Hơi ấm rừng Chò (4 - Tiếp)

Phạm Việt Long

10/05/2021 08:51

Theo dõi trên

Được đặt ở cuối và chiếm gần một nửa độ dày của “Phong Lan Về Trời” (Phạm Việt Long - NXB Dân trí, 2020), truyện vừa “Hơi Ấm Rừng Chò” chính là “hồn cốt” của cả tập truyện. (Mai Nhung)

phong-lan-ve-troi-1620412379.jpg
 

Bắt đầu theo trạm đi. Giao liên dẫn đường là cô Xuân. Thấy Xuân đi hơi cà nhắc, Giáo nói với Hoài: “Chắc cô giao liên này bị tiêm thuốc ký ninh mà thành tật!”. Giáo còn rì rầm kể về các trận sốt rét ác tính, việc tiêm thuốc ký ninh, tưởng là đơn giản mà rất nguy hiểm. Bởi vì, loại thuốc này phải tiêm vào mông; y tá phải tìm đúng huyệt để tiêm, nếu mũi kim chệch đi một chút, chạm vào dây thần kinh, người bệnh sẽ gặp nguy, nhẹ thì bị tập tễnh chân, như cô Xuân này, nặng thì bị liệt cả chân! Mải nói chuyện, hai người bị tụt lại khá xa. Đang ngơ ngác nhìn quanh, đã nghe tiếng Xuân hú gọi phía trước - cô kiên nhẫn chờ chứ không bỏ khách như cô bữa trước.

Khi đi từ trạm hai lăm xuống trạm hai tư, Hoài và Giáo theo một giao liên nhỏ. Đó là Ba, em mới chừng mười ba, mười bốn tuổi. Khi ngồi đợi giao trực, Hoài được nghe cô giao liên ở trạm hai lăm kể rằng Ba bé xíu thôi và còn ngây thơ lắm. Có lần, dẫn một đoàn khách, thấy khách đi quá chậm, hay nghỉ, Ba khóc lóc, van nài: “Các chú ơi, đi nhanh lên, không quá giờ, trạm trên bỏ trực, con bị phê bình đấy!”. Hoài hình dung Ba yếu đuối lắm. Song không phải vậy, Ba ở trước mặt Hoài đó: vui tươi, nhanh nhẹn. Em dẫn đầu đoàn người, đầu đội mũ Giải phóng, lưng mang bao bột mì đựng công văn, vai còn khoác một cái túi giúp một chị đi sau. Ba chào mọi người bằng nụ cười rất tươi. Gặp lại mấy anh quen, Ba liến thoắng: “Ôi, anh Thoại sao ốm nhom vậy? Anh Lang có nặng, sớt bớt đồ tôi mang cho!”. Và Ba mang bớt một số vải cho Lang. Đi đường, Ba luôn chuyện trò. Đủ thứ chuyện ngộ nghĩnh: “Chui, mấy trứng gà rừng cho ấp nở ra mấy con gà đen thui như Mỹ đen, trông phát phiền!”, “Con Liên mới đi đồng bằng về, dẫn theo mấy đứa chút chun!”...

Sáng hôm sau, Liên dẫn đoàn đi. Liên mới chừng mười sáu tuổi, nước da hơi xanh, yếu và nét mặt có gì đó hơi già dặn, khắc khổ của người phải lo nghĩ quá sớm. Liên bảo đoàn đi trước vì em còn phải đi nhận hàng. Liên dặn: “Các anh ráng đi sớm, đi nhanh qua mấy bãi trống ven sông nghe!”.

Đoạn đường này địch dùng máy bay B52 thả bom cày xới liên tục. Thỉnh thoảng lại gặp vài hố bom - thường là hai hố một chỗ. Nhiều hố bom trúng giữa đường khiến đoàn phải đi vòng, luồn trong cây cối.

Gần trưa, Moranh (Máy bay trinh sát) quần dữ. Đường đi qua rừng non, theo suối nên nhiều chỗ trống trải. Liên luôn nhìn lên bầu trời quan sát máy bay và ra lệnh cho đoàn: “Nó tới đó, đứng im”, “Nó quần đó, rúc sâu vào bụi”, “Đi nhanh!”... Cả đoàn răm rắp làm theo lời Liên như theo lệnh người chỉ huy vậy.

Ăn cơm trưa xong, Liên tạm biệt đoàn của Hoài để dẫn đoàn khách khác quay về trạm trên. Liên nói: “Chào mấy anh nghe!”. Rồi thoăn thoắt bước đi nhưng, có vẻ như cảm thấy lời chào của mình cộc cằn quá, Liên quay lại, nói thêm: “Tôi chào rứa đó!” và bắt tay từng người rồi mới đi tiếp. Những lời nói của Liên có gì hơi cộc cằn đôi chút và có nhiều khi không hợp với một cô gái ở lứa tuổi Liên. Song, Hoài không cho Liên là một con người cộc cằn. Khi Liên nói: “Tôi chào rứa đó!” và cười cười thì Hoài hiểu rằng em đang bối rối trước những câu nói của chính mình. Chắc em cũng muốn nói những câu tế nhị hơn song tìm không ra từ ngữ thích hợp. Ở những nơi ác liệt như thế này, người ta quen nói ngắn, gọn rồi. Khi máy bay địch quần lượn, bắn phá thì giao liên làm sao có thể nói những câu dài dòng, văn vẻ ngoài mấy câu: “Dừng lại!”, “Núp kín nghe!”, “Chạy nhanh!”, “Nằm xuống!”... Nhưng chính trong những câu cộc lốc đó, Hoài lại thấy chứa chất biết bao tình cảm rộng lớn, sâu sắc. Những lời nói xuất phát từ đáy lòng thương yêu anh, che chở, bảo vệ anh đó!

Càng đi xuống gần đồng bằng, tình hình càng căng hơn. Địch càn ở Kỳ Yên đã gần tháng rưỡi rồi. Quân của chúng chà xát khắp nơi: xóm Mới, Nhà thờ, Dương Bông, Bầu Tre... và sáng nay chúng lại đổ quân ở Danh Sơn - nơi đoàn định đi qua.

Tình hình căng thẳng, nhưng nhờ giao liên rất thạo đường, lại có mấy giao liên thuộc tuyến này cùng đi mua hàng, cho nên mọi người đỡ lo lắng. Sang, một thanh niên khoảng hai ba, hai bốn tuổi, có dáng người to, khoẻ, da ngăm đen, là linh hồn của đoàn. Sang thuộc đường và rất xông xáo. Ít nói, nhưng hay nói vui, cởi mở, Sang thu hút được tình cảm của Hoài ngay từ đầu. Tay cầm chắc khẩu AK báng xếp, Sang luôn đi đầu bám đường.

Đi một hồi, phía trước mặt đã là con sông Kỳ Yên. Nơi này là một thung lũng khá phẳng và rộng, cây cỏ thấp, thưa. Đoàn người phải đi tách ra xa nhau vì ở đây dễ gặp địch. Chúng mới rút khỏi nơi đây. Giấy tờ, sách báo lố lăng, lon đồ hộp còn vứt bừa bãi. Cả đoàn vừa thận trọng vừa khẩn trương vượt qua bãi trống đó. Nắng chói chang, bầu trời cao rộng, in hình mấy cái trực thăng phía xa. Mọi người lội ào qua khúc sông cạn, nước tới mắt cá chân. Đạp nước bắn tung toé, ướt cả hai ống quần. Rồi vượt qua một bãi cát lẫn đá sỏi. Lại lội qua sông. Đoạn này nước chảy xiết. Khi Hoài vừa định bước chân trái lên một hòn đá to thì nước cuộn tới cướp phăng chiếc dép. Bỏ vậy mà đi thôi. Đi khỏi bờ sông một quãng, đoàn gặp một số dân. Họ ngồi tản mát trong các bụi cây, quanh đó là một vài thứ đồ đạc dùng hàng ngày. Vừa lúc đó thì có tiếng máy bay trực thăng phành phạch. Mọi người vội tản đi, người rúc vào bụi cây, người chui xuống hầm. Hoài cùng Giáo núp sau một bụi cây, nó được chắn bởi một khúc gỗ khá to. Giáo thì thào, vẻ thông hiểu: “Tiếng động cơ phành phạch thế này, là máy bay sắp tới rồi đó!”. Quả nhiên, từ hướng Nam, một chiếc máy bay trực thăng bé tí xuất hiện, bay dọc sông. Giáo lắng nghe một chút, rồi giải thích cho Hoài: “Tàu rọ đấy. Nó là loại máy bay nhỏ tí, một phần vỏ được làm bằng nhựa trong suốt, khiến ở dưới nhìn lên thấy rõ cả phi công. Chỉ có hai người điều khiển, tàu rọ luồn lách dễ dàng, có thể len cả vào các bụi cây để lùng sục. Khi cần, nó cũng có thể đỗ ngay xuống, bắt sống hoặc hạ sát đối thủ”. Giáo vừa dứt lời thì kêu “Ối!” một tiếng. Anh nhìn thấy có hai người khoác ba lô từ bờ sông bên kia chạy ra bãi cát. “Chết rồi, gọi họ quay lại!” - Hoài cũng nhìn thấy như Giáo, vội kêu lên và định nhỏm dậy. Giáo kéo tay Hoài: “Ngồi im, không thì lộ hết, chết cả bây giờ!”. Hai người khoác ba lô, chắc là bộ đội, vừa chạy tới mép nước của con sông, thì chiếc trực thăng bé tí kia cũng lao tới. Nó bay thấp tới nỗi Hoài nhìn rõ hai thằng phi công ngồi ở buồng lái, trong đó có một thằng ghì chắc khẩu súng được gắn bên thành tàu rọ. Giáo bám vào vai Hoài: “Gay rồi. Hai đồng chí kia...”. Hai anh bộ đội lúc này mới thấy chiếc máy bay, liền quay người, định chạy về phía rừng cây. Không kịp rồi. Một loạt đạn đại liên đã găm chi chít trên bãi cát, găm vào người hai anh. Một anh bật ngửa, nằm im. Một anh ôm chân, ngã lăn quay. Chiếc tàu rọ hạ xuống từ từ. Hoài dán mắt nhìn, lo lắng. Lúc này, du kích, bộ đội và cả đoàn giao liên có Sang, đã di chuyển vào phía trong, chẳng có cây súng nào ở đây mà hạ trực thăng. Hoài tức lắm, nói nhỏ với Giáo: “Có mỗi một chiếc trực thăng con tí. Nó dám hạ xuống, coi thường mình quá!”. Giáo thì thào, giảng giải: “Không chỉ có nó. Còn bọn khác!”. Quả nhiên, sau lời nói của Giáo, có tiếng động cơ máy bay to dần, to dần. Trên bầu trời, xuất hiện hai chiếc máy bay HU1A quần lượn, yểm trợ cho thằng tàu rọ. Chỉ lát sau, chiếc tàu rọ cất cánh bay lên. Trên bãi cát, chỉ còn một xác người nằm bất động. Đồng chí bộ đội kia, chắc là bị thương, đã bị địch bắt đưa về căn cứ của chúng rồi! Sau một hồi im ắng, phía bên kia sông có ba người chạy ra. Họ loay hoay một lúc rồi khiêng xác đồng đội, lội qua sông...

Hoài và Giáo tới đầu thôn Một, xã Kỳ Yên. Ở đây, đồng bào trồng sắn trên luống cao, to, rất đẹp, sạch cỏ. Lác đác có những đám ngô, đậu. Vài rẫy lúa. Có rẫy lúa bị nhiễm chất độc hoá học cháy vàng. Bọn Mỹ hồi này rải chất độc với diện rất nhỏ chứ không tràn lan như trước, nhưng toàn nhằm vào nương rẫy. Lũ giết người này vô cùng thâm hiểm!

Đi loanh quanh một hồi, đoàn gặp rất đông người - phần lớn là cán bộ, bộ đội. Họ ùn lại ở một đám rừng non thưa thớt, đứng ngồi lộn xộn. Họ cho biết còn phải chờ du kích bám đường mới đi được. Đoàn cũng ngồi lại. Mỏi quá, ngồi lê la trên cát, trên cỏ. Thỉnh thoảng, vài chiếc trực thăng lại quần lượn trên đầu, khiến mọi người phải nép vào bụi cây. Có những tiếng pháo, tiếng súng liên thanh, tiếng đạn cối nổ rải rác đó đây. Rồi đi, đúng là lối đi “bám”. Có một số đi trước dò đường. Rồi mọi người theo sau, mỗi người đi cách xa nhau một quãng khá xa. Súng đạn sẵn sàng. Đi chậm rì. Thỉnh thoảng phải dừng lại nghe ngóng, đợi chờ. Thỉnh thoảng vượt qua một quãng đồng trống, phải chạy cho nhanh, đồng thời phải giữ khoảng cách cho thưa nhau. Với cách đi như vậy, đoàn người vượt qua nhiều quãng đồng trống, nhiều khu nhà dân. Nói là khu nhà dân, thực ra chỉ là từng cụm nhà thưa thớt. Nhà, thực ra là những túp lều nhỏ, dựng tạm bợ che mưa nắng cho hầm. Có mấy ngôi nhà bị đốt cháy, tro còn nóng. Hầm cũng bị bọn giặc quẳng lựu đạn công phá cùng lựu đạn lân tinh xuống khiến sập lở hoặc tanh lợm.

Đường Hố Nước, Bầu Tre có địch, mọi người phải vòng qua đường Danh Sơn. Lúc này đi rất nhanh, gần như là chạy. Vượt qua vài khu ruộng. Ở một bờ ruộng, vàng chóe những vỏ đạn súng máy AR15 - chứng tỏ bọn Mỹ đã có mặt ở đây và chắc rằng chúng đã xả đạn không thương tiếc về mục tiêu nào đó. Trời nhập nhoạng tối. Trên trời, vài chiếc máy bay trực thăng vận tải bay nặng nề, in bóng đen sẫm, to xù và nổ máy ầm ĩ. Hoài thấy cổ đặc lại vì khát nước. Đạp qua vài thửa ruộng đầy cỏ, sình bùn. Nhập vào đường Danh Sơn. Con đường này tương đối lớn, chạy qua những khu đồi sim thấp và toàn đá sỏi. Chân Hoài không dép, đạp lên đó đau ê ẩm. Tuy nhiên, phải ráng chịu đau mà đi cho nhanh. Đi như chạy trong bóng tối nhập nhoạng. Đường chỉ hiện ra mờ trắng dưới chân. Thỉnh thoảng lại bước hẫng xuống một hố nhỏ hoặc vấp vào mô đá, điếng người. Hoài chẳng thèm xuýt xoa, cứ cắn răng mà bước tới. Sang đi đầu. Mọi người đi sau, im lặng hoặc chỉ nói chuyện nho nhỏ.

Chợt Hoài nghe tiếng đài văng vẳng ở phía đồi trước mặt - đài Tiếng nói Việt Nam. Như vậy là không có địch. Mọi người mạnh dạn bước tới. Băng qua một khu ruộng nhỏ. Lội qua một con sông - lội mò mẫm, chẳng biết nông sâu ra sao. Lại dò dẫm bước lên bãi cát sỏi. Tiếp đó, qua một con sông nhỏ. Rồi chui vào một thôn xóm. Ở đó im lặng như tờ. Tối như bịt mắt. Người đi trước bỗng sụp xuống một cái hầm. Xì xào lộn xộn một lát rồi lại đi. Hoài cứ bám theo người đi trước mà tiến, chẳng rõ đường xá quanh co ra sao. Rồi bỗng thấy ánh đèn dầu hắt ra từ một ngôi nhà. Hoá ra đó là trạm giao liên. Cả đoàn bước vào. Những người trong nhà đang ăn cơm. Lúc này đã gần tám giờ tối. Nhà thật đơn sơ, không phên vách, không bàn ghế. Dưới nền nó là một căn hầm rộng, có thể cột võng được. Trạm trưởng hướng dẫn Hoài và Giáo lên nhà trên ngủ. Ngôi nhà đó đã bị pháo bắn sập, người ta đã dỡ mái, vách đi và cắm bốn cây lớn vào chỗ bốn cây cột để nguỵ trang. Tuy nhiên, cái hầm vẫn tốt. Trời nóng như nồi rang. Muỗi vo ve, vo ve, ùa vào đốt. Phủ bọc võng vào, nóng vô kể. Mà hất ra thì muỗi đốt, không chịu được. Hoài đành phải đưa võng qua lại. Cánh võng chao nghiêng tạo thành làn gió nhẹ, xua bớt lũ muỗi đi. Rồi Hoài cũng thiếp đi trong cái mệt nhọc. Đêm nay im tiếng pháo.

Sáng dậy, tuy chẳng đi đâu, mọi người cũng phải nấu cơm hai bữa từ sớm. Ăn cơm xong rồi cột bao đựng đồ dùng gọn gàng. Và cứ ngồi đó đợi. Trạm cũng làm như vậy. Những đồ dùng không sát với thân thể lắm như con rựa, thùng nước, v.v... thì quẳng bừa ra bụi bờ, bãi cỏ. Đó là một kiểu nghe ngóng xem địch có càn không, nếu có thì có thể lánh kịp và không để đồ đạc cho địch phá.

Hoài ngồi im lặng, lắng nghe. Có tiếng động cơ xe tăng rú phía xa xa. Đó là đồn địch. Vài chiếc tàu rọ quần lượn cao cao. Vài chiếc tàu vận tải bay qua bay lại. Có những tiếng pháo điểm cầm chừng. Xa xa có những tràng súng liên thanh nổ. Như vậy là buổi sáng yên lành. Ăn cơm trưa rồi có thể đi làm mọi việc cần thiết.

Hoài và Giáo đi Kỳ Long mua ít hàng. Phải chú ý đi nhanh qua những chỗ trống để tàu rọ khỏi thấy, khỏi hạ xuống bắn chết hoặc bắt sống. Tuy vậy, lúc này không có tàu rọ mà trên trời chỉ có một chiếc Moranh hai thân lượn vòng tuốt trên cao và dùng loa cực đại để phát đi lời chiêu hồi - kêu gọi quân “cộng sản” về với “chính nghĩa Quốc gia”. Tiếng nói ve vãn bị át đi một cách thảm hại bởi tiếng ù ù của động cơ máy bay.

Mọi người lao ngang một con đường lớn - nó chạy về phía đồn Chóp Chài. Vết xe hằn rõ trên đường. Vượt qua những bãi trống. Ở đây, cỏ tranh bị địch đốt cháy trụi. Bình yên một cách kỳ lạ. Băng qua một cánh đồng lúa, Hoài, Giáo lọt vào vùng bốn Kỳ Long. Xóm nhà thưa thớt, ít dân. Trẻ con ở đây quần áo màu sặc sỡ. Nhiều người la hét gọi hai người đi nhanh hoặc núp vào bụi vì có địch ở Dương Tranh, cách xóm đó vài phút đi bộ. Từ ngọn đồi đó, địch có thể thấy rõ và bắn trúng hai người. Lúc này, Hoài nghe thấy tiếng mìn nổ ở phía Dương Tranh, đất bụi bay mù mịt. Rồi một quả đạn màu của địch nổ, tung lên trời một cụm khói màu tím. Ngay sau đó, có hai chiếc máy bay HU1A bay tới, lượn quanh quả đồi. Hoài thấy cửa máy bay mở toang. Một chiếc rà sát rồi hạ ngay xuống đám mù tím và cất cánh lên sau đó một lúc. Chiếc kia cũng làm như vậy.

Hoài, Giáo đi tìm hàng để mua. Rất hiếm và rất đắt. Người bán đòi gần 600 đồng (bằng 30 đồng miền Bắc) một bao gạo (nặng 6 kg) - nếu tính ra tiền miền Bắc là 5 đồng một kg, gấp hơn 10 lần gạo ngoài đó! Thị trường tư bản thật kinh khủng.

Lại nghe tiếng mìn nổ, thấy khói mù đỏ và hai máy bay trực thăng xuống, lên. Đồng bào bảo rằng bọn Mỹ mới lên đồi đó, bị vấp mìn của du kích và phải gọi máy bay tới chở những tên chết, những tên bị thương về căn cứ.

Quẩn quanh mua hàng, trời đã tối. Hoài, Giáo nấu cơm ăn - thứ gạo máy trắng muốt mua ở vùng địch chuyển ra. Ngồi giữa sân mà ăn cơm - nhà ở đây bị địch đốt cháy trụi, bà con chỉ dựng mấy túp lều chật chội, tấp mấy tấm tranh vào tạm bợ để dễ vứt ra bụi mỗi khi địch càn đến. Đang ăn cơm, mọi người giật mình vì những tiếng súng nổ loạn xạ. Đạn bay veo véo trên đầu, đỏ lừ. Đó là đạn do địch ở trên xe bắn tới. Tầm đạn đi hơi cao. Lại có tiếng súng nổ từng phát một, chắc chắn, ở phía gần nơi phát ra tiếng nổ đầu tiên - đạn của du kích “bia” (bắn tỉa) Mỹ Nguỵ.

Hoài vào một ngôi nhà nhỏ mua gạo. Trong nhà chật ních người - toàn là cán bộ, miền Bắc có, miền Nam có. Một cô bé chừng mười bốn, mười lăm tuổi đang bán gạo. Cô bé nói rằng chỉ còn một ang thóc thôi. Hoài vội bảo “Mua gạo chứ ai mua thóc làm gì?”. Cô bé giải thích: “Ang thóc tức là nửa ang gạo chứ không phải là thóc chưa giã”.

Khoảng tám, chín giờ tối, Hoài và Giáo ra về. Không thể ở lại đây qua ngày sau, vì xe tăng địch có thể càn lên rất sớm. Dấu vết của nó còn hằn lên đó: chằng chịt trên các thửa ruộng lúa khô nước. Lúa đang thì con gái, bị hạn, xơ xác, bị xe nghiền nát. Sang vẫn cắp AK đi đầu. Giáo lăm lăm súng ngắn đi thứ hai. Hoài đi liền sau Giáo. Trăng lờ mờ. Khi đi qua ruộng, họ không dám đi theo con đường mờ trắng mà phải đi ven nó vì sợ địch ở phía quả đồi gần đó phát hiện. Khi đi khỏi khu ruộng, thấy những bóng đen lố nhố phía trước, Sang ghìm súng, khẽ hỏi: “Ai?”. Có tiếng đáp khẽ: “Chúng tôi!”. Mọi người thở phào nhẹ nhõm. Không phải địch mà là anh em đi về, thấy rợn quá, đang chần chừ ở đó, chờ người cùng đi lên. Lại bám đường đi. Nhiều khi phải nép vào bụi hoặc nằm rạp xuống đường nghe ngóng từng động tĩnh nhỏ. Rồi vượt qua đường xe. Con đường này chạy về đồn Chóp Chài - đi bộ mất chừng 20 phút là tới đồn thôi. Vượt vào dãy đồi bát úp, cây cối lúp xúp và đường lạo xạo đá sỏi. Vấp liên tục và luôn đạp lên những hòn đá sắc cạnh, đau điếng. Khuya mới về tới nhà. Hoài, Giáo lại cột võng trên nóc hầm, trằn trọc trong cái nóng hầm hập, trong tiếng vo ve của muỗi và trong tiếng pháo cầm canh.

Trưa nay, ăn cơm xong, Giáo đi Kỳ Long, còn Hoài ở nhà giữ đồ đạc. Giáo đi một hồi lâu thì Hoài nghe mấy tràng súng máy nổ phía đường cái gần thôn Kỳ Quý. Rõ ràng là tiếng súng địch bắn. Hoài bồn chồn không yên. Giữa lúc ấy, Giáo chạy về, nói gấp: “Phước hy sinh rồi!”. Hoài sững người vì bất ngờ quá. Phước là trạm trưởng trạm giao liên vùng dưới - giáp thị xã, đi chỉnh huấn về. Trưa nay, Phước cùng đi xuống với đoàn của Giáo, Sang. Hồi nãy, Phước mang súng AK đi đầu, tới đường cái thì gặp địch phục kích. Chúng bắn Phước gãy chân. Ngã xuống rồi, Phước còn dùng súng AK bắn lại bọn địch. Chúng ném tới một trái lựu đạn làm nát cả mình mẩy anh. Sang cũng dùng AK bắn lại mấy loạt rồi mới chịu chạy. Cũng còn may, đoàn có tới gần chục người, đi liền nhau, gặp đạn địch bắn loạn xạ mà chỉ một người bị hy sinh.

Tối, Hoài vác cuốc cùng mấy anh em trong trạm hai bốn đi chôn Phước - người ta đã khiêng Phước về để gần nhà ông Phán. Trời tối thui. Trong ánh đèn dầu nhập nhoạng, Hoài thấy xác Phước được cột dọc theo một cây tre, đặt nằm dài dưới bãi cỏ. San - cô giao liên của trạm hai bốn - soi đèn sát mặt Phước rồi thốt lên: “Trời ơi, tội quá anh Phước ơi!”. Hoài không khỏi bùi ngùi xúc động. Mới đó thôi, Phước còn sống vui tươi, khoẻ mạnh. Phước cao và gầy, hàm răng khấp khểnh, miệng rộng, khuôn mặt nhỏ, xương xương. Phước rất hay cười, nụ cười rất tươi và cởi mở, dễ chiếm được tình cảm của mọi người. Sáng nay, Phước còn đứng nói chuyện với anh em. Sang trách Giáo là không xin đôi dép của một nông dân bị chết vì trúng lựu đạn về cho Hoài. Hoài bảo: “Thôi, làm như thế, đồng bào họ nói cho. Nếu như anh em mình thì được, mình sẽ trực tiếp xin anh bạn hy sinh, chắc anh ta cũng thông cảm !”. Lúc ấy Phước đứng gần Hoài, cười cười: “Ừ. anh em mình thì thông cảm thôi, chắc anh bạn đó sẽ đồng ý!”. Vậy mà bây giờ Phước nằm đó, cứng đờ, lạnh ngắt.

Khoảng tám, chín giờ tối, mọi người bắt tay vào đào huyệt cho Phước. Trời mưa bụi lất phất. Ánh đèn dầu hắt lên một vùng sáng nhỏ vàng vàng giữa khoảng trời đất đen thẫm. Hoài cùng mọi người khiêng Phước tới. Hoài đi cuối đòn khiêng, sát với đầu Phước. Mùi máu người tanh vô cùng. Hình Phước cứ chập chờn trước mắt Hoài. Cánh tay trái Phước nắm chặt, hơi giơ lên trong tư thế cầm súng. Cánh tay phải bị mảnh lựu đạn làm gẫy nát, lủng lẳng, lủng lẳng phía dưới, mỗi khi đi qua một bụi cây, vướng phải cây, cỏ, lại đung đưa, đung đưa. Mọi người lót bộ quần áo của Phước dưới huyệt. Xong, Hoài cùng một du kích dòng dây ở đòn khiêng, đưa Phước xuống huyệt. Xác anh đã cứng đờ, lạnh ngắt. Máu đẫm quần áo, đẫm cả tấm dù bọc xác anh. Ngọc cố ấn cánh tay trái của Phước xuống, song không được. Đành để Phước nằm dưới huyệt với cánh tay trái giơ lên trong tư thế cầm súng bắn. Rồi lấp đất, đắp mộ cho anh. Im lặng tiễn Phước đi. Mưa lâm thâm. Lạnh lẽo vô cùng!

Mọi người ra về trong mưa lạnh và trong nỗi buồn thương Phước. Đôi dép cao su của Phước giờ đây đang nâng bước chân Hoài. Một cô giao liên ở trạm hai ba có thân hình mập mạp nói: “Thật tội nghiệp anh Phước, trưa nay còn đi với bọn mình mà giờ đã nằm đó. Nhưng cũng còn may là chôn cất kịp”. Lan (nữ giao liên) bảo: “Anh Phước sống tội lắm, luôn thông cảm với mọi người, luôn tươi cười, vui vẻ.” Hoài đi sau hai cô, nghe họ thì thầm trong hơi gió lạnh:

- Anh Phước vừa được công nhận đảng viên chính thức...

- Ừ, mới cánh đây ba, bốn bữa.

- Mới hai mươi tuổi chứ mấy.

- Công tác tiến bộ lắm.

- Anh ấy tội lắm, chỉ lo cho công tác thôi. Anh ấy bảo đi xa trạm có mấy ngày mà nhớ quá, chỉ muốn bay về trạm mà công tác. Mỗi khi nghe nói có địch, mọi người hỏi thì anh trả lời: “Cứ đi, gặp địch thì đánh, không thể để đứt liên lạc được” và đội mũ, xách súng đi liền.

Địch hoạt động mạnh quá, không thể chờ mua tiếp hàng nữa, vả lại, tiền cũng cạn rồi, Hoài và Giáo phải trở về căn cứ. Ở nhà, mọi người đang chờ, công việc đang chờ. Lại theo giao liên đi lên theo đường Danh Sơn. Lên đến đỉnh đèo, Hoài ngồi nhìn lại miền xuôi. Phía xa, ở ngọn đồi cao nhất, đồn Chóp Chài phơi mình dưới nắng. Một con đường ngoằn ngoèo theo triền dốc trườn lên khu đồi trọc lốc, đỏ lói và xen vào những khu nhà trắng.

***

Hoài và Giáo đã lên khỏi nước Y, cách vùng giáp ranh hai ngày đường. Hai anh em bàn nhau nghỉ một ngày, xả hơi. Hoài nhìn thấy một con suối tuyệt đẹp. Dòng suối có một đoạn trải rộng, bằng phẳng. Hai bên bờ là hai bãi cát mịn màng. Hết đoạn này, dòng suối đổ dốc, nước réo ào ào. Hoài rủ Giáo lấy đó làm bãi nghỉ. Giáo can: “Đừng. Nằm bên bờ suối, nhỡ nước lũ từ thượng nguồn đổ về bất chợt, bị cuốn trôi thì uổng mạng. Đã thế, nhỡ máy bay địch lên, dễ bị phát hiện!”. Tin vào kinh nghiệm của Giáo, Hoài cõng gùi hàng bước theo Giáo. Giáo chọn một đám đất khá phẳng nấp sau một tảng đá lớn, ở dưới tán cây rừng kín đáo để làm chỗ nghỉ. Hai người hạ gùi hàng xuống, đứng thẳng dậy, vặn người qua lại cho bớt mỏi, rồi mở gùi, lấy tăng, võng ra. Chỉ một loáng, hai cái tăng đã được mắc, bốn chiếc cọc phụ để buộc võng đã được làm xong. Mùa này vẫn còn mưa. Những chiếc cọc gỗ được đóng sâu xuống đất, cột vào thân cây để buộc võng, sẽ ngăn được nước mưa không cho chảy vào võng, được lính Trường Sơn gọi là cọc phụ.

Cơm chiều xong, hai người lên võng đung đưa chuyện trò, rồi dần dần đi vào giấc ngủ.

Khi Hoài tỉnh giấc, đã gần trưa. Rừng im ắng lạ thường. Ánh nắng xuyên qua những kẽ lá, tạo thành những đốm vàng vàng trên mặt đất, trông thật vui mắt. Không thấy Giáo đâu, Hoài định gọi thì kia - Giáo đang nhoài người trên tảng đá, vẻ rất thận trọng, chăm chú. Không hiểu chuyện gì đang xảy ra, Hoài nhè nhẹ bước tới tảng đá, nhẹ nhàng leo lên, nghển cổ về phía Giáo đang nhìn.

Tự nhiên Hoài sững người, không thể thốt lên lời. Trước mắt anh, một cảnh tượng lạ lùng, anh chưa từng thấy bao giờ. Dòng suối tràn ngập ánh nắng vàng, nước chảy ào ào, trong leo lẻo. Có hai cô gái khỏa thân ở dưới suối. Có lẽ vừa đằm mình thỏa thích trong nước mát, hai cô bước thong dong trên bờ, phơi thân hình nõn nà giữa thanh thiên bạch nhật. Hoài vội vàng tụt xuống khỏi tảng đá, kéo Giáo tuột xuống theo. Hoài vừa nói: “Tại sao…” thì Giáo đã ngẩng mặt lên trời, bảo: “Im, hình như có tiếng trực thăng!”.

Bây giờ, Giáo không núp, nhìn trộm hai cô gái nữa. Anh đứng thẳng trên tảng đá, huơ huơ tay: “Máy bay! Trốn mau!”. Thấy người đàn ông đột ngột xuất hiện, hai cô gái vội vàng ngồi thụp xuống. Tiếng thét của Giáo bị tiếng suối chảy ào ào át hết. Giáo vươn người lên cao, vừa chỉ lên trời vừa ra hiệu cho các cô trốn mau.

Không kịp rồi! Một chiếc trực thăng HU1A từ hướng Đông bay tới, xả một tràng đại liên. Đạn xé không khí, lao vun vút vào dòng suối, bãi cát. Hai cô gái vùng chạy. Một cô lao về phía để quần áo, vừa quơ tay lên định lấy chiếc quần, thì trúng đạn, ngã gục. Cô gái còn lại cứ mình trần như nhộng chạy thẳng vào rừng. Chiếc trực thăng đảo một vòng, xả thêm một tràng đại liên. Nó bay thấp tới mức Hoài nhìn rõ bọn lính Mỹ ngồi trong máy bay. Đảo một vòng nữa, chiếc HU1A ngóc đầu lên cao, cùng chiếc trực thăng đang bay cảnh giới phía trên lùi lũi tiến về phía Đông, xa dần, xa dần.

Sự việc diễn ra quá nhanh, khiến Hoài và Giáo không kịp phản ứng. Lấy vội tấm vải mưa, Hoài đi về phía cô gái, phủ lên thân thể lõa lồ của cô. Chẳng còn hy vọng gì, bởi đạn đã bắn xuyên qua đầu và làm nát ngực của cô. Giáo vơ đống quần áo của hai cô gái, bỏ vào túi ni lông, túm lại, bảo Hoài: “Phải tìm cô gái kia!”. Hai người chạy theo hướng cô gái chạy lúc nãy. Rừng loòng boong khá thoáng, có nhiều lối đi lại, không hiểu cô gái chạy lối nào. Hoài bụm tay làm loa, gọi: “Cô gì ơi! Cô ơi!”. Giáo cũng hú từng tiếng dài, vang động núi rừng. Nhưng, cô gái đã mất tăm trong khoảng rừng mịt mùng.

Quay lại bãi cát bên suối, Hoài thấy một nhóm người đang túm tụm quanh nơi cô gái nằm. Hỏi ra mới biết, đó là đoàn gùi cõng của Ban Binh vận, đi từ vùng ranh lên. Hai cô gái là thành viên của đoàn. Họ cũng dừng lại nghỉ tại cánh rừng này để xả hơi. Hai cô gái đều quê Thái Bình, rủ nhau ra suối tắm, thì gặp nạn. Trao túi quần áo của hai cô gái cho anh trưởng đoàn, Giáo dặn: “Cô kia có thể chạy theo hướng ngược dốc, lên núi Voi. Các anh cố gắng tìm nhé!”. Quay lại, Giáo nói với Hoài: “Thôi, mình phải rời nơi đây ngay. Nhỡ bọn địch đổ quân!”. Hai người chào anh em trong đoàn Binh vận, không quên nhắc nhở: “Các anh cũng cần rời khỏi đây ngay!”.

 

Bạn đang đọc bài viết "Hơi ấm rừng Chò (4 - Tiếp)" tại chuyên mục Văn hóa - Xã hội. Hotline: 03 6690 8888 | Email: tapchivanhoavaphattrien@gmail.com