du lịch, du khách hiểu sâu về văn hóa bản địa.

5. Những thành tựu về bảo tồn và phát triển văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, Việt Nam chú trọng xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần, động lực phát triển bền vững và sức mạnh nội sinh, chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo, thúc đẩy công nghiệp văn hóa, số hóa di sản, và xây dựng hệ giá trị con người mới trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035 đang được triển khai, tập trung vào việc hiện thực hóa vai trò của văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trong giai đoạn vừa qua, chúng ta đã có những thành tựu rất đáng khích lệ về việc bảo vệ và phát triển về văn hóa Việt Nam.

Bảng 2: Một số điểm nổi bật về thực tiễn bảo vệ và phát triển 

văn hóa Việt Nam trong thời gian qua.

Đặc điểm

nổi bật

Diễn giải những thành tựu của văn hóa

Thể chế và nhận thức

Văn hóa được đặt ngang hàng với kinh tế và chính trị. Tư duy quản lý chuyển từ hành chính - bao cấp sang kiến tạo phát triển, huy động nguồn lực xã hội, và quản trị hiện đại. Công cuộc xã hội hóa các hoạt động liên quan đến văn hóa được đón nhận và phát triển một cách mạnh mẽ.

Phát triển Công nghiệp văn hóa

Văn hóa được nhìn nhận như một ngành kinh tế sáng tạo (điện ảnh, âm nhạc, du lịch văn hóa), tạo ra giá trị gia tăng và quảng bá hình ảnh quốc gia. Các nghệ sĩ Việt Nam đi ra nước ngoài biểu diễn và thi đấu đạt được thành tích cao (Đức Phúc, Phương Mỹ Chi…), các bộ phim nhà nước và tư nhân được làm công phu và thành công trong phòng vé, doanh thu lớn (Một số bộ phim của Trấn Thành, Thu Trang…), các bộ phim của điện ảnh nhà nước: Đừng đốt, Địa Đạo, Mưa đỏ, Đào - Phở và Piano… đã gây được tiếng vang lớn với doanh thu cao tại các phòng vé trong nước và thi đấu quốc tế…

Bảo tồn và số hóa di sản

Đẩy mạnh bảo tồn di sản gắn với du lịch, số hóa tư liệu văn hóa, và chú trọng bảo vệ bản sắc trong kỷ nguyên số. Đặc biệt các hoạt động du lịch di sản, du lịch văn hóa và công nghiệp sáng tạo được đầu tư từ nguồn kinh phí nhà nước và của tư nhân. Đặc biệt sự phát triển của công nghệ số AI buộc văn hóa cũng phải chuyển đổi để phù hợp với tình hình mới.

Xây dựng con người và đời sống văn hóa

Triển khai sâu rộng các phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa", xây dựng văn hóa doanh nghiệp, và định hình chuẩn mực con người Việt Nam mới. Đặc biệt các lối sống đẹp được lan tỏa, phản ánh hơi thở của cuộc sống, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhà nước. Các cuộc cách mạng màu hay cách mạng trắng ở các nước trên thế giới thời gian qua có ảnh hưởng đến một số bộ phận dân cư. Tuy nhiên, nhờ có sự chỉ đạo đúng đắn Đảng, của chính quyền, nhà nước và sự đồng lòng của nhân dân đã giúp Việt Nam không bị ảnh hưởng, trở thành điểm đến quan trọng trong khu vực mặc dù các nước láng giềng và thế giới xảy ra những biến động chính trị vô cùng nặng nề.

Giao luu, quảng bá quốc tế trên mặt trận văn hóa

Triển khai các chiến lược truyền thông, nâng cao sức mạnh mềm của Việt Nam ra thế giới. Từ cấp kiến trúc thượng tầng đến cơ sở hạ tầng đều nhằm một mục đích đưa hình ảnh tốt đẹp của Việt Nam đến với bạn bè trên thế giới.

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

Trong dòng chảy mãnh liệt của kỷ nguyên số và toàn cầu hóa, văn hóa không còn đơn thuần là câu chuyện của những di sản tĩnh lặng, mà đã trở thành một "mặt trận" sống còn quyết định bản sắc và sức mạnh nội sinh của dân tộc. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị ra đời như một lời khẳng định đanh thép: Xây dựng "thế trận văn hóa" chính là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ "hệ gene" của người Việt trước những đợt sóng xâm lăng văn hóa xuyên biên giới đang diễn ra một cách mạnh mẽ cả bề nổi và sóng ngầm.

Tuy nhiên, vẫn còn đó những quan điểm lệch lạc về sự quản lý nhà nước về văn hóa. Đây là một cách nhìn nhận phiến diện, nếu không muốn nói là cố tình đánh tráo khái niệm giữa "quản lý để phát triển đúng hướng" và "kìm hãm sự sáng tạo". Ngược lại, đó là việc tạo ra một "hệ sinh thái sạch", thiết lập hành lang pháp lý minh bạch và bảo hộ quyền tác giả để mỗi cá nhân tự tin cống hiến và không vi phạm pháp luật, hay chúng ta thường nói tự do trong khuôn khổ. "Thế trận văn hóa" giúp Việt Nam có đủ bản lĩnh để xuất khẩu văn hóa ra thế giới (như cách Hàn Quốc hay Nhật Bản hay Trung Quốc, Đài Loan đã làm). Dưới sự chỉ đạo chiến lược của Đảng, nhà nước văn hóa bản địa Việt Nam chắc chắn sẽ bay cao và bay xa, xuyên quốc gia trên các nền tảng số.

Nghị quyết số 80-NQ/TW ra đời đòi hỏi các cấp chính quyền và Nhân dân cùng hợp lực đề vừa xây dựng và chống lại các tư tưởng sai lệch, giúp văn hóa Việt Nam đi đúng hướng trên con đường chúng ta đã chọn. Những giải pháp trước mắt và lâu dài sẽ góp một tiếng nói để đấu tranh làm cho văn hóa Việt Nam ngày càng phát triển theo hướng tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

5.1. Nhóm giải pháp trước mắt

- Lan tỏa những câu chuyện đẹp, tích cực: Trên các nền tảng mạng xã hội như: Instagram, Facebook, TikTok, YouTube… để đưa các câu chuyện, hình ảnh tốt đẹp về văn hóa dân tộc. Ví dụ như trong thời gian qua, tràn ngập không gian mạng là hình ảnh của lễ diễu binh, diễu hành và các hoạt động liên quan của A50, A80 và viết tiếp câu chuyện hòa bình. Hoặc đơn giản, sự tham gia của ca sĩ nổi tiếng Hòa Minzy Bắc Bling - Bắc Ninh đã làm cho các địa danh văn hóa của Bắc Ninh xưa đã nổi tiếng giờ còn nổi tiếng nhiều hơn nữa. Các chương trình văn hóa, du lịch bản địa được giới thiệu nhiều, làm cho người dân càng thêm hiểu biết, yêu đất nước, quê hương và sự đa dạng văn hóa của các tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. 

Thiết lập cơ chế “phản ứng nhanh về tư tưởng”: Các hiện tượng mạng (trend) hiện nay xuất hiện và lan tỏa rất nhanh, chính vì vậy, cần phải có các văn nghệ sĩ được đào tạo, có ảnh hưởng cá nhân (KOLs), các chuyên gia sẵn sàng đối thoại trực tiếp trên không gian mạng về các quan điểm lệch lạc ngay khi nó xuất hiện, để có các quan điểm mới, đúng được cổ xúy, đánh bại các góc nhìn mới chưa đúng.Đồng thời pháp luật cần chặt chẽ hơn (Luật an ninh mạng) để xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tự do sáng tạo nhưng lại bôi nhọ lịch sử, xuyên tạc các chủ trương, chính sách của Đảng nhà nước về các mọi mặt của đời sống.

Tôn vinh, hỗ trợ các nghệ sĩ có công lao to lớn trong việc sáng tạo ra các tác phẩm văn hóa thuần ViệtKhen thưởng, động viên, vinh danh kịp thời, nhanh chóng các tổ chức, cá nhân sáng tạo ra di sản và tạo điều kiện cho văn hóa truyền thống phát triển trong tình hình mới.

5.2. Nhóm giải pháp lâu dài

- Phát triển Công nghiệp văn hóa gắn với thương mại hóa sản phẩm văn hóa: Di sản văn hóa không có tính đại trà, phổ biến, gần như là độc bản hoặc riêng có. Chính vì vậy, cần học hỏi các nước có nền công nghiệp văn hóa phát triển như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ… các kinh nghiệm sẽ được vận dụng theo tình hình văn hóa của nước ta, để làm sao các sản phẩm văn hóa có thể trở thành một sản phẩm văn hóa - kinh tế. Khi mà đất nước với hơn 100 triệu dân, 8.868 lễ hội, với hàng chục di sản văn hóa thế giới, tài nguyên thiên nhiên và văn hóa vô cùng lớn như Việt Nam, chắc chắn chúng ta sẽ làm được nếu có sự đầu tư cho việc phát triển công nghiệp văn hóatrong thời gian tới.

- Đổi mới giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực văn hóa: Các trường đại học, cao đẳng, trung cấp ở trong nước và đào tạo ở nước ngoài cần xây dựng các bài giảng, hoặc mời các chuyên gia về đơn vị nói chuyện nội dung tập trung chủ yếu về Đảng, nhà nước quan tâm đến phát triển văn hóa, các nghị quyết của Đảng được giảng dạy trong các trường, gắn lý thuyết với thực hành, thực tế.

- Hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế quản lý: Pháp luật càng nghiêm thì hiện tượng chảy máu văn hóa càng ít xảy ra, hoặc các hiện tượng xuyên tạc văn hóa, lịch sử và các hoạt động không đúng với định hướng của Đảng như Nghị quyết 80 đã đưa ra sẽ bị xử lý ngay tức khắc. Nhiều hiện tượng không gian mạng hiện nay đang chú ý đến đó là nhiều người nổi tiếng bị xử phạt khi không tìm hiểu và nắm về pháp luật. 

Xây dựng không gia văn hóa số an toàn: Hiện nay, các di sản văn hóa đã và đang được số hóa, càng ngày càng hiện đại để người dân và du khách dễ dàng tiếp cận, có thể tìm đến bằng nhiều hình thức khác nhau. Sử dụng các biện pháp hiện đại để nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng xu hướng thị hiếu của giới trẻ nhằm phản ứng nhanh với thời cuộc.

Mọi giải pháp thực hiện chỉ thực sự hiệu quả khi xây dựng được “thế trận lòng dân”, bởi đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân. Đảng ta đã và đang làm cho người dân hiểu về lòng tự hào, tự tôn dân tộc với thế giới bên ngoài. Sự chỉ đạo chính là giúp cho văn hóa Việt Nam đi đúng hướng theo con đường tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, để mỗi người dân đều là những “nhà văn hóa với tinh thần tốt”.

6. Kết luận

Thấm nhuần quan điểm của Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Nghị quyết số 80-NQ/TW được ban hành đã tạo ra bước đột phá khi chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy "cấp phép - ngăn cấm" sang "kiến tạo - thúc đẩy". Đảng và nhà nước đóng vai trò là kiến trúc sư trưởng, quy hoạch những "đường cao tốc" cho công nghiệp văn hóa phát triển, còn nhân dân chính là những người cầm lái tài ba. Khi nhà nước đầu tư vào hạ tầng văn hóa số, bảo tồn các giá trị di sản và ngăn chặn các nội dung độc hại, đó chính là hành động "trao quyền" cho quần chúng, giúp họ có môi trường an toàn để sáng tạo mà không sợ bị hòa tan hay bị xâm phạm lợi ích. Sự lãnh đạo của Đảng ta đối với văn hóa là sự lãnh đạo mang tính tự giác, nhân văn, nhằm mục tiêu cao nhất là "vì lợi ích quốc gia, dân tộc". "Thế trận văn hóa" không phải là bức tường ngăn cách chúng ta với thế giới, mà là bệ phóng để bản sắc Việt Nam tự tin tỏa sáng trên bản đồ nhân loại. Vì vậy, khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là tạo nền tảng phát triển chứ không can thiệp vào quy trình sáng tạo là một chân lý khách quan. Khi ý Đảng hợp với lòng dân, khi mỗi người dân đều ý thức mình là một "chiến sĩ" trên mặt trận văn hóa, chúng ta sẽ xây dựng được một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc - một sức mạnh mềm đủ sức bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

[1] Nghị quyết TW5 khóa VIII

https://thuvienquandoi.vn/news/nghien-cuu-trao-doi-hoc-tap/20181008092606ddeeed25-8fa3-4188-8104-c62d25014ad9

[2] Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Văn hóa còn là dân tộc còn”

https://hochiminhcity.gov.vn/vi/web/hcm/w/tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-van-hoa-con-la-dan-toc-con-

[3] Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam

https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-quyet-so-80-nq-tw-ve-phat-trien-van-hoa-viet-nam-119260113133313565.htm

[4] Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

https://bvhttdl.gov.vn/xay-dung-va-phat-trien-van-hoa-con-nguoi-viet-nam-dap-ung-yeu-cau-phat-trien-ben-vung-dat-nuoc

[5] Đại hội XIV của Đảng: Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam tiếp tục được khẳng định là một trụ cột quan trọng

https://bvhttdl.gov.vn/dai-hoi-xiv-cua-dang-xay-dung-va-phat-trien-van-hoa-con-nguoi-viet-nam-tiep-tuc-duoc-khang-dinh-la-mot-tru-cot-quan-trong-20260113094146536.htm

[6] Xu hướng quảng bá du lịch nhìn từ MV Bắc Bling của Hòa Minzy

https://laodong.vn/du-lich/tin-tuc/xu-huong-quang-ba-du-lich-nhin-tu-mv-bac-bling-cua-hoa-minzy-1474711.html

[7] Hòa Minzy và cú hích cho du lịch Bắc Ninh qua MV Bắc Bling

https://laodong.vn/du-lich/kham-pha/hoa-minzy-va-cu-hich-cho-du-lich-bac-ninh-qua-mv-bac-bling-1470985.html

[8] Số hóa dữ liệu lễ hội truyền thống

https://bvhttdl.gov.vn/so-hoa-du-lieu-le-hoi-truyen-thong-20231221110113818.htm

[9] Ngày 5-1-1952: Bác căn dặn: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy

https://www.qdnd.vn/tu-lieu-ho-so/ngay-nay-nam-xua/ngay-5-1-1952-bac-can-dan-van-hoa-nghe-thuat-cung-la-mot-mat-tran-anh-chi-em-la-chien-si-tren-mat-tran-ay-682097.